Đăng bởi: nghienson | Tháng Một 30, 2012

DÒNG NGÔ PHÚC CƠ-TẢ THANH OAI – NGÔ GIA VĂN PHÁI

Dòng Ngô Phúc Cơ Tả Thanh Oai – Ngô gia Văn phái
 Ngô Sử Nậu (Hậu)
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, đi lánh nạn đổi tên là Ngô Phúc Cơ,một trong sáu người con cư biệt quán,về ở xã Tả Thanh Oai trên bờ sông Nhuệ,con cháu chuyển sang văn nghiệp.

Ngô Phúc Cơ vào đời thứ 21, truyền đến đời thứ 28 là Ngô Chi Thất (1635-1713) thuộc chi ất,đỗ đầu khoa Sỹ vọng rồi tiếp đỗ đầu khoa Hoành từ làm quan đến Hộ bộ Tả thị lang, tước Thê hiển Hầu,sinh ba con trai: Ngô Đình Quế thi trúng tam trường,Ngô Đình Thạc tức Oanh,và Ngô Đình Chất(Đình Óanh) đều đỗ Tiến sỹ làm quan đến Thượng thư tước Quận công.
Ngô Chi Thất và Ngô Trân đề xướng và dựng nên Văn phái,về sau được mệnh danh là “Ngô gia Văn phái” gồm 20 Tác gia thuộc 9 thế hệ,trên dưới 200 năm,từ đầu thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 20.
     Ngô Tuấn Dị  (1655-…)Tiến sỹ,
Tự Minh Tuệ (đời thứ 28 chi ất),con Ngô Đức Tuấn,em Ngô Tuấn Cung, là người mở đầu Đại khoa họ Ngô thì Tả Thanh Oai.34 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu thìn niên hiệu Chính Hoà năm thứ 9(1688),làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu thảo,Thị lang.Nhân dân lập đền thờ ông ở xã Xuân Dương huyện Xuân Thuỷ tỉnh Nam Hà.Dân gian vùng này có câu “Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam”(Tuấn Cung là anh Tuấn Dị ,đỗ Cử nhân làm Tri huyện). Là một trong 20 Tác gia thuộc Ngô gia Văn phái.
      Ngô Trân (1671-1761)
Tự Đan Nhạc,con Ngô Vân,một trong Thất hổ của đất Thăng Long đương thời, đỗ khoa Hoành Từ,Cẩn sự tá lang ,Tri huyện huyện Anh Sơn, dạy học, đào tạo được nhiều khoa bảng.Sinh Ngô Thì Ức.Cùng Ngô Chi Thất đề xướng và dựng nên Ngô gia Văn phái.
Ngô Đình Thạc (1678-1740)
Có tên là Ngô Đình Oanh,hiệu Nhân Trai,con Ngô Chi Thất,đỗ Tiến sỹ khoa Canh thìn 1700 ,giữ chức Tham tụng,Công bộ Thượng thư.Năm 1740 làm Tổng phủ phiên trấn Lạng Sơn gặp lúc Toản Cơ,một thủ lĩnh miền thượng nổi lên bao vây Đoàn Thành,ông bị bắt và bị giết ngay khi vừa mới đến nhậm sở. Tặng phong tước Huy Quận công,truy tặng hàm Thiếu bảo, là một trong 20 Tác gia.
        Ngô Đình Chất (Đình Óanh) (1686-…)
Em Ngô Đình Thạc, hiệu Thận Trai,đỗ Tiến sỹ khoa Tân sửu 1721 ,giữ chức Công bộ Thượng thư ,Đô Ngự sử 1724 ,Chưởng đốc Sơn Nam 1741,tước Xuyên Quận công,là một trong 20 Tác gia,thuộc đời thứ 29,chi ất.

 Ngô Thì Ức (1709-1736 )
Tự Thuần Mỹ,đỗ Hương tiến, thi hội ba lần đều hỏng.Được xếp đầu trong Ngô gia Tùng thư là hai tập sách của ông :Tiêu dao,Nghị vịnh.Thi mãi không đỗ,có người hỏi vì sao,Ông trả lời:”Trường thi đâu phải của riêng nhà mình”. Là một trong số 20 Tác gia.
Ngô Thì Sỹ (1726-1780 )
Con Ngô Thì Ức, hiệu Ngọ Phong, biệt hiệu Nhị thanh Cư sỹ,tự Thế Lộc,là một Tác gia lớn trong Ngô gia Văn phái,lại là một Sử gia (Tác giả Quốc sử tục biên,Việt sử tiêu án).Ông học giỏi, thi nhiều khoa chưa đỗ,xin làm một chức nhỏ trong bộ Binh.Khi kinh tế gia đình quẫn bách, Ông làm bài phú “Trách bần quỷ”.
Năm 1743 đỗ Hương tiến,năm 1745 đỗ đầu khoa Sỹ vọng ,được ra làm quan,sau được chọn làm Thị giảng cho Thế tử Trịnh Sâm,năm 1763 được vào hàng Tiến triều (không đỗ đại khoa mà được làm quan chức như đỗ đại khoa).Năm 1764 được bổ làm  Giám sát Ngự sử Sơn Tây,thăng Đốc đồng Thái Nguyên (1767 ),Bắc ninh , năm 1766 đỗ Hoàng giáp thăng Đông các Hiệu thư, chuyển đi Hiến sát sứ Thanh Hoá,rồi thăng Tham chính Nghệ An (tòng Tứ phẩm)1775. Trong một khoa thi hương ở trường Nghệ An, trong ban Giám khảo ông bị kiện ,nên bị bãi chức về nhà.Năm 1773 được trở lại làm quan chức Hiệu lý trong viện Hàn lâm,ít lâu sau thăng Thiêm đô ngự sử(hàm  Ngũ phẩm)Bí thư các Chính tự (1775).Năm 1777 làm Đốc trấn Lạng Sơn,xây dựng Đoàn Thành,tu sửa động Nhị Thanh.Năm 1780 đi đánh dẹp Hoàng Đồng ở Tuyên Quang (phối hợp với quân Nguyễn Lễ Đốc trấn Sơn Tây).Cùng năm có việc đi Mục Nam Quan,khi về ghé nghỉ ở động Nhị Thanh, về đến nhà thì cảm bệnh không tiếp khách được.Vài ba hôm sau khỏi bệnh,tiếp khách cười nói như thường,tối ngày đó thì mất (tháng 9 năm 1780-theo phả họ Ngô Thì Tả Thanh Oai).Dư luận đương thời cho rằng ông uống thuốc độc tự tử vì con ông là Ngô Thì Nhiệm có liên quan đến vụ án Trịnh Tông(tức Trịnh Khải).
         Ngô Tưởng Đạo ( 1732-1802)
Ông là con Ngô Thì Ức,em Ngô Thì Sỹ,chú Ngô Thì Nhiệm.
Thừa tự bên ngoại họ Tưởng nên lấy chữ Tưởng làm chữ lót.Là một trong số 20 Tác gia,ông viết Ngôn hoài,Văn túc công thi văn.Năm Quý dậu 1775 đỗ đầu khoa Hoành từ,đi làm Tri huyện huyện Thuỵ Anh,vừa làm quan vừa dạy học,4 năm sau thuyên chuyển đi làm Tri huyện Anh Sơn.Sau đó được cử cùng Thuần trung Hầu đi dẹp giặc biển ở Sơn Nam Hạ.Là bạn thân,Thuần trung Hầu khuyên ông nên bớt cứng rắn không có lợi gì cho bản thân,ông không nghe,dẹp xong giặc biển, ông xin nghỉ về nhà dạy học.
Lê Chiêu Thống lên ngôi, thấy ông là người có uy tín,mời ra trao chức Hiến sát sứ trấn Kinh Bắc.Nguyễn Hữu Chỉnh nắm quyền,muốn thu phục thân sỹ Bắc Hà để thêm vây cánh,xin nhà vua mở Ân khoa vào năm đầu Chiêu Thống, khi chọn khảo quan lấy  Ngô Tưởng Đạo vào khoa Hiên lương phương chính (một trong 10 khoa của Ân khoa).
Ngô Thì Nhiệm Phương Quận công  (1746-1803)
Hiệu Đạt Hiên,con trưởng Ngô Thì Sỹ.Từ nhỏ tư chất thông minh chuyên cần học tập,11 tuổi đọc được kinh sử truyện,năm Mtý 1768 đỗ Hương tiến,năm sau đỗ khoa Sỹ vọng,được bổ làm Hiến sát sứ Hải Dương.Năm 1771 Ngô Thì Sỹ bị cách chức,ông xin về nghỉ.Năm Ất mùi 1775 thi đỗ Tiến sỹ ra làm Hộ khoa Đô Cấp sự trung,rồi đi Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên (hàm Lục phẩm),năm 1780 về làm Đông các Hiệu thư. Năm 1780 sau vụ án Trịnh Tông được thăng ba cấp lên chức Thị lang hàmTam phẩm,vào phụng thị trong phủ Chúa Trịnh.Năm Nhâm dần 1782 Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế bỏ Điện  đô Vương Trịnh Cán  lập Đoan nam Vương Trịnh Tông.Vì có dính líu vào vụ năm Canh tý (tức vụ án Trịnh Tông -1780) ông phải chạy lánh về xã Bách Tính quê vợ mấy năm liền,cho đến ngày Đoan nam Vương thất bại mất,Nguyễn Huệ đã đưa Lê Chiêu Thống lên ngôi vua,thông qua em là Ngô Thì Chí cận thần của Chiêu Thống,Chiêu Thống giao cho chức Hộ khoa Đô Cấp sự trung, sau thăng Hiệu thư Tu quốc sử. Vũ Văn Nhậm ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Chiêu Thống chạy,Ngô Thì Nhiệm lánh về Kim Quan Thạch Thất.
Nguyễn Huệ ra bắc lần thứ hai giết chết Vũ Văn Nhậm,giao Ngô Văn Sở lên làm Tổng trấn Bắc Thành,triệu tập cựu thần nhà Lê ra trình diện.Vũ Văn Ứớc đón mọi người ở bộ Lễ, Ngô Thì Nhiệm đến trước chưa có ai,Ứớc tưởng Ngô Thì Nhiệm là một Hoàng thân nhà Lê,mời ngồi cùng chiếu.Chốc lát các cựu thần khác như Phan Lê Phiên đến,đều quỳ gối lạy chào dưới thềm.Chột dạ,Ngô Thì Nhiệm lảng ra ngoài,Ứớc lấy làm lạ hỏi người vừa ngồi đó là ai,có người nói là Ngô Thì Nhiệm,Ứớc tức giận cho là vô lễ,sai quân đuổi theo bắt lại. Biết rằng việc đó tất sẽ xẩy ra,Ngô Thì Nhiệm đã rảo bước đi xa.Tối đó đến gặp Trần Văn Kỷ trình bày rõ sự tình nhờ Kỷ giải cứu. Trần Văn Kỷ dẫn vào yết kiến Nguyễn Huệ,Nguyễn Huệ bảo : “Ngươi hãy cố gắng mà lo việc báo đáp,thế là được”. Lại bảo Trần Văn Kỷ :Đây là người ta gây dựng lại.Nguyễn Huệ cho thảo ngay tờ Chế phong Tả thị lang Bộ lại, tước Trình phái Hầu, cùng Võ Văn Ứớc coi tất cả các quan nhà Lê. Ngô Thì Nhiệm được trọng dụng ở lại Bắc Thành giúp Ngô Văn Sở.Phan Huy Ích thì theo Nguyễn Huệ vào Phú Xuân.
Lê Chiêu Thống cầu viện,quân Thanh tràn sang, Ngô Thì Nhiệm sáng suốt đề xuất chủ trương rút lui chiến lược về Tam Điệp,được Ngô Văn Sở chấp nhận, tạo điều kiện cho sau đó Quang Trung chiến thắng quân Thanh nhanh chóng trọn vẹn ít hao binh tổn tướng .Ông lại giúp Quang Trung trong việc giấy tờ bang giao với nhà Thanh,năm 1790 được thăng Binh bộ Thượng thư Phương Quận công. Trong những ngày tháng suy sụp của nhà Tây Sơn, ông về ở phường Bích Câu nghiên cứu Thiền học.
Năm 1802 vua Gia Long nhà Nguyễn đánh chiếm Thăng Long,Ngô Thì Nhiệm,Phan Huy Ích,Nguyễn Danh Phan cùng ra trình diện. Gia Long bảo Ngô Thì Nhiệm và Phan Huy Ích quen việc ngoại giao với nhà Thanh,để ở ngoài phòng khi có việc cần hỏi đến. Sau đó hạ lệnh đưa cả hai người vào Phú Xuân. Gặp ngày sứ Thanh sang phong vương, Gia Long muốn đặt hành trại tại biên giới Lạng Sơn làm lễ thụ phong,sai hỏi Ngô Thì Nhiệm và Phan Huy Ích ,cả hai người đều trả lời rằng việc như thế xưa nay chưa từng thấy,Gia Long bỏ ý định ấy.
Đặng Trần Thường ở Bắc Thành viết biểu gửi về triều đình Phú Xuân nói :”Bọn Nhiệm là tôi vua Lê mà còn dám theo giặc,lấy lời nói dối mà lừa vua Thanh,hãm đồng loại vaò chỗ bất nghĩa, thật là có tội nhất trong danh giáo,xét tội ác chẻ hết tre cũng không biên chép hết, nếu kẻ này mà không giết thì răn bảo người sau sao được…”.Gia Long hạ lệnh cho đưa ra Bắc Thành nghị tội. Quan lại ở Bắc Thành bàn: Tội của người này đáng chết,nhưng đã có chiếu chỉ nói rõ quan Tây Sơn ra thú thì được miễn tội,vậy tha cho tội chết, chỉ đánh để làm nhục”. Gia Long chuẩn y án,hạ lệnh kể tội ở Văn Miếu (lúc bấy giờ là học đường của phủ Phụng thiên) và đánh đau 100 trượng.Cả ba người đều bị đánh,Ngô Thì Nhiêm chịu không nổi 100 trượng nên chết,còn hai người kia không việc gì. Kẻ thì nói Gia Long trả thù tàn ác,người thì nói Đặng Trần Thường trả thù riêng.
Cuộc đời Ngô thì Nhiệm có nhiều bước thăng trầm, là người có tài,học rộng,sự nghiệp văn chương lớn, để lại cho đời sau trên 20 tác phẩm.
Ngô Thì Chí  (1753-1788)
Tự Học Tôn,hiệu Uyên Mật,em trai Ngô Thì Nhiệm,thi đỗ Á nguyên làm Bình chương Thiêm thư Thiểm sự. Lê Chiêu Thống chạy, ông chạy theo Vua lưu vong,đến Chí Linh ông trình lên vua “Trung hưng sách” chủ trương vận động Tù trưởng miền thượng du,dựa vào lực lượng đó,sau lưng dựa vào Trung Quốc, lo liệu kế lâu dài. Lê Chiêu Thống chấp nhận, phái ông đi vận động tổ chức lực lượng các miền thượng du.Ngô Thì Chí đi đến huyện Phượng Nhãn thì nhiễm bệnh nặng phải trở lại,về đến huyện Gia Bình thì từ trần.Được tin, Chiêu Thống rất thương tiếc,tự tay viết Sắc phong Dụ trạch Bá,sai quan đến phúng điếu.
Ngô Thì Chí viết 7 hồi đầu tập Hoàng Lê nhất thống chí,Học phi thi văn tập,Thi tập.
Tiếp theo còn có các ông (cộng 9 thế hệ,250 năm,20 Tác gia):

Ngô Thì Trí  (1766-1822)  Hữu thị lang, con Ngô thì Sỹ.

  Ngô Thì Hoàng (1768-1814)   Tú tài 1807,con Ngô thì Sỹ.

Ngô Thì Hường (1774-1821)Tham tri bộ,Phong khê Hầu, đi sứ Thanh,Hiệp trấn Tuyên Quang,Hiệp trấn Lạng Sơn , con Ngô Thì Sỹ.
Năm 1820 trên đường đi sứ qua Vũ Xương được mời đề thơ lưu niệm Hoàng Hạc lâu,sau đó ông mất trên kiệu trên đường đi,dư luận cho là  bị đầu độc.Vua Thanh cho đưa thi hài về nước.

Ngô Thì Du con Ngô tưởng Đạo,tự Trung Phủ,viết 7 hồi trong Hoàng Lê nhất thống  chí.

   Ngô Thì Diễn Giám sinh, con Ngô Thì Nhiệm.

   Ngô Thì Hiệu (1792-1830) dạy học,con Ngô Thì Nhiệm.

       Ngô Thì Giai (1818-1881) dạy học và viết sách,con Ngô Thì Hiệu.

Ngô Thì Thập tham gia viết Hoàng Lê nhất thống chí .

Ngô Thì Lữ Hiệp trấn Hải Dương ,con Ngô Thì Chí.

Ngô Giáp Đậu (1853-1929) con Ngô Thì Giai, Cử nhân, Đốc học Nam Định,viết Việt  nam quốc tuý, sách về Đạo Khổng.

 

 

 

 

DÒNG HỌ NGÔ THÌ: MỘT DÒNG HỌ – MỘT DÒNG VĂN

Cuộc Sống Việt _ Theo Baohatay.com.vn

Thế kỷ XVIII và thế kỉ XIX chứa đựng nhiều biến động lịch sử nhưng cũng là khoảng thời gian mà văn học Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Nhiều tác giả văn học xuất hiện, trong đó có những cây bút thuộc dòng họ Ngô Thì ở xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Đại Thanh, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Các tác giả này đã tập hợp thành một dòng văn nổi tiếng là “Ngô gia văn phái”. 9 tác giả dưới đây là những gương mặt tiêu biểu.

1. Ngô Thì Ức (1709-1736), hiệu là Tuyết Trai cư sĩ. Ông giỏi thơ phú, lại biết cả đàn nhạc và nghề y. Năm 1732, ông dự thi Hương, đỗ Á nguyên (thứ 2); đến năm 1733 dự thi Hội nhưng không đỗ. Đến năm 1736, tuân theo ý cha, ông lại dự thi nhưng chỉ vượt qua được nhị trường (2/4 kì).

Ông là người có công lớn trong việc tạo lập truyền thống văn chương của dòng họ. Tác phẩm của ông còn lại là “Tuyết Trai thi tập”.

2. Ngô Thì Sĩ (1726-1780), tự Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong, biệt hiệu Nhị Thanh cư sĩ (Nhị Thanh là tên một động núi ở Lạng Sơn). Ông là con cả của Ngô Thì Ức. Năm 1743, ông thi Hương từ tam trường đến tứ trường đều đứng đầu, đỗ Hương tiến (Cử nhân) nhưng từ năm sau đó cho đến tận năm 1755 thì các lần dự thi Hội đều hỏng. Năm 1755, ông làm tùy giảng cho thế tử Trịnh Sâm; năm 1764, làm Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây, rồi Cấp sự trung ở Công khoa, Đốc đồng Thái Nguyên. Ông đỗ Hoàng giáp khoa Bính Tuất (1766); năm 1767 làm Đông các hiệu thư; sau làm Hiến sát sứ Thanh Hoa (Thanh Hóa), Thiêm đô ngự sử (có nhiệm vụ vạch ra những sai trái của triều đình), Đốc trấn Lạng Sơn.

Ông là người có tư tưởng cải cách, học vấn uyên thâm, có tài năng văn chương. Tác phẩm của ông còn nhiều, cả văn và sử, tiêu biểu là: “Đại Việt sử kí tiền biên”, “Việt sử tiêu án”, “Ngọ Phong văn tập”, “Anh ngôn thi tập”, “Hải Đông chí lược”… Bài thơ “TỨC CẢNH” cho thấy ông có một hồn lãng mạn:

Bên suối trong xanh một mái nhà
Tháng ba gió ấm liễu la tha
Giếng gai người ở say đàn kiến
Dâu duối thôn nào rộn tiếng gà

 Dưới đóa đào thơ oanh thỏ thẻ

Bên cầu nước chảy bướm hồn mơ

Dạt dào thi hứng xuân nồng đượm
Mê mải thôi xao  bóng đã tà.

3. Ngô Thì Nhậm (1746-1803) tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, là con trưởng của Ngô Thì Sĩ. Năm 23 tuổi, ông đỗ Giải nguyên kì thi Hương, 24 tuổi đỗ khoa Sĩ vọng, 29 tuổi đỗ Tiến sĩ (1775). Dưới thời Lê Trịnh, ông làm Hiến sát sứ, Đốc đồng, Hiệu thư viện Hàn lâm kiêm Toản tu quốc sử quán. Trong thảm án năm Canh Tý (1780) làm cho cha và 3 người bạn của cha ông phải chết, sự liên đới của ông đến nay vẫn còn là một nghi án. Năm 1786, nhà Lê vời ông ra làm Đô cấp sự trung bộ Hộ, rồi thăng Hiệu thư kiêm Toản tu quốc sử. Năm 1788, Nguyễn Huệ trọng dụng ông, cử làm Thượng thư bộ Binh, Tổng tài quốc sử quán… Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ nhà Tây Sơn, ông bị bắt giam và bị tra tấn đến chết. Ông giỏi chính trị, quân sự, ngoại giao, triết học, lịch sử… Thơ văn của ông có các tập tiêu biểu: “Hàn các anh hoa”, “Bang giao tập”, “Bang giao hảo thoại”, “Hy Doãn thi văn tập”, “Hào môn ai lục”, “Hoàng Hoa đồ phả”… riêng “Hoàng Lê nhất thống chí” được coi là bộ tiểu thuyết lịch sử bằng văn xuôi đầu tiên ở nước ta. Bài thơ “Nhuệ Giang phiếm tịch” (Buổi chiều thả thuyền trên sông Nhuệ) cho thấy tình quê luôn luôn sâu nặng trong ông:

Cuộc chơi nay vượt hẳn xưa rồi

Chiều nay trời thu nhẹ mái xuôi

Nước lặng một dòng giăng lụa trắng

Sao thưa vài chấm ánh thuyền côi

Tia vàng nắng quái lùm cây lộc

Đốm lửa đèn chài mặt bến trôi

Bồng Đảo lâu đài đâu đó nhỉ
Chân tu tìm giữa điểm linh đài.

4. Ngô Thì Chí (1753-1788), tự Hạc Tốn, hiệu Uyên Mật; là con trai của Ngô Thì Sĩ, là em ruột của Ngô Thì Nhậm. Ông đỗ Á nguyên Hương tiến (Cử nhân, đứng thứ 2), làm quan đến Thiêm sư bình chương tỉnh sự. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông chạy theo Lê Chiêu Thống lên Lạng Sơn nhưng giữa đường thì bị bệnh và mất.

Sinh thời, ông tự nhận mình không có tài nhưng tác phẩm lại cho thấy ông khá sâu sắc, hiểu biết rộng. Ông có một số sáng tác in trong tập “Học Phi thi tập”. Một số ý kiến cho rằng ông là người khởi xướng việc viết bộ sách “Hoàng Lê nhất thống chí” và viết 14 hồi đầu.

5. Ngô Thì Trí (1766-?), hiệu Dưỡng Hạo, là con thứ 6 của Ngô Thì Sĩ. Ông làm quan dưới triều Tây Sơn đến chức Hữu thị lang bộ Hộ, tước Bính phong hầu. Khi nhà Nguyễn lên, ông không ra làm quan để tỏ lòng trung với triều trước nhưng vẫn khuyến khích các em, các cháu học tập để phục vụ triều đình đương thời.

Tác phẩm của ông còn vài chục bài, trong đó nổi bật có bài “Đăng ải vân sơn phú” ca ngợi Tây Sơn. Ông là người khởi xướng việc sưu tập các tác phẩm của dòng họ Ngô.

6. Ngô Thì Hoàng (1768-1814) là con Ngô Thì Sĩ; là anh em cùng cha khác mẹ với Ngô Thì Nhậm; là em Ngô Thì Trí; là anh Ngô Thì Vị. Năm 1807, ông đỗ Tú tài triều Nguyễn; từng đi tu và dạy học.

Sáng tác thơ văn của ông được tập hợp trong tập “Thạch ổ di chương”. Nội dung tư tưởng các tác phẩm văn chương của ông đều để nói đạo lí, nêu cao nhân nghĩa; thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước…

7. Ngô Thì Du (1772-1840) tự Trưng Phủ, là con của Ngô Thì Đạo. Ông học giỏi, dự nhiều kì thi nhưng không đậu. Tuy nhiên, triều đình nhận thấy ông là người có tài nên đã đưa vào làm ở Sử cục, sau làm Đốc học Hải Dương nhưng đến năm 1827 thì ông cáo quan về quê, dạy học, làm ruộng.

Thơ văn của ông ghi lại rõ nét sự biến thiên của thế sự, bày tỏ nỗi lòng người nghệ sĩ trước cuộc sống. Các sáng tác của ông còn 76 bài, được ghi trong “Trưng Phủ công thi văn”, phản ánh tâm sự cá nhân trước tình hình xã hội cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX.

8. Ngô Thì Vị (1774-1821), còn gọi là Ngô Vị và còn có tên là Ngô Thì Hương, tự Thành Phủ, hiệu Ước Trai; là con út của Ngô Thì Sĩ, là em ruột của Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Trí. Ông không đỗ đạt gì nhưng có tài năng và rất nổi tiếng; năm 19 tuổi, được Gia Long thu nhận, cử làm Thiêm sự bộ Lại, rồi Hữu tham tri bộ Lại, tước Lễ Khê hầu, sau làm Hiệp trấn Lạng Sơn (1814-1817), Đề điệu trường thi Gia Định năm 1919. Ông hai lần đi sứ nhà Thanh, năm 1809 làm phó sứ và năm 1820 làm chánh sứ nhưng trên hành trình về nước, vừa qua biên giới thì bị bệnh mất khi mới 47 tuổi.

Thơ văn của ông thu thập trong bộ “Ngô gia văn phái” dưới các tên sách “Mai dịch tu dư” (tập ký sự bằng thơ), ghi đầy đủ chi tiết cuộc đi sứ; “Thù phụng toàn tập” “Thành Phủ công thi văn”, “Thành phủ công di thảo”. Ông viết không nhiều nhưng phong cách độc đáo, thiên về ghi cảnh thực. Ông còn khảo cứu, biện luận tích xưa, phê phán nếp cũ lạc hậu; nêu cao tinh thần tự hào dân tộc… Bài thơ “Đề Hoàng Hạc Lâu” cho thấy thơ ông chứa chất nhiều tâm sự:

Hán Thủy bên thành nhuốm sắc thâu (thu)
Lầu không vắng vẻ thấy tiên đâu
Bao giờ trở lại ơi hoàng hạ
Chỉ thấy sông dài trắng bóng âu

Bác Lý thơ thần mà chùn bú

Ông Thôi quê cũ gợi thơ sầ

Sứ giả Việt Nam Ngô Thì V

Đánh bạo đề  thơ viếng cảnh này.

9. Ngô Thì Điển (?-?), hiệu Tĩnh Trai, tự Kính Phủ; là con cả của Ngô Thì Nhậm. Ông là Giám sinh (Cử nhân) Quốc Tử Giám, giỏi học thuật, văn chương. Ông là người đã tham gia sửa, chép và khắc in sách “Đại Việt sử kí tiền biên” do ông nội Ngô Thì Sĩ soạn. Riêng ông còn tập “Dưỡng chuyết thi văn”, thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người ; tiếp nối xứng đáng truyền thống dòng họ.

Ngô Thì Điển đã có công tập hợp, biên soạn các tác phẩm của dòng họ Ngô thành bộ sách “Ngô gia văn phái” nổi tiếng. Bộ sách được biên soạn vào khoảng đầu thời Nguyễn, bắt đầu từ năm 1803 đến năm 1822. Ban đầu, bộ sách gồm 20 quyển, về sau được bổ sung thêm. Tất cả các bản sách đều chép tay (có thể do điều kiện in ấn còn khó khăn). Đây là bộ sách tập hợp nhiều tư liệu quý về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, ngoại giao… có sự nhất quán về tư tưởng, về văn phong của từng tác giả, đồng thời thể hiện được bản sắc của “dòng họ Ngô một bồ Tiến sĩ” khởi đầu từ ông tổ văn chương, học thuật là Ngô Trân.

Điều rất đáng trân trọng là hầu hết các tác giả dòng văn họ Ngô đều trọng nghĩa lí, sống thanh kiệm, bền chí và đều là những bậc hiền năng. Với họ, việc học chủ yếu là học đạo làm người; viết văn, làm thơ là đề “chở đạo”, để nói chí. Họ là những kẻ sĩ tiến bộ, yêu nước, yêu dân, có đóng góp chấn hưng đất nước.

 

Cuộc Sống Việt _ Theo Baohatay.com.vn


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

%d người thích bài này: