Đăng bởi: nghienson | Tháng Chín 28, 2011

HOÀNH QUẬN CÔNG NGÔ PHÚC PHƯƠNG ( 1710- 1804)

Đại Tư Đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương  ( 1710- 1804)

          Tên làm quan là Phương,huý là Túc,thuỵ là Quang Diệu (trong hai đạo sắc phong, một đạo phong tước Phương Kỳ Hầu,một đạo phong Tự phu nhân cho bà vợ đã chết Vũ Thị  Liên, ghi là Trịnh Trinh,như vậy có thể  lúc đó ông được nhà chúa cho lấy họ Trịnh, và có tên là Trinh,nhưng phả ký thì không ghi chép tên này).

Ông là con trai Lãng Phương Hầu Ngô Phúc Chánh, huyền tôn Ngô Phúc Vạn (chi 5) họ Ngô Trảo Nha Thạch Hà,nay thuộc thị trấn Can Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. .Sinh ra có dị tướng, miệng rộng đút lọt nắm tay, có 36 cái răng, tài kiêm văn võ, 20 tuổi ra quản quân, 30 tuổi đỗ Tạo sỹ (Tiến sỹ võ), làm tướng đến chức Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự Đại tư đồ Hoành Quận công.

Ngô Phúc Phương 20 tuổi lấy bà Vũ Thị  Liên người làng Hà Hoàng huyện Thạch Hà, sau 9 năm bà chết không có con. Ông lấy bà họ Trương người Gia Lâm, đã sinh con trai con gái. Lúc bấy giờ có Phương Huệ Quận chúa con gái thứ 8 Chúa Trịnh Cương do bà phi Chiêu Nghi sinh ra. Bà Chiêu Nghi là em gái Phan Huy Cẩn cô ruột Phan Huy Ích vốn người làng Canh Hoạch huyện Thiên Lộc. Phương Huệ Quận chúa đã có chồng là Chất Vũ Hầu họ Trương ở Gia Lâm, đã sinh con trai Trương Yên. Chất Vũ Hầu mất, Phương Huệ bị goá bụa vào tuổi 20, còn trẻ đẹp, bà Chiêu Nghi thương con gái còn ít tuổi goá chồng, lấy cớ Ngô Phúc Phương là người  đồng hương Thiên Lộc, xin phép Thái phi (vợ Chánh thất Trịnh Cương người làng Linh Đường, thuộc Thanh Trì ngày nay) gọi gả cho làm Phò mã. Bà Chiêu Nghi lại xin Chúa cho cung Ninh Sơn làm của hồi môn, ông bà về đó ở (cung Ninh Sơn ở trên núi Ninh huyện Chương Mỹ do Chúa Trịnh Cương dựng lên làm nơi đi du ngoạn, nay là từ đường họ Ngô- Ninh Sơn, nay thuộc huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội.). Quận chúa về làm vợ Chính thất, bà họ Trương ra ở chùa (chùa Thấp cũng trên núi Ninh) 47 tuổi thì từ trần. Khi ông bà về ở Ninh Sơn, đất đai còn hoang vu nhiều,bèn chiêu dân lập ấp thành hai xã Ninh Sơn và Chúc Lý.

Có tài lại là Phò mã, một thời bước công danh thuận lợi, nhiều lần đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy như Lê Duy Mật ở Kinh Bắc, Ngân Già ở Sơn Nam,giặc cướp ở Chương Đức, Chương Mỹ, Yên Trường v.v… Năm 1768 Phương Huệ Quận chúa từ trần được phong Ôn Dung Công chúa. Thái phi triệu ông vào bảo: “Nay Quận chúa đã từ trần, khanh thì phụng sự tại kinh, nhà cửa ở Ninh Sơn bỏ không,ta theo nguyên giá hoàn lại khanh nghĩ sao?” .Ông rập đầu nói :”Thần đội ơn Thánh mẫu, xin đem nộp lại”.

Thánh mẫu liền cho chở về Linh Đường, dựng lên làm Từ đường họ Thánh mẫu, lại đánh giá lòng trung thành của ông, đem việc kể với chúa.Chúa triệu ông vào khen lòng trung thành và hứa sẽ cho con trai ông ra Quản quân. Ông rập đầu khải:”Thần đội ơn Thái phi, con trai thần còn bé .Trộm nghĩ Quận chúa chết sớm,Trương Yên cô đơn, thần xin nhường”.Chúa càng khen lòng trung thành, cho Trương Yên quản Mã hậu đội.

Ông có con gái đầu lòng lấy Dương Khuông, Dương Khuông có chị gái lấy Phổ Quận công chú ông, lại có chị gái là Dương Thị  Hoan lấy Trịnh Sâm sinh ra Trịnh Tông, khi Trịnh Tông ở ngôi Thế tử rất tin dùng ông.Trịnh Sâm rất ghét Trịnh Tông nên ông cũng bị ghét lây.

Lúc bấy giờ trong cung vua, sau khi Thái tử Lê Duy Vỹ bị giết,vua Hiển Tôn an phận bù nhìn. Bên Phủ Chúa,Trịnh Sâm là một chúa có tài kiêm văn võ,thông minh lanh lợi, gặp lúc trong nước có nhiều người tài,khéo tập hợp lại tổ chức thành lực lượng mạnh,đàn áp được các cuộc nổi dậy đã kéo dài nhiều năm, lại đánh thắng quân Nguyễn dành được đất Thuận Quảng. Nhưng Trịnh Sâm cũng  rất kiêu căng, xa xỉ, hiếu  sắc hay thiên ái, ngày càng  kiêu ngạo sa đoạ, lòng người phân tán, nội bộ lục đục. Người tài thì có nhiều,nhưng mỗi người một ý,mỗi người một cách không ai chịu ai, không ai nghe ai,dè dặt không nói không bàn,số đông văn quan tuy bề ngoài thì phải theo Chúa, nhưng trong bụng thì không phục,vì Chúa quá chèn ép vua Lê, đối với việc phế trưởng lập thứ, Chúa muốn làm gì thì làm, không ai quan tâm lắm.

Hòang Ngũ Phúc đang được tin dùng, có con nuôi là Hoàng Bỉnh Khiêm,có tên là Hoàng Đăng Bảo, cả hai đều tuổi hợi(tuổi lợn), cha con Chúa Trịnh thì đều tuổi mùi (tuổi dê), người ta bày ra chuyện sấm ký “Thảo nhất điền bát”(chữ Hoàng), “Lưỡng thỉ trục quần dương “(hai lợn đuổi bầy dê) ,Đăng Bảo”có nghĩa là lên ngôi báu”, rồi qua câu sấm người ta nói cha con họ Hoàng sẽ cướp ngôi Chúa. Lo sợ dư luận, Hòang Ngũ Phúc bảo  con nuôi đổi tên là Hoàng Tố Lý. Sau ngày đi bình Nam về,Hoàng Tố Lý làm Trấn thủ Nghệ An, sắp xếp lại trấn nha, người ta lại đồn ầm lên rằng Tố Lý chuẩn bị tổ chức chống triều đình.Trong Phủ Chúa, Trịnh Sâm bàn kín với một số cận thần tìm cách trừ sớm Tố Lý. Khi nói Nghệ An thì gọi là Thập thay chữ Nghệ để giữ bí mật,nhưng Hoàng Tố Lý cũng biết tin ấy, lo sợ quá dâng khải xin về triều, Trịnh Sâm cho về. Hoàng Tố Lý ra sức chạy chọt để thoát tai vạ, nhờ người đem mấy mâm châu báu xin ra mắt Thế tử Trịnh Tông.Trịnh Tông nói: “Cái thứ loạn thần ấy nay mai ta sẽ tịch thu toàn bộ gia tài nó, lấy cái thứ này làm gì !”Hoàng Tố Lý càng sợ ,thông qua vợ mình là Quận chúa, chạy sang nương tựa Đặng Thị  Huệ lúc này là sủng phi của Trịnh Sâm.Đặng Thị  Huệ cũng đang cần vây cánh để tranh dành quyền lực, thu nhận Hoàng Tố Lý và hết sức cất nhắc với Trịnh Sâm.Trịnh Sâm vốn không muốn lập Trịnh Tông(tức Trịnh Khải) làm Thế tử,có ý chờ Đặng Thị  Huệ sinh con trai.Thị  Huệ mãi không đẻ.Khi Trịnh Tông đến tuổi (theo thể lệ nhà Chúa con trưởng đến 13 tuổi cho ra ở phủ riêng và lập làm Thế tử),Trịnh Sâm phải lập Trịnh Tông làm Thế tử nhưng không cho ra ở phủ riêng. Sau một thời gian, Đặng Thị  Huệ sinh Trịnh Cán, Tông bị khép tội lười học, giáng làm Quý tử (con út), Cán mới 2 tuổi được lập làm Thế tử.Trịnh Tông bị giam lỏng.

Trịnh Sâm do ăn chơi sa đoạ sinh bệnh mãn tính, thường hay lên cơn, năm Canh tý 1780 lên cơn nặng tưởng chết.Trịnh Tông liên lạc được với một số đại thần trong triều, ngoài trấn như Nguyễn Lễ Trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Khắc Tuân Trấn thủ Kinh Bắc, v.v… bàn mưu khi Trịnh Sâm chết thì kéo quân về phế bỏ Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm Chúa.

Hà Như Sơn một tên đầy tớ nhỏ vốn là học trò Ngô Thì Nhiệm,hiện làm người giữ sách cho Trịnh Khải,biết được việc này,đem nói với Ngô Thì Nhiệm và Nguyễn Huy Bá người đang làm Cấp sự trung.Hai người mật báo cho Trịnh Sâm khi đó đã khỏi bệnh mọi chi tiết việc Trịnh Tông âm mưu phế lập.Trịnh Tông bị tống ngục, hơn chục đại thần bị chém đầu hoặc cho uống thuốc độc chết, trong số này có Nguyễn Khắc Tuân là cậu Trịnh Sâm, Phổ Quận công (họ Ngô,chú Hoành Quận công Ngô Phúc Phương,có bà vợ là chị ruột Dương Thị  Hoan mẹ Trịnh Tông),Ngô Phúc Phương bị khép tội liên quan giáng hai cấp xuống quản Hậu trạch trụ đội.Vụ này Trịnh Sâm giao cho Ngô Thì Nhiệm xử,có bà Bảo mẫu Trịnh Tông đã chạy trốn về Sơn Tây với chồng còn bị bắt đưa về Thăng Long xử hình  phạt “tứ mã phanh thây”(bốn ngựa xé xác) .Ngô Thì Nhiệm được Trịnh Sâm tin cậy,thăng luôn ba cấp,đang từ hàm lục phẩm lên chức Tả Thị  lang hàng tam phẩm, vào làm việc trong Phủ Chúa.

Liền mấy năm gần đó Trịnh Sâm đau yếu luôn, sợ gió, sợ ánh sáng phải nằm trong thâm cung,đèn nến suốt ngày đêm, mọi việc triều đình hầu hết do Hoàng Tố Lý và Đặng Thị  Huệ quyết định, các quan đại thần thân quý hàng năm chỉ gặp mặt Chúa một lần, các quan văn võ không được thấy mặt Chúa,Thái phi đến thăm cũng chỉ được đứng ngoài cửa thăm hỏi qua người hầu cận,ngăn cách ngày càng thậm tệ, người ta nói “Việc nhà chúa như việc Thiên Tào”.Những ngày cuối đời Trịnh Sâm phong Đặng Thị  Huệ làm Tuyên phi, uỷ thác việc lập thế tử Cán cho Hoàng Tố Lý và mấy đại thần về phe Thị  Huệ. Lúc Chúa sắp chết, Thái phi mới được vào thăm gần giường bệnh,Thái phi muốn bảo Trịnh Sâm không nên bỏ con trưởng lập con thứ, nhưng vướng luôn luôn có mặt Tuyên phi nên không nói được.Trịnh Sâm lạy mẹ, xin nhận tội bất hiếu không phụng dưỡng được đến già.

Năm Nhâm Dần 1782 Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán lúc đó lên 5 tuổi được lập làm Điện Đô Vương, quyền hành nằm cả trong tay Hoàng Tố Lý và  Đặng Thị  Huệ ,hai người lại tư thông với nhau, dư luận trong ngoài xôn xao, nhiều ca dao chỉ trích châm biếm :

Đục cùn thì giữ lấy Tông, Dao đà long Cán còn mong nỗi gì!  

Triều  thần có mắt như mờ, Để cho Huy Quận vào sờ Chánh cung!

Hoàng Tố Lý sai quan Đề lĩnh thành đem kéo và móc sắt treo ở các chợ trong thành đe doạ nếu ai còn dám bàn tán đến việc trong Phủ Chúa thì móc lưỡi ra cắt bỏ. Mâu thuẩn ngày càng sâu sắc, các quan trong triều không phục, đang bàn kế phế lập, thì Trịnh Tông đã liên kết với quân Tam phủ khởi sự.

Quân Tam phủ họp nhau ở Khán Sơn,ước hẹn với nhau khi nghe ba hồi trống hiệu, thì tất cả kéo nhau vào Phủ Chúa, phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm chúa. Ngày 20 tháng 10, nhân buổi lễ tuần Trịnh Sâm,có người đánh ba hồi trống hiệu, lính Tam phủ ào vào Phủ Chúa đông như kiến, Hoàng Tố Lý thét quân Binh bộ ra giải tán quân Tam phủ nhưng vô hiệu, Tố Lý nhảy lên voi ra quát tháo, quân lính xúm lại. Thế quả bất địch chúng,Tố Lý quay đầu voi chạy ra cổng sau, đến gần cổng bị quân lính lôi xuống voi, băm nát người như bùn,em là Hoàng Lương và cả quản tượng cùng bị hại.Quân lính một mặt công kênh Trịnh Tông vào lập làm Đoan Nam Vương ,một mặt sục tìm Đặng Thị  Huệ và phe cánh.Trịnh Cán được một nội giám đưa trốn trong nhà kho, sợ quá khóc to, nội giám lấy tay bịt miệng bảo khóc quân lính nghe sẽ vào giết chết. Đặng Thị  Huệ ẩn kín trong phủ, cả ngày nhịn đói, đêm đến Thái phi mới đưa cho ít cơm ăn.Cùng trong đêm đó quân lính tìm được Trịnh Cán đưa ra ở nơi khác,về sau bị ốm bệnh rồi chết. Ngày hôm sau thì bắt giữ được Đặng Tuyên phi.Ngô Thì Nhiệm thì thoát được, chạy về quê vợ ở xã Bách Tính, mấy năm sau đến ngày Lê Chiêu Thống lên ngôi mới trở về làm quan.

Nguyễn Khản (tức Nguyễn Lễ )lên làm Tham tụng,chức Lại bộ Thượng thư.Ngô Phúc Phương được trọng dụng,giữ chức Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự, quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội, năm 1783 nhận thêm chức Nội điện mật sát kiêm chức Phụ dực nội điện, con trai là Ngô Phúc Trọng ra quản Tiên ưu đội. Năm 1784 Điện Nhạc Hầu để thất thủ thành Sơn Tây,Ngô Phúc Phương được cử làm Thất cơ Chiêu thảo sứ đi Trấn thủ Sơn Tây đánh bắt được đầu sỏ Quận Quý thu phục Trấn thành. Năm 1785 đổi Trấn thủ trấn Hải Dương, cuối năm ấy về làm Quyền phủ sự trong Phủ Chúa.

Kiêu binh phá nhà.

          Chính quyền họ Trịnh là một chính quyền trọng võ, tổ chức một đội quân mạnh và trung thành.Họ Trịnh dựa vào lính Thanh Nghệ đánh thắng họ Mạc,do đó lính Thanh Nghệ rất được ưu đãi.Được ưu đãi quá sinh kiêu căng,mỗi lúc có điều gì bất mãn thì chống lại quan triều đình, cho nên được người ta gọi là Kiêu binh, từ 6 vạn người khi ở Thanh Hóa, lên đến 12 vạn khi ở Thăng Long, chủ yếu vẫn là người Thanh Nghệ.Trịnh Cương xác định Thanh Hóa là căn cứ địa, Nghệ An là đất ứng nghĩa. Quân lấy ở ba phủ thuộc Thanh Hóa là quân tin cậy nhất, gọi là Quân Tam phủ, lấy làm quân Túc vệ tức Cấm binh. Lực lượng quân Thanh Nghệ đã đưa họ Trịnh lên đến uy quyền tột đỉnh “Bất đế bất bá quyền khuynh thiên hạ”, thì cũng chính lực luợng quân Thanh Nghệ đã làm lung lay đến gốc rễ và làm sụp đổ luôn cả cái chế độ độc tài của họ Trịnh .Năm 1764 Kiêu binh đã nổi lên giết Bồi tụng Nguyễn Quốc Trinh,phá nhà Tham tụng Nguyễn Công Trứ chỉ vì hai người này đã khuyên Chúa kìm chế Kiêu binh.Trong mỗi đội quân chọn người có biết chữ làm thư ký ghi chép sổ sách, gọi là Biện lại, quân lính chọn trong đám Biện lại người giỏi hơn cả làm Biện trưởng cầm đầu.

Khi làm Phụ Dực nội điện Ngô Phúc Phương thường khuyên Chúa kiềm chế Kiêu binh,

Chúa chưa có chủ định, Kiêu binh biết ,tập họp lực lượng kéo đến phá nhà ông.

Ông biết ý, tìm lời lẽ thuyết phục, Kiêu binh giải tán tạm yên.Năm sau (Gáp Thìn-1784) Kiêu binh kéo nhau đi phá nhà Thượng thư Bộ lại Nguyễn Khản và nhà Điền Nhạc Hầu (em Nguyễn Khản) .Khi về qua nhà ông,có người hô to :”Đại Tư đồ là bố vợ Quốc cậu, của cải của Quốc cậu gửi cả ở đây !” Mọi người huởng ứng hè nhau xông vào, phút chốc nhà cửa một viên ngói cũng không còn nguyên.Đang ở trong Phủ Chúa, được tin, ông hỏi người Biện trưởng:Quân Tam phủ cũng phò Chúa, tôi cũng phò Chúa, không có hiềm khích gì, sao lại có sự việc hôm nay ? Biện trưởng nói : Chúng tôi không có ý định này,không ngăn đoán được bộ ngũ, chúng tôi xin nhận lỗi và sẽ xin bồi thường thoả đáng. Ông nói “Thành sự bất thuyết, ký vãng bất cữu “.

Năm 1786 Bính Ngọ, quân Tây Sơn vào Thăng Long, Trịnh Khải thua chạy.Theo không được Trịnh Khải,Ngô Phúc Phương trở về Ninh Sơn. Lý Trần Quán đưa gửi Chúa vào nhà một người học trò là Nguyễn Trang (ở trấn Sơn Tây) nói dối là ông bạn Phan Lê Phiên. Qua thái độ đối xử giữa hai người, Nguyễn Trang đoán biết là Đoan Nam Vương, bèn tra vấn Trịnh Khải. Biết là không dấu nổi tung tích, Trịnh Khải nói, ta là Đoan Nam Vương đây, mày làm gì thì làm!Nguyễn Trang đang là Tổng đoàn, đóng cũi giải Chúa đi nạp cho quân Tây Sơn lãnh thưởng,với một câu tự an ủi :”Sợ thầy không bằng sợ giặc”.Đi đường Trịnh Khải xin nước uống, Nguyễn Trang trao cho bát nước, Trịnh Khải đập vỡ bát lấy mảnh rạch cổ tự sát. Trang cướp mảnh bát, vết rạch chưa đủ sâu, Trịnh Khải lấy móng tay móc họng ra chết trong cũi.

Trang đưa xác chết đến nộp quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ đem bêu xác ngoài chợ trong thành Thăng Long vài ngày cho nhân dân đều biết, rồi cho mai táng theo nghi thức bậc Công. Lý Trần Quán ân hận vì mình không nắm được tâm địa học trò, nên phạm vào tội giết Chúa, bèn nhờ chủ nhà mua lễ vật tế lễ Trịnh Khải, lại nhờ mua sắm cổ quan tài, đào huyệt tự chôn sống mình để tự xử cái tội sai lầm đi đến giết Chúa. Chủ nhà can ngăn, Lý Trần Quán nói: Chí tôi đã quyết, nếu ông không giúp, tôi thiếu gì cách tự xử.Trước khi đậy nắp quan tài, Lý Trần Quán đọc câu đối sau đây dặn dò chủ nhà nhớ kỹ sau nói lại với cháu con ông:

Tam niên chi hiếu dĩ hoàn,

Thập phần chi trung vị tận.

Đoan Nam Vương Trịnh Khải chết,Ngô Phúc Phương đi tìm được Trịnh Bồng đang ẩn náu trong một ngôi chùa ở trấn Sơn Tây, bèn liên lạc với Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây, Đinh Tích Nhưỡng ở Hải Dương mưu đồ khôi phục Thăng Long. Ông chia người đi vận động các huyện Yên Sơn, Mỹ Lương, Chương Đức tổ chức nghĩa quân, bỏ tiền của nhà ra cung ứng quân nhu, được hơn 5000 người, giao ước với Sơn Tây, Hải Dương chờ ngày khởi sự.

Tháng 8 quân Tây Sơn rút cả về Thuận Hóa, từ vùng Quảng Trị, ông đưa Trịnh Bồng về Thăng Long, cùng các cựu thần lập làm Án Đô Vương. Ông đứng ra thu xếp cung phủ, con cả Trọng Võ Hầu quản Tả bộ hiệu, Khoát Võ Hầu quản Trung trạch đội, Ngạn Trung Hầu quản Khuông ttrung đội, Thuần Trung Hầu và  Diễn Võ Bá đều quản mỗi người một đội.Cùng lúc Dương Trọng Tế ủng hộ Trịnh Lệ từ Kinh Bắc về  cũng định lập làm Chúa, hai bên xô xát vài trận, Dương Trọng Tế chạy sang với Trịnh Bồng, Trịnh Lệ rút lui. Tháng 10 Ngô Phúc Phương nhận nhiệm vụ tổ chức bố phòng phía nam, tháng 11 nhận thêm nhiệm vụ chỉ huy cơ Vệ binh phủ Ứng Thiên.

Được các tướng và các cựu thần ủng hộ, Án Đô Vương Trịnh Bồng lại chuyên quyền,

Vua Chiêu Thống trở lại bù nhìn như xưa, ngày đêm cùng một số cận thần bàn mưu dành lại quyền lực,mâu thuẩn giữa Vua và Chúa ngày thêm sâu sắc. Con thứ Ngô Phúc Phương là Thuần Trung Hầu (con rể Trịnh Bồng) một sáng cùng vài thủ hạ ra đường gặp Dương Trọng Tế, Tế hỏi Phò mã đi đâu sớm thế ? Thuần Trung Hầu đáp: Rảnh rỗi không có việc gì,đi săn vài con muông chơi thôi !Tế nói: Cọp ngồi sau lưng không lo, lại đi săn thỏ! Hỏi: Ông nói cọp nào ở đâu? Tế chỉ vào Hoàng cung nói: Đấy, cọp đấy, nếu cọp ấy còn, thì cái ngôi vị của  bố vợ Hầu e rằng hỏng đó !

Thuần Trung Hầu quay về chọn mấy tay võ sỹ đeo đao tiến thẳng vào cung vua Chiêu Thống. Vừa lúc Thạc Quận công Hoàng Phùng Cơ đi tuần bắt gặp,Quận Thạc thét hỏi :Thuần Trung Hầu vào đây định làm gì, ai bảo, quay về ngay, không đừng có trách ! Sợ Quận Thạc mọi người vội cùng nhau quay về.

Ngày sau Hoàng Phùng Cơ bị Nguyễn Hữu Chỉnh bắt đưa ra chém, nhớ công ơn ấy Chiêu Thống can thiệp xin cho đuợc chết toàn thây.

Chiêu Thống gửi mật chỉ triệu Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra giúp trừ Chúa Trịnh,

Chỉnh hớn hở ra ngay. Chỉ đánh nhau mấy trận nhỏ,hai con trai Ngô Phúc Phương là Ngạn Trung Hầu và Thuần Trung Hầu tử trận, Hoàng Phùng Cơ trở về Sơn Tây,Ngô Phúc Phương về Ninh Sơn,Trịnh Bồng bỏ ghế chúa chạy.

Cuối năm Mậu Thân, Lê Chiêu Thống dẫn quân Thanh vào, triệu ông ra giúp.Ông lấy cớ tuổi già từ chối,chỉ một mình Trọng Võ Hầu Ngô Phúc Trọng ra giúp, đến ngày Chiêu Thống chạy theo quân Thanh, Ngô Phúc Trọng trở về sinh sống ở Ninh Sơn.

Ngô Phúc Trọng sinh sau mấy người em, nhưng vì là con bà Quận chúa sinh ra,nên được làm con trưởng, bà họ Vũ con gái Quốc cậu Bỉnh Trung Công Vũ Tất.

Thời còn trung niên, Hoành Quận công ở Kinh đô vùng Ngọc Hà, có Quốc cậu Bỉnh Trung Công Vũ Tất, thực lộc ngàn chung, xe vài trăm cỗ, uy thế trong triều có một không hai,người ta tới lui xu phụ dựa dẫm rất nhiều. Gần vưòn nhà ông có người ở trại Ngọc Hà trồng và bán hoa, người này cũng là môn hạ Bỉnh Trung Công,hàng ngày lấn đất lấn vườn nhiều lần, ông đã nhường nhịn nhiều, càng ngày càng lấn tới. Ghét thói ỷ thế cửa quyền xâm phạm tài sản người khác, ông sai gia nhân can thiệp. Lão hàng hoa kiện với  Bỉnh Trung Công, Bỉnh Trung Công sai người gọi ông tới đối chất.Ông bảo người đến gọi rằng :Anh kia, anh kia là phường ty tiện, sao lại được quan lớn coi trọng hơn tôi, ông không đến. Bỉnh Trung Công nổi giận nói :Trong thiên hạ có ai dám chống lại ta, truyền lệnh chỉnh đốn voi đi phá nhà ông , môn hạ can gián mãi mới thôi.

Về sau Bỉnh Trung Công biết ông là người có tài thao lược, kết thành bạn, rồi sau thành sui gia, con gái thứ hai của Bỉnh Trung Công lấy con trưởng của ông Ngô Phúc Trọng .

Ngô Phúc Trọng cả hai ông bà đều từ trần ở Ninh Sơn và mộ phần cũng ở đó.Con cháu thì trở về quê cũ Trảo Nha,nay thành phái trưởng của chi 5, tộc trưởng là Ngô Xuân Diệu.

Ngô Xuân Diệu mất, không con kế tự, đến Ngô Xuân Huy thay trưởng.

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

%d bloggers like this: