Đăng bởi: nghienson | Tháng Tám 6, 2011

GIA PHẢ HỌ NGÔ VIỆT NAM

HỌ NGÔ VIỆT NAM

Ngô Đức Thắng

(1912-1998)


Tưởng niệm Tổ Ngô Vương Quyền

Nhớ Đức Tổ xưa:

Dựng cờ đại nghĩa

Dẹp lũ hung tàn

Tướng sỹ nhân dân

Hết lòng ủng hộ.

Toàn tài văn võ

Một trận Bạch Đằng

Vua tôi Lưu Cung

Hồn bay phách lạc.

Quân Nam Hán tơi bời tan tác

Chấm dứt thời Bắc thuộc ngàn năm

Ý đồ nối nghiệp Dương Vương

Dựng nền tự chủ tự cường nước Nam.

“Nam đế cư sơn hà Nam quốc”

Cờ tự do vằng vặc Loa Thành

Tiếng anh hùng tô đỏ sử xanh

Lòng trung nghĩa lưu truyền huyết thống.

Con cháu ta đời đời thừa hưởng

Nguyện cùng nhau sát cánh đồng lòng

Cho thêm rạng rỡ Tổ tông .

 Mùa xuân năm Canh Ngọ -1990

*****

Lời nói đầu

        Người ta sinh ra ai mà không nghĩ đến công đức sinh thành,cội nguồn tiên tổ. Những chữ “ẩm thuỷ tư nguyên,vấn tổ tầm tông” không phải là mới xuất hiện.Để nhớ phải có ghi chép; bản chép của một nước là quốc sử, của một họ là tộc phả, của một nhà là gia phả, như xưa nay người thường gọi.

Từ bắt đầu có văn tự các cụ tổ nhà ta đã sớm ghi chép lại, lưu truyền đến ngày nay, nhờ thế mà ngày nay chúng ta mới biết rõ cội nguồn hàng ngàn năm về trước.Nhưng đời thì có trị có loạn, trị thì vun đắp thêm vào,loạn thì phá tán.Người thì khi phú quý khi bần hàn,việc ghi chép phả cũng tuỳ theo mà có thời bị gián đoạn.

Tiên tổ họ Ngô chúng ta sớm được học hành, ghi chép phả được sớm,đến nay trên 1200 năm.Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, nhất là từ thời Hậu Lê trở về sau, loạn lạc liên miên, tuy có ghi chép nhiều, mà thất tán cũng không phải ít. Dầu nhiêù lần được sao chép bổ sung nhuận sắc, sao cho khỏi thất thiệt do tam sao thất bản.Việc thiên cư nhiều đợt rộng ra khắp miền đất nước,có những trường hợp phải cải họ đổi tên, càng phát triển nhiều, ở đâu biết đó, trải năm sáu trăm năm cho đến nay, không biết cội nguồn.Nhiều thế hệ cháu con ở khắp mọi nơi bâng khuâng tự hỏi:“Cội nguồn chúng ta từ đâu?”.Việc nhiều họ bói toán, cầu thần cầu thánh tìm hỏi cội nguồn dòng họ xa xưa, là biểu hiện lòng thành của con cháu hướng về tổ tiên, đúng với bốn chữ“vấn tổ tầm tông” đáng trân trọng.

Sau nhiều năm sưu tầm và nghiên cứu biên soạn tộc phả họ Ngô Việt nam,trong những năm 80, qua mấy lần chép tay hoặc đánh máy bản thảo chuyển đến các họ xem và tham gia ý kiến,được các họ góp nhiều ý kiến,cung cấp thêm tư liệu,năm 1990 đã xuất bản tập “Lịch sử họ Ngô Việt Nam tổng hợp”,lưu chuyển rộng rãi từ bắc vào nam.Nhờ đó nhiều người đọc,tìm liên lạc chắp nối thêm nhiều dòng vốn mất liên lạc lâu đời qua nhiều thế kỷ.

Năm 1994 một bản thảo bổ sung lại được in ra nhiều bản đầy đủ hơn trước(tất nhiên còn thiếu sót sai lạc ít nhiều chi tiết).Các họ đã phát hiện góp ý và gần đây nhiều họ liên lạc chắp nối thêm,cung cấp thêm tư liệu chi tiết bổ sung.Tôi tận dụng thời gian sức khỏe còn cho phép,cố gắng sắp xếp ghi chép lại tất cả những gì đã sưu tầm được từ trước đến nay,tuy dài dòng,nhưng với mục đích làm tư liệu cho người sau tham khảo.

Tuy có thêm tư liệu nhưng không đồng bộ,có phần tản mát,thiếu đầu hụt đuôi,việc sắp xếp ghi chép lại cho có hệ thống,theo một thứ tự nhất định phải kéo dài nhiều năm,tôi cũng chưa biết được là có hòan thành được như mong muốn hay không,nhưng cứ cố gắng,được đến đâu hay đến đó.

Trước lúc hạ bút ghi chép lịch sử tổ tiên,việc hình thành và phát triển các dòng họ,tôi thành thực cáo lỗi với bà con là trong việc trình bày trước đây cũng như ngày nay, có những sơ hở thiếu thận trọng,mong được bà con thông cảm và lượng thứ.

Mùa xuân năm Bính Tý -1996

Ngô  Đức Thắng

*****

Thân gửi các cháu gái trai họ Ngô:

 

Ngàn năm lịch sử xoay vần

Nước-Nhà hai chữ gắn liền với nhau,

Sông sâu thì nước mới sâu

Nước lên thuyền mới thuận chiều cùng lên.

Cây „Nhân“ gốc vững lâu bền,

Đức hiền tại „Mẫu“,cùng nguồn cội xa

Trung với  Nước, hiếu với Nhà

Tấm gương đạo lý mở ra soi mình.

Xuân Canh Ngọ 1990

*****

Họ Ngô Việt Nam

Lược thuật khaí quát

                    

Căn cứ vào phả cũ,xưa nhất là bản phả do Hán Quốc công Ngô Lan viết vào giửa thế kỷ 15, đến thế kỷ 18 nhiều nhà trong họ như Hoàng giáp Bách Tính,Giám sinh Phan Hữu Lập (họ Ngô Tống Văn),Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm Trảo Nha,Tiến sĩ Ngô Trần Thực Bách Tính, sưu tầm sao chép lại phả cũ của Hán Quốc công và bổ sung đến Lê trung hưng(chỉ phần họ nhà mình).Sang triều Nguyễn,các ông Ngô Kim Khoan,Ngô Thạch Huỳnh ở Diễn Châu biên soạn phả họ Ngô Trí, Ngô Đình,đều có sao chép phần phả cũ.Tiến sĩ Ngô Thế Vinh họ Bái Dương sưu tầm sao chép nhuận sắc,tìm chắp nối họ Bái Dương.Đến nay phần sưu tầm phả xưa chỉ mới có như thế.Ngoài ra một phần là dựa vào thần phả đền thờ Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa,cùng với các bi ký, Từ đường ký,các bài mimh trên các chuông chùa ,hoặc đối chiếu với quốc sử  v. v…

Được biết là:

Cụ Tổ xưa nhất của họ Ngô được ghi chép lại trên phả lưu truyền đến nay là Ngô Nhật Đại quán Châu Ái (vùng thuộcThanh Hóa ngày nay).Cụ sinh sống với nghề nông,sinh con Ngô Nhật Dụ.Ngô Nhật Dụ nghe tin quan đô hộ Sỹ Vương phổ cập chữ Hán cho người Việt,phấn khởi theo học, thông minh lại cần cù,trở thành Đại nho gia.Người Trung Quốc mời vào làm Liêu tá trong phủ Sỹ Vương (thời thuộc Đường),từ đó ngày càng phồn vượng.

Có một thuyết nói rằng Ngô Nhật Đại vốn là Hào trưởng vùng Cửa Sót (Hà Tĩnh ngày nay),

giúp Mai Thúc Loan khởi nghĩa,sau thất bại lánh ra Châu Ái sinh sống.

Truyền đến Ngô Đình Thực là Hào trưởng,sinh Ngô Đình Mân.Ngô Đình Mân là Đại nho gia du học vào Cửa Sót,rồi ra Cam Lâm quận Đường Lâm,làm Phong Châu Mục thời Tiết Độ sứ Khúc Thừa Hạo.Ông lấy bà Phùng Thị Tịnh Phong cháu nhiều đời thuộc dòng họ Bố cái Đại vương Phùng Hưng. Thần phả có câu””Ông xứ Đông lấy bà xứ Đoài sinh con cái thế anh hùng”.Ông bà có hai con trai Ngô Quyền,Ngô Tịnh.Ngô Tịnh làm Trấn thủ Kỳ Hoa,sinh năm con trai đều thất truyền.

Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (897),mất ngày18 tháng giêng năm Giáp Thìn (944) thọ 47 tuổi,mộ táng tại thôn Cam Lâm  quận Đường Lâm. Ngô Quyền vào Châu Ái làm nha tướng cho Dương Diên Nghệ.Dương Diên Nghệ nhận làm con nuôi, giao cho quản quân,thấy có đức có tài,gả con gái là Dương Thị  Như Ngọc cho làm vợ.Bà sinh Ngô Xương Ngập,Ngô Xương Văn.

Ở làng Yên Nhân huyện Chương Mỹ nơi đền thờ Bà Dương Phương Lan,có bia đá ghi:”Trên đường vào Châu Ái,qua đất Thượng Phúc(nay là Thường Tín) Ngô Quyền gặp người con gái tên Dương Phương Lan,kết làm vợ chồng,cùng nhau  đi vào gặp Dương Diên Nghệ, cả hai được nhận làm con nuôi”.Có tài liệu chép Ngô Quyền còn có hai con trai sinh sau là Nam Hưng,Càn Hưng, chưa rõ con bà nào sinh.

Ngô Quyền ở Châu Ái khoảng mười năm,tháng 7 năm Quý Mùi 923 theo Dương Diên Nghệ ra bắc đánh đuổi Lý Khắc Chính.Tháng 12 năm Tân Mão 931 theo Dương Diên Nghệ đánh đuổi Lý Tiến,giết Trần Bảo,lấy lại Giao Châu,Dương Diên Nghệ tự xưng là Tiết Độ sứ.Sau đó Ngô Quyền lại trở vào quản Châu Ái.Sáu bảy năm sau,tháng 9 năm Mậu Tuất 938, lại ra giết phản thần Kiều Công Tiễn,đánh đuổi quân Nam Hán lên ngôi vua,đóng đô ở Cổ Loa,được 6 năm từ trần,truyền ngôi cho Ngô Xương Ngập,Dương Tam Kha phụ chính.Năm Ất Tị 945 DươngTam Kha dành ngôi của cháu, xưng hiệu Bình Vương.Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách nương nhờ Phạm Lệnh công,Ngô Xương Văn còn nhỏ được nuôi trong cung,Tam Kha nhận làm con nuôi.Càn Hưng, Nam Hưng được ra ngoài ở với mẹ đẻ.

Năm năm sau ,năm Canh Tuất 950 Ngô XươngVăn khôn lớn dành lại ngôi vua,phế Tam Kha làm Trương Dương Công,đón anh về cùng trông coi việc nước,tôn anh làm Thiên Sách Vương,tự mình xưng Nam Tấn Vương.Năm 954 Ngô Xương Ngập từ trần.Năm Ất Sửu 965

Nam Tấn Vương đem quân đi đánh hai họ Đường,Nguyễn ở Thái Bình (thuộc Sơn Tây ngày nay). Quân đến nơi, cắm thuyền, lên bộ đánh nhau. Nam Tấn vương bị trúng tên nỏ mai phục bắn chết, trị vì được 15 năm.

Theo Sử ký của Ngô Thì Sĩ, khi bấy giờ có người quận Thao Giang là Chu Thái quật cường

không thần phục. Nam Tấn vương thân đi đánh, chém được Chu Thái. Do trận thắng ấy, Nam Tấn vương sinh kiêu, nên mới mắc nạn về việc đi đánh hai thôn này.

Nhà Ngô mất. Ngô vương Quyền khởi lên năm Kỷ Hợi, mất năm Giáp Thìn, được 6 năm (939-944); Nam Tấn Xương Văn từ năm Tân Hợi đến năm Ất Sửu, được 15 năm (951-965). Cộng tất cả là 21 năm

Nhà Ngô thất thế,con cháu lui về ba hướng :

Ngô Xương Xý con Ngô Xương Ngập lui về Bình Kiều(nay là huyện Triệu Sơn tỉnh

Thanh Hóa);

Ngô Nhật Khánh con Ngô Xương Văn lui về Đường Lâm (nay thuộc Sơn Tây),

Ngô Nhật Chung về Đổ Động (Đại Điền chủ).

Các nhà sử học xưa gọi triều đại Ngô Quyền là Tiền Ngô Vương,triều đại Thiên Sách Vương ,Nam Tấn Vương là Hậu Ngô Vương.Ngô Xương Xý,Ngô Nhật Khánh là hai trong 12 Sứ quân. Đó là đợt phân chi đầu  của dòng họ Ngô.

Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập,bà là Phạm Thị  Uy Duyên con gái Phạm Tướng công người Nam Sách,sinh Ngô Xương Xý, Ngô Xương Tỷ.

Ngô Xương Tỷ trụ trì chùa Phật Đà làng Cát Lợi quận Thường Lạc,đạo hiệu Ngô Chân Lưu.Năm Tân Mùi 971 niên hiệu Thái Bình  năm thứ 2 ,Đinh Tiên Hoàng ban hiệu Khuông Việt Thái sư,tham dự triều chính.Thời Tiền Lê  Ngô Chân Lưu giúp Lê Đại Hành đánh Tống có nhiều công.

Sau ngày Ngô Xương Xý thất bại ở Bình Kiều,con trưởng là Ngô Xương Sắc lưu lạc ở vùng trung thượng du Thanh Hóa sinh Ngô Tử Canh, Ngô Tử Án.

Ngô Tử Canh là Đại thần nhà Tiền Lê đi sứ Chiêm Thành ,về sau thất truyền.Nối đến Ngô Tử Uy ,Ngô Tử Vĩnh trở về sau ngày càng cùng quẫn, đến Ngô Rô đời thứ 16,về ở Đồng Phang coi chùa Thiên Phúc của làng Thung,vào thời cuối nhà Trần.

Trải qua triều Hồ,rồi thuộc Minh,mấy mươi năm sang nhà Hậu Lê, con cháu phát triển một cách kỳ lạ,cho nên được giải thích bằng nhiều truyền thuyết như Cốc thần,Tào Tinh Quân giáng thế,mộng Hoàng Long,mộng Kim Đồng,Bờ Đó Xó Chùa được mộ Thiên táng, tổ tiên tu nhân tích đức được trời báo v. v…

Con thứ Ngô Xương Xý là Ngô Ich Vệ,đổi tên An Ngữ chạy vào Châu Hoan dạy học.

Không lâu sau Lý Công Uẩn thay nhà Tiền Lê lên làm vua,ông ra phò  nhà Lý,làm một chức võ quan nhỏ (Sùng Ban Lang tướng). Năm 1010 vua Lý thiên đô ra Thăng Long,ông theo ra ở phường Khán Sơn ,Thái Hòa (nay là làng Ngọc Hà quận Ba Đình Hà Nội).Bà họ Hàn sinh Ngô Tuấn, Ngô Chương tức Lý Thường Kiệt, Lý Thường Hiến.

Ngô Tuấn có hai bà vợ, họ Tạ và họ Lý,nhưng  năm 23 tuổi theo yêu cầu của Vua Lý Thái Tông,tự yểm vào phụng thị  trong cung,nên không có con trai nối dõi,dòng dõi đến ngày nay là con cháu Ngô Chương.

Ngô Tuấn được Lý Nhân Tông nhận làm Hoàng tử nghĩa đệ,chức đến Thái Úy đứng đầu trăm quan,là Anh hùng dân tộc qua các sự nghiệp ngự Tống bình Chiêm,hưởng thọ 87 tuổi.Ngô Chương cũng là Đại thần trụ cột triều đình nhà Lý,tham gia ngự Tống bình Chiêm,trấn thủ Châu Hoan,Lạng Sơn được phong Trung dũng Hầu.Con cháu nổi hẳn lên dưới triều nhà Lý,đều là công thần.

Nhà Trần thay nhà Lý, họ Ngô chịu chung số phận với họ Lý,sa cơ  lỡ vận ,tuy nhiên vẫn giữ được nếp nhà ở chùa dạy học.Cuối đời Trần, Ngô Bệ khởi nghĩa ở Yên Phụ chống triều đình (1344-1360).Ba anh em Minh Đức,Minh Hiếu,Minh Nghĩa (thân sinh Ngô Bệ) cùng những người sống sót thay họ đổi tên lánh nạn. Sau khi khởi nghĩa thất bại,Ngô Bệ bị tội tru di,từ đó quan hệ gia tộc bị gián đoạn trải mấy trăm năm cho đến ngày nay.Tương truỵền Bà Nồm đem con về Giao Thủy khai chồng họ Phạm;có người ở Đổ Động chạy về Ngọc Than đổi sang họ Đổ;người vào huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị,sau nhiều năm có người trở về Bắc Biên, Ngọc Hà…Mãi đến cuối thế kỷ 20 này mới liên lạc tìm ra cội nguồn.

Với chủ trương nhổ cỏ phải nhổ hết rễ của Trần Thủ Độ và bản án tru di tam tộc của

vua nhà Trần đối với Ngô Bệ,trước sau hai lần gặp tai hoạ diệt vong,tuy phả ký bị gián đoạn,nhưng nhờ nguồn sâu gốc vững,con cháu vẫn quật cường vươn lên xây dựng dòng họ trở lại ngày càng phồn thịnh.

Ngô Nhật Khánh, Sứ quân Đường Lâm, bị Đinh Bộ Lĩnh bức hàng,gả con gái  trở thành Phò mã,chiếm bà mẹ lập làm Hoàng hậu,lại kén con gái bà làm con dâu (vợ Đinh Liễn).

Sau ngày Thái hậu Dương Văn Nga khoác Long cổn nhường ngôi cho Lê Hoàn,trở thành Hoàng hậu của Vua Lê Đại Hành,Ngô Nhật Khánh không phục,chạy vào Nam dụ vua Chiêm Thành ra đánh úp Hoa Lư (979).Quân Chiêm theo đường biển dự định đổ bộ lên cửa Đại An và cửa Tiểu Khang.Chiến thuyền chưa đến nơi thì gặp trận bão biển lớn,thuyền đắm người chết nhiều,phải lui quân,Ngô Nhật Khánh chết đuối,vua Chiêm Thành thoát chết về nước.Phất Kim Công chúa (vợ Ngô Nhật Khánh ,con gái  Đinh Tiên Hoàng) uất hận vì việc làm của chồng,nhảy xuống giếng tự tử.

Ngô Nhật Chung ở Đổ Động sinh Ngô Nhật Minh, nổi dậy chống Lê Hoàn, bị Lê Hoàn đem quân từ Hoa Lư ra đàn áp,tan rã mỗi người một nơi nên thất truyền.Ngày sau ở vùng Tột Động,Chúc Động có mấy dòng họ Ngô cư trú đến nay,không rõ dòng nào.

Trở lại dòng Ngô Xương Sắc,sau nhiều đời sa sút cùng cực,đến đời con trai Ngô Rô là Ngô Tây tiếp tục ở coi chùa Thiên Phúc,bà họ Nguyễn người Vĩnh Lộc sinh Ngô Quỳnh,vì nghèo tha phương cầu thực thất truyền (có thể nay là họ Ngô ở Minh Lãng huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình).Bà thứ hai Trịnh Thị  Kim người cùng làng Đồng Phang sinh Ngô Kinh.

Cha mẹ từ trần khi còn ít tuổi,Ngô Kinh nghèo khó bơ vơ,cơm không đủ ăn,có người trong làng mách bảo,bèn tìm đến hương Lam Sơn xin làm gia nô cho ông bà Lê Khoáng, thân sinh Lê Lợi,cần cù hoạt bát  thật thà,nên được tin dùng,lấy bà Lê Thị  Mười sinh bốn trai một gái: Ngô Từ,Ngô Đức, Ngô Khiêm,Ngô Đam,Ngô Thị  Ngọc San.Phả cũ viết:”Qua việc ngưu canh mà long vân gặp hội”.

Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,cha con ông cháu đều tham gia lập nhiều công đầu,đều là Khai quốc Công thần.Ngọc San lấy chồng Quận công. Ngô Từ sinh 11 con trai đều là Công thần, chức cao quyền trọng,8 con gái đều lấy chồng hào hoa,Ngô Thị  Ngọc Dao lấy Lê Thái Tông sinh ra Lê Thánh Tông, một vị minh quân.

Nói chung con cháu dòng dõi Ngô Kinh đều làm quan làm tướng nhà Lê,có nhiều công lao đóng góp vào việc giữ nước, đánh đuổi ngoại xâm,xây dựng nền văn hoá,góp phần làm cho nước nhà một thời thái bình thịnh trị.

Nhưng bước phát triển không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió,nạn nước kéo theo nạn nhà,bao nhiêu bước ngoặt đã liên tiếp xẩy ra.Trong cung thì các ông Hoàng bà Chúa tranh dành ngôi báu,ngoài triều thì quyền thần đố kỵ lẫn nhau,gian thần lợi dụng thời cơ hãm hại người trung lương,dẫn đến cướp ngôi lật đổ,trung thần hàm oan,gia đình ly tán.Các vụ án Huệ Phi,Lệ Chi Viên,Nguyẽn Trãi bị tru di,mẹ con Ngô Thị  Ngọc Dao phải chạy lánh nạn,đến vụ Nghi Dân giết Vua và Thái hậu dành ngôi đã xẩy ra.Những người họ Ngô chịu ảnh hưởng lớn,nhiều nhà phải cho con đi lánh nạn phương xa,chính cuộc lánh nạn trở thành cuộc thiên cư của nhiều dòng họ.

Mỗi người đi lánh nạn thành Thủy Tổ họ Ngô ở một phương,bốn năm trăm năm mất liên lạc về cội nguồn,mãi cho đến gần đây mới liên lạc chắp nối được.Như Ngô Hải Sơn về Tam Sơn,Ngô Nguyên về Vọng Nguyệt,Ngô Phúc Cơ về Tả Thanh Oai,Ngô Tiến Đức về Lâm Thao,Ngô Công Tín về Bách Tính,Ngô Ngữ về Địch Lễ,Ngô Nước về Trảo Nha.

Ngô Khế có 11 con trai,6 người sinh trước đi lánh nạn,5 người sau là Ngô Khắc Cung, Ngô Văn Bính, Ngô Thế Bang làm tướng nhà Lê ,khi họ Mạc cướp ngôi,rút quân bản bộ về Thanh Hóa cùng anh em chú bác trong họ mưu việc phù Lê;Ngô Hữu Phái theo giúp Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa,đóng quân ở Ái Tử thành Thủy Tổ họ An Mô;Ngô Ngọc Phác cải họ Hoa lánh về La Phù Từ Liêm.Một số khác hoặc theo tự điền,hoặc theo về quê mẹ,cũng có người đi đánh Chiêm Thành, ở lại trấn nhậm đạo Quảng Nam,khai hoang lập ấp từ thủa Lê sơ.

Trong khoảng thời gian trăm năm từ một vài gia đình phát triển đến gần ngàn người,từ bần hàn cùng cực trở thành một đại tộc có nhiều tướng thần trụ cột triều đình,có thể nói đó là thời kỳ nối tiếp phát triển thần kỳ,phục hồi khí thế oanh liệt của tiên tổ xưa,sau thời gian vừa một giáp vận hội 600 năm.

Sang thời kỳ sau khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê,phía theo Mạc và phía phù Lê phân chia ranh giới, mấy chục năm tranh chấp vũ trang, người họ Ngô kẻ theo nhà Mạc(chủ yếu các họ cư trú trên đất do Mạc kiểm soát),số lớn tham gia công cuộc phù Lê (theo Nguyẽn Kim rồi Trịnh Kiểm )phân hoá dần  giúp  Mạc,Trịnh,Nguyễn sau đến Nguyễn Tây Sơn.Dần dần sinh con đẻ cháu thành người địa phương các miền trung nam bắc,tuy cùng dòng họ,do bối cảnh lịch sử địa lý,cùng họ hàng anh em,mà đứng hai ba bên trận tuyến,coi nhau là thù địch,không đội trời chung.Có điều dầu ở phía nào,họ Ngô cũng có tướng tài  quan cao.

Tình hình đó đã làm cho quan hệ gia tộc càng gián đoạn,ngày càng xa nhau.

Nhìn chung lại ,quá trình phát triển thiên cư cải tính,từ thế kỷ thứ 8 thuộc Đường đến thế kỷ thứ 10 Ngô Vương dựng nền độc lập,từ Châu Ái qua Đường Lâm, Cổ Loa,tiếp theo phát triển khi thăng khi trầm theo biến thiên của lịch sử,trải qua Lý,Trần đến Hồ,họ Ngô  hình thành ba cụm:

Cụm lưu vực sông Nhị Hà mà trung tâm là Thăng Long thuộc dòng Ngô An Ngữ,vì biến cố thời cuối Trần cụm này phân thành ba cụm nhỏ:Gia Lâm, Nam Sách và Bạch Hạc.

Cụm lưu vực sông Mã, sông Lương (tức sông Chu) mà trung tâm là Yên Định, Thiệu Yên,theo dòng lịch sử 300 năm triều Lê ,toả ra khắp miền nam bắc,là thuộc dòng Ngô Xương Sắc (dòng trưởng Ngô Quyền).

Cụm Sơn Nam thượng từ Tuỵ Động,Tột Động,Chúc Động,Đổ Động qua Bất Bạt, Sơn Tây,cư trú phân tán,hoặc để họ Ngô hoặc đổi Nguyễn,đổi Đổ,một vài họ thuộc dòng Minh Đức,còn có thể thuộc dòng Ngô Xương Văn ,Ngô Nhật Khánh, Ngô Nhật Chung.

Về sau Chúa Nguyễn ở Đàng trong lấn dần vào phía nam đến Cà Mâu, Hà Tiên,Chúa Trịnh cũng lấn dần vào đất Chúa Nguyễn,theo đà Nam tiến đó,hoặc cầm quân trấn nhậm,

hoặc sa cơ,bước thiên cư phát triển nhanh chóng  đến tận cùng đất nước,ngày nay có hàng trăm chi họ Ngô  trong đó,mà chúng ta mới liên lạc được một phần nhỏ.

Sang thế kỷ 19 (triều nhà Nguyễn),cũng có nhiều thiên cư lẻ tẻ nhưng đến nay mới 5,7 đời,chưa thành dòng họ lớn.Ngày nay,sau một thời gian sưu tầm liên lạc,chúng ta mới gặp và biết được gần ba trăm chi họ thuộc dòng dõi Ngô Vương Quyền cư trú  trong khắp mọi miền đất nước,trong đó có trên 10 họ cải sang Phan,Phạm,Nguyễn,Đỗ,Hoa,Văn,Hoàng,Lê và cũng biết được một số không nhiều họ Ngô thuộc dòng khác,hoặc họ khác cải Ngô,hoặc gốc từ Quảng Đông, Phúc Kiến bên Trung Quốc như họ ở Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa,ở Huế (phường Minh Hương),ở Hội An v.v…(có bảng liệt kê ở sau ).Mỗi nơi đều đang cố gắng tìm liên lạc thêm,làm thế nào để cho tất cả hậu duệ của tiền liệt,cùng một huyết thống được xum vầy,phát huy truyền thống anh hùng,vì nước vì nòi,góp phần đưa đất nước Việt Nam vươn lên ngang hàng các nước  tiền tiến trên thế giới.

 PHÁT TÍCH ÁI CHÂU-NGÔ VƯƠNG DỰNG NƯỚC

 Phát tích Ái châu

Phả cũ chép :” Tiên tổ Ngô nhật Đại quán Ái châu, dĩ nông nghiệp khởi, sinh Ngô nhật Dụ”.Phả xưa ghi chép cụ Ngô nhật Đại là người đầu tiên, như vậy xa xưa hơn về trước chưa có phả.

Ngô nhật Dụ hiếu học, vừa lúc quan đô hộ phương bắc truyền bá chữ Hán vào đất Việt,Ngô nhật Dụ theo học trở thành thông nho,người Trung quốc mời vào làm Liêu tá trong phủ  đô hộ.Từ đó này càng phồn thịnh.

Truyền nối đến Ngô đình Thực là Hào trưởng (thời đó Hào trưởng là người giàu có, có uy thế trong vùng).Ngô đình Thực sinh Ngô đình Mân.

Ngô đình Mân theo nho học,thành đại nho gia, du học vào cửa Sót,khi đã cao tuổi lên Đường lâm, lấy bà Phùng thị Tịnh Phong,con Phùng Hải, cháu Phùng Hưng (Bố cái đại vương),ông bà sinh hai con trai Ngô Quyền và Ngô Tịnh.

Ngô đình Mân làm  Phong châu Mục thời Khúc thừa Hạo làm Tiết độ Sứ.

Về sau Ngô Quyền vào châu Ái làm nha tướng cho Dương diên Nghệ,Ngô Tịnh  làm Trấn thủ Kỳ hoa,sinh năm con trai đều là Châu mục,Hào trưởng, Tăng thống,nhưng đều thất truyền.

Tất cả các dòng họ Ngô ở Việt nam đã liên lạc được cho đến nay đều là dòng dõi Ngô Quyền.

Ngô Quyền sinh ở Đường lâm ngày 12 tháng 3 năm đinh tỵ (897),mất tại Cổ loa ngày 18 tháng giêng năm giáp thìn (944),thọ 47 tuổi,mộ táng ở thôn Cam lâm quận Đường lâm nay là xã Đường lâm thuộc thị xã Sơn tây .Tiên lăng hậu miếu,là khu Di tích lịch sử văn hoá.

Ngô Quyền có dáng người như cọp,tiếng nói như sấm,mắt sáng như chớp,khi sinh ra sau lưng có ba nốt ruồi,có người thầy tướng tiên đoán:”Người này ngày sau ắt làm vua trị vì thiên hạ”. Lớn lên có sức khoẻ cử đỉnh,văn võ song toàn.Vào độ tuổi 20,cha mẹ đã từ trần,Ngô Quyền vào châu Ái xin làm nha tướng cho Dương diên Nghệ.Thấy người có tài có đức,Dương diên Nghệ gả con gái Dương thị Như Ngọc cho làm vợ.Dương thị Như Ngọc sinh Ngô xương Ngập,Ngô xương Văn.

Làng Yên nhân huyện Chương mỹ có ngôi đền thờ bà Dương Phương Lan có bia đá  ghi:“Trên đường đi vào châu Ái,qua đất Thượng phúc,gặp người con gái Dương Phương Lan,cùng Ngô Quyền kết thành vợ chồng cùng nhau vào châu Ái,Dương diên Nghệ nhận cả hai làm con nuôi”.Sau ngày lên ngôi vua, Ngô Vương còn có thêm hai con trai Càn Hưng và Nam Hưng,chưa rõ bà nào sinh,cả hai đều thất truyền.

2.Ngô Vương dựng nước

Nước Lạc Việt xưa gồm 15 tộc Việt sống bằng nghề nông ở phía nam sông Trường giang,là một bộ phận của các tộc Việt mà các nhà sử học Trung quốc xưa gọi là Bách Việt. Từ một nước Văn Lang,lúc bấy giờ chưa có địa giới rõ rệt,trung tâm là Bạch hạc của 18 triều đại Hùng Vương kéo dài gần 3000 năm,cho đến đời cuối cùng thuộc triều đại Hùng Vương thứ 18,vì vua mải ham chơi,sao nhãng việc nước,để mất nước vào tay Thục Phán,một người dòng dõi của vua Thục ở Tứ xuyên bên Trung quốc.

Thục Phán làm vua xưng An Dương Vương,dựa vào có Loa thành kiên cố,ỷ vào võ bị, mất cảnh giác bị Triệu Đà thôn tính,sát nhập đất Âu lạc của An Dương Vương vào  nước Nam Việt của Triệu Đà. Nhà Triệu thống trị được 70 năm, bị tướng nhà Hán Lộ bác Đức đánh diệt.Từ thuộc Triệu đất nước ta chuyển sang thuộc Hán (năm 41 trước công nguyên).Từ đó về sau hết Hán đến Tần,qua đời Lục triều, nhà Tuỳ,nhà Đường, đến đời Ngũ Quý đều bị chia thành quận huyện để cai trị,ngót một ngàn năm coi như đất Trung quốc.

Trong khoảng thời gian dài đó nhiều người nổi lên xưng hùng,chống đánh quân  quan cai trị, nhưng không ai được lâu,đất nước vẫn bị nội thuộc các triều đại Trung quốc.

Năm 618 vua Đường thay nhà Tuỳ xây dựng chế độ quân chủ thống nhất ở Trung quốc,ở thuộc quốc đặt chế độ Đô hộ phủ .Giao châu được đổi thành An nam Đô hộ phủ, được cai trị bằng võ lực,có lúc đổi gọi Trấn nam,áp dụng chế độ quân quản.Chia cả nước thành 12 châu (trong đó có 5 châu là đất Lưỡng Quảng ngày nay).Cả 12 châu chia thành 52 huyện,vùng thượng du người thiểu số đặt châu Kỵ mỵ (Ràng buộc),người đứng đầu được thế tập (cha truyền con nối).Châu có Thứ sử,huyện có Huyện lệnh, chia thành hương hoặc xã để cai trị.

Cùng trong quá trình bắc thuộc, người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của những chuyển biến lớn bên Trung quốc, địa chủ Việt hình thành,đại địa chủ Trung quốc phát triển trên đất Việt,Tù trưởng vùng thượng trở thành chúa đất.Đa số dân bị bần cùng hoá,nông nô gia nô, nô tỳ ngày càng đông,Hào trưởng có nhà có hàng ngàn gia nô.Phật giáo thịnh hành,chùa chiền tự viện được ưu đãi,con cháu phú hào vào ở chùa ngày càng nhiều,càng có thế lực.Chế độ khoa cử được áp dụng,con nhà giàu được học hành thi cử,uy thế được nâng cao, ý thức làm chủ đất nước càng mãnh liệt.

Cuối thế kỷ thứ 9,bên Trung quốc Hoàng Sào nổi dậy kéo dài 10 năm (875-885), vua nhà Đường phải chạy vào Tứ xuyên.Khúc thừa Hạo, một Hào trưởng ở Hồng châu,nhân thời cơ nổi dậy đánh đuổi quan quân đô hộ, tự lập làm Tiết độ sứ,sai sứ sang truyền báo, vua nhà Đường phải chấp nhận.Một năm sau nhà Đường mất,Chu Ôn lập nhà Hậu Lương.Trải hơn 50 năm, Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu thay nhau làm vua Trung quốc,xung quanh đất đai bị chia cắt,10 nước chia nhau cát cứ (Sử Trung quốc gọi là thời Ngũ đại và Thập quốc 892-972).Các tập đoàn phong kiến Trung quốc bận đối phó trong nước, đất nước ta tạm thời yên ổn.

Năm 907 Khúc thừa Dụ chết,Khúc thừa Hạo lên thay làm Tiết độ sứ ra sức sửa sang chế độ, lo việc tự cường, thực hiện nhiều cải cách lớn.Những việc làm đó đã tạo điều kiện cho Ngô Quyền sau này.

Khúc thừa Hạo chết,Khúc thừa Mỹ kế vị,lúc bấy giờ đang quan hệ bang giao với nước Nam Hán,một nước cát cứ ở nam Trung quốc giáp giới với nước ta.Muốn lợi dụng mâu thuẫn giữa Hậu Lương và Nam Hán để giữ vững đất nước,Khúc thừa Mỹ sai sứ giao hiếu với nhà Hậu Lương,vua Nam Hán tức giận, sai tướng Lý khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc thừa Mỹ đem về Quảng châu,cử Lý Tiến sang làm Thứ sử cùng Lý khắc Chính chiếm đóng đặt lại ách đô hộ.

Dương diên Nghệ nha tướng của Khúc thừa Hạo ở châu Ái, muốn kế tục sự nghiệp của họ Khúc, ra sức chiêu mộ binh sỹ, giả danh “hội vật” che mắt quan đô hộ, vài năm tuyển chọn được 3000 quân quyết tử,sai Ngô Quyền làm tiên phong,kéo quân ra đánh Lý Tiến.Lý Tiến cấp báo về Quảng châu xin quân cứu viện.Viện binh chưa kịp đến,Lý khắc Chính bị giết,Lý Tiến chạy thoát về Quảng châu.Viện binh Nam Hán đến,định bao vây phủ thành,Ngô Quyền đem quân ra ngoài tập kích, giết được chủ tướng viện binh Trần Bảo,quân Nam Hán tổn thất nặng nề phải rút về nước.

Năm 931 Dương diên Nghệ tự lập làm Tiết độ sứ,sai Ngô Quyền vào trấn thủ châu Ái.Được 7 năm,Dương diên Nghệ bị nha tướng là Kiều công Tiện đầu độc cướp quyền.Để giữ vững địa vị bất chinh khỏi bị lung lay,Công Tiện quy hàng Nam Hán.Ở Ái châu được tin Kiều công Tiện đầu hàng Nam Hán, Ngô Quyền thấy rất nguy hại cho  sự nghiệp giải phóng dân tộc mà bao năm họ Khúc họ Dương mưu đồ,muốn cất quân ra hỏi tội,đang phân vân tính kế.Bà Dương thị Như Ngọc khuyên:”Loạn thần Kiều công Tiện phản nghịch, dấy binh hỏi tội là việc cấp thiết, còn gì phải đắn đo”.Ngô Quyền nói,việc đó dĩ nhiên,chỉ hiềm quân Nam Hán đang mạnh,lực lượng của ta còn qúa mỏng,phải trù liệu kỹ càng.Bà nói:“Phản tặc dâng nước cho Nam Hán, nhân dân sẽ điêu đứng,ta dựng cờ đại nghĩa dẹp lũ hung tàn đưa muôn dân thoát khỏi  vòng lầm than khổ ải,mọi người sẽ hưởng ứng,tướng sỹ sẽ về theo,lo gì lực lượng mỏng”.

Bảy năm trấn thủ châu Ái, Ngô quyền được lòng dân,mọi người cảm mến.Hành động phản nghịch của Kiều công Tiện gây căm thù sâu sắc trong mọi từng lớp nhân dân, lòng người hướng về Ngô Quyền,Công Tiện bị cô lập, ngay em Công Tiện là Kiều công Hãn cũng theo Ngô Quyền.

Ngô Quyền quyết định phải trừ nội phản trước khi ngoại xâm chưa vào kịp,chuẩn bị cấp tốc nhưng cũng mất hơn một năm.Mùa thu năm 938 đoàn quân từ châu Ái tiến ra diệt Kiều công Tiện,chuẩn bị đối phó với quân Nam Hán.

Lúc bấy giờ vua Nam Hán Lưu Nham nhân cơ hội Công Tiện cầu viện,mưu đem đại binh sang đánh chiếm luôn Giao châu,đặt lại ách thống trị,tự mình thân chinh cầm quân,nhiều đại thần can ngăn không nghe,sai con Hoằng Tháo dẫn gần ngàn chiến thuyền vượt biển sang trước làm đạo tiên phong,tự mình dẫn đại đội binh mã đến đóng ở biên giới làm hậu thuẩn.Lưu Nham chắc mẫm lần này sẽ chiếm nhanh gọn Giao châu, phong trước cho Thái tử Hoằng Tháo làm Giao Vương.

Cuối mùa thu năm ấy,Ngô Quyền bố trí lực lượng chặn đánh quân Nam Hán,quyết tâm đánh tiêu diệt lực lượng tinh nhuệ của địch, đập tan ý chí xâm lược của người phương bắc,bèn bố phòng chặt chẽ các ngả quân Nam Hán có thể xâm nhập.Được tin Hoằng Tháo tiến theo đường biển,Ngô Quyền nhận định:Hoằng Tháo là tướng kiêu dũng,quân đông,chiến thuyền lớn,nhưng là tướng trẻ tuổi mới cầm quân,chưa có kinh nghiệm.Lưu Nham tuy lão luyện,nhưng chưa dám đi xa đất nước trong khi cơ sở trong nước chưa vững.Có thể đánh một trận tiêu diệt lực lượng tinh nhuệ đập tan ý chí xâm lược của Lưu Nham.Thuỷ quân Nam Hán tất phải vào sông Bạch đằng,bèn chọn đoạn sông từ Lục đầu giang đổ về, chảy ra cửa Nam triệu, phía nam là huyện Hải yến tỉnh Kiến an,phía bắc là huyện Yên hưng tỉnh Quảng yên,hai bên sông núi cao dựng đứng cây cối xum xuê,có nhiều ngõ lạch cây cối che phủ sầm uất,thuận lợi cho việc mai phục khinh thuyền.Đoạn sông này gần cửa biển thuỷ triều lên xuống rất mạnh,độ chênh lệch giữa hai ngọn triều lên đến 5,6 thước(thước xưa).Bèn sai lấy gỗ đẽo nhọn bịt sắt, nhân khi thuỷ triều rút xuống thấp nhất cắm giữa dòng sông thành bãi cọc nhiều lớp.Các đội khinh thuyền mai phục trong các kênh lạch phía thượng nguồn, khi có hiệu lệnh thì cùng lao ra diệt địch.Trên bờ mai phục bộ binh phối hợp và lại có nhiệm vụ đón bắt những toán quân địch bỏ thuyền lên bộ tháo chạy.Dương thị Như Ngọc,Ngô xương Ngập, Dương tam Kha đều có dự trận chiến.

Tương truyền, Ngô Quyền chọn vùng Kê lạc tổng Nghĩa chế (Tên xưa gọi là Kẻ lác,nay là vùng Quán rác thị trấn huyện Phù tiên tỉnh Hải hưng) làm nơi luyện quân thuỷ, đốn gỗ bịt sắt, khai thông các kênh lạch chuyển đến trận địa (cách xa hơn 30 dặm đường).

Chuẩn bị trận địa vừa xong,chiến thuyền Hoằng Tháo đi đến gần cửa Nam triệu dự định nghỉ ngơi một ngày rồi mới vào sông Bạch đằng.Ngô Quyền dùng kế sai Kiều Thuận trá hàng xin theo Hoằng Tháo trả thù nhà (Kiều Thuận là con trai Kiều công Tiện đã quy thuận Ngô Quyền).Kiều Thuận dùng thuyền nhỏ lẻn ra  gặp Hoằng Tháo,trình bày sai lạc lực lượng và kế hoạch phòng thủ của Ngô Quyền,Hoằng Tháo càng chủ quan coi thường.Vừa lúc đoàn khinh thuyền quân Việt tiến ra khiêu chiến,chưa kịp nghỉ ngơi,Hoằng Tháo hạ lệnh dàn trận bao vây hòng tiêu diệt  lực lượng quân ta tại chổ.

Quân ta vừa đánh vừa lùi dần vào cửa sông.Nhân đà thuỷ triều lên,Hoằng Tháo ra lệnh cho  chiến thuyền ào ạt đuổi theo,quân ta vừa khiêu khích vừa  lui nhanh.Nước triều lên mạnh, chiến thuyền Nam Hán đuổi gấp, vượt đã khá xa qua bãi cọc nhọn lúc đó còn ẩn  sâu dưới mặt nước.

Thuỷ triều chợt xuống,chiến thuyền quân Việt quay mũi phản công quyết liệt.Từ mọi ngõ ngách kênh lạch quân phục nhất tề lướt ra tấn công dữ dội quân Nam Hán.Hoằng Tháo biết là trúng kế, ra lệnh cho chiến thuyền rút lui.Thuỷ triều xuống mạnh,nước chảy xiết, chiến thuyền nặng khó hãm tốc độ,cọc nhọn bịt sắt  đã nhô lên gần mặt nước,chiến thuyền Nam Hán va vào cọc tan vở, ùn lại va vào nhau mà chìm vô số.Tướng sỹ phần bị giết, phần chết đuối không kể xiết.Hoằng Tháo cũng bị chết đuối,còn bao nhiêu thoát được,chuồn ra biển về nước.Lưu Nham được tin báo vội vàng cuốn cờ rút quân về nước,hổ thẹn vì  cuộc viễn chinh thất bại nhục nhã, bỏ tên Lưu Nham,đổi là Lưu Cung.

Chiến thắng Bạch đằng quyết định việc dựng nền độc lập tự chủ thống nhất đất nước muôn đời về sau của dân tộc Việt nam,sau hơn một mgàn năm làm nô lệ,bị nước lớn phương bắc thống trị.

Sau ngày chiến thắng,Ngô Quyền bắt tay vào việc xây dựng nền móng của một quốc gia độc lập tự chủ.Đầu năm 939 định đô ở Cổ loa,đất cũ Loa thành,thể theo các triều đại bên Trung quốc nhưng có châm chước,đặt quan chế,định triều nghi phục sắc cho các quan văn võ,tự xưng Ngô Vương,phong Dương thị Như Ngọc làm Đệ Nhất Tiêu cung,phong tước lộc,cấp thái ấp cho tướng sỹ có công như Đinh công Trứ ở châu Hoan,Lê Lương ở châu Ái,Phạm bạch Hổ ở Nam sách v.v…Các hào trưởng, tù trưởng các nơi kính sợ vị anh hùng đánh thắng quân Nam Hán,thảy đều quy phục chịu mệnh lệnh,cả nước yên hưởng thái bình.

Ngô Vương ở ngôi được 6 năm  nhiễm bệnh từ trần.

Các nhà sử học xưa gọi là triều đại Tiền Ngô Vương.

About these ads

Responses

  1. làm ơn cho liên lạc với người đang nghiên cưú về họ Ngô

    • Anh có thể liên hệ qua địa chỉ:ngoducloi@gmx.de
      Cảm ơn.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: