Đăng bởi: nghienson | Tháng Một 4, 2013

Họ Ngô- Đồng Phang, Xã Định Hoà huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá-Dòng Nam Quận công Ngô Khắc Cung (từ đời 21)

Dòng  Nam Quận công Ngô Khắc Cung (từ đời 21)

Họ Ngô- Đồng Phang,

Xã Định Hoà  huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá

21   Ngô Khắc Cung    (1452-1541 )       Nam Quận công là con thứ 7 Ngô Khế, có nhà thờ ở đội 8 xã

Định Hoà huyện Yên Định, Sùng Nghi Thượng sỹ, sinh ngày

10 tháng 3 năm Nhâm Thân(1452) mất ngày 10 tháng giêng năm

Tân sửu (1541),mộ táng tại địa phận của một làng ở Yên Định,nay là xã

Định Tân huyện Yên Định, giáp Định Hoà -Đồng Phang cũ, quan điền 5 sào,

Hiệp mưu thuần tín tá lý đồng đức Hòang tôn Công thần,Đông quân

                                          Đô đốc phủ Chưởng Phủ sự- Thượng trụ quốc; gia Thượng trí.

Triều Nguyễn tặng phong Dực bảo Trung hưng Đoan túc Tôn thần.

Bà Thái Trường Trường quốc Công chúa Lê Thị Ngọc Phiến, hiệu Bà

Dịch Quận phu nhân, người thôn Dụng Tú là con gái  Sấm Thọ Hầu Lê Đài,

mất 24- 9 ,mộ ở tang Đào Ao xã Sinh Dược huyện Gia Viễn,

sinh:             Ngô Văn Diệp,

hai con gái : Ngọc Phương lấy Uy Quận công,

Ngọc Phi lấy Dũng Quận công.

22   Ngô Văn Diệp            Tham đốc Thân quân thần vũ,Tứ vệ quân vụ,Dương võ uy dũng

Thượng tưóng quân Triều an Hầu,mất ngày 27 tháng 10,mộ táng tại xứ

Ông Voi.Bà Nguyễn Thị Ba hiệu Từ An Phu nhân,mất 27.04,mộ

táng tại xứ Đồng Kênh, sinh Bình Giang Hầu Ngô Đình Tú.

23   Ngô Đình Tú              Tham đốc, Bình Giang Hầu, gia phong Điện tiền Đô hiệu điểm ty

Tả Hiệu điểm Ninh Quận công, mất ngày 22-8, mộ táng tại xứ

Đồng Kênh, bà Nguyễn Thị Hiền, hiệu Từ Hạnh, người xã Đông

Biện huyện Vĩnh Lộc con gái Thái phó Lương Quận công,

mất ngày 15.05,mộ táng tại xã Nghĩa Trai huyện Nông Cống,

sinh :

Tây Nham Hầu Ngô Văn  Khang,

Hoa Đình Hầu Ngô Văn  Triết,

Xuân Dương Bá Ngô Gia Tường.

24   Ngô Văn Triết            Hoa Đình Hầu.Bà Bùi Thị Đầu(Cháu Đại tướng Bùi Bị), sinh

Hòanh Tài Hầu Ngô Văn Lễ.

Ông mất mồng 9 tháng 7,bà mất 13 tháng 5.

25   Ngô Văn Lễ                Hòanh Tài Hầu.Trông coi điện Thừa Hoa.Bà Bùi Thị Yên,

sinh Ngô Văn Hữu,Ngô Văn Thiện, Ngô Thị Yến, Ngô Thị Am, Ngô Thị Dung.

26   Ngô Văn Hữu             Nghĩa Sơn Hầu.Bà Phan Thị Viên, sinh Ngô Thị Quốc.

26   Ngô Văn Thiện           Phù Dương Bá.Bà Trần Thị Ninh, sinh Ngô Nhiên, Ngô Thị Yến,

Ngô Thị Truyền ,” chi phái biệt quán”.

24   Ngô Gia Tường           Xuân Dương Bá, sinh Ngô Gia Cẩm

25   Ngô Gia Cẩm               sinh Ngô Văn Minh,Ngô Văn Nghinh,Ngô Văn Ích.

24   Ngô Văn Khang         Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ

ty Thiểm sử Tây Nham Hầu (sau phong Tây Quận công),

mất ngày 6 tháng 10, mộ táng tại xứ Đồng Kênh làng Thung Thượng.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuấn hiệu Từ Quý Đại phu nhân,mất ngày

5 tháng 9,táng tạ xứ Cây Gạo (Phác Cá),

Sinh: Lương Tài Hầu Ngô Văn Cẩm,

Hoa Dương Tử Ngô văn Nhuệ.

Ngô Văn Nhuệ Thủ lăng quan, mất ngày 15 tháng 6, biệt chi.

25   Ngô Văn Cẩm            Lương Tài Hầu, Phụ quốc thuần tín dương võ uy dũng Công thần

Đô đốc Thần vũ tứ vệ quân vụ Tả Kiểm điểm, thuỵ Cương nghị

Thượng sỹ mất 22 tháng 2, mộ ở xứ đồng Thung Thượng.

Bà Nguyễn Thị Phấn người xã Phù Minh huyện Hoằng Hoá, hiệu Từ tín Phu

nhân,mất 15 tháng 10,mộ táng xứ Ải Trù làng Thung Thượng,

sinh :Dũng Lâm Hầu Ngô Văn Lộc,

Đông Phú Hầu Ngô Văn Phong,

Thắng Mỹ Hầu Ngô Văn Chấn,

Ngô Thị Ngọc Viên lấy Phúc Quận công,

Ngô Thị Ngọc Điển lấy Dũng Nghị Hầu.

26   Ngô Văn Lộc              Dương võ uy dũng Công thần ,Tả Hiệu điểm Tham đốc Dũng Lâm

Hầu, thăng Đô đốc, thụy Trung Chính, sinh Ngô Văn Cảo.

26 Ngô Văn Chấn              Mỹ Thắng Hầu,ở quê mẹ.

27   Ngô Văn Cảo             Đô chỉ huy sứ Thành Lộc Hầu, sinh Ngô Xuân Tế,Ngô Khắc

Nghi,Ngô Đình Can.

26   Ngô Văn Phong         Tán trị Công thần Tham đốc thần vũ thân quân Tứ vệ quân vụ Tả

Hiệu điểm, thăng Thiếu úy Đồng Phú Hầu, húy Hoằng, thuỵ

Phúc Thịnh Thượng sỹ, mất ngày 2 tháng 2, mộ táng ở xứ Cồn Son.

Bà cả sinh Ngô Văn Thích(Trạch),Ngô Phúc Chính.

Bà kế Nguyễn Thị Ngọc Lội hiệu Từ Thái Phu nhân người làng

Gia Miêu huyện Tông Sơn con gái Nguyễn Tướng công,

mất ngày 26 tháng 6,mộ táng tại  lèn Trúc gần xứ Lộc Đàm,

sinh Ngô Tiến Vinh,theo di chúc của bố được lập làm con trưởng để

thừa tông tự.

27   Ngô Văn Thích(Trạch) Thiệu Chúc Hầu sinh Ngô Đình Trường,Ngô Văn Kính (họ Đô Quan).

28   Ngô Đình Trường       sinh Ngô Đình Hiệu (chi này chưa rõ).

28   Ngô Văn Kính             sinh Ngô Văn Tuấn.

29   Ngô Văn Tuấn             sinh Ngô Văn Cẩm.

27   Ngô Tiến Vinh            Tán trị Công thần Điện tiền Đô kiểm điểm ty Tả Hiệu điểm, thăng

Đặc tiến Phụ quốc Chiêu vũ uy liệt Thượng tướng quân Cẩm y vệ thự

vệ sự,thự thụ Thái úy,gia Chỉ nội Hành khiển Đằng Giang Hầu,huý Bích,

thuỵ Phúc Nghiêm thượng sỹ,

mất ngày 10 tháng 3 năm Đinh tỵ (1677),ông bà hợp táng ở xứ Đèn Trúc.

Bà Ngô Thị Ngọc Trì hiệu Từ Hỷ chính Phu nhân,người thôn Thụy Ký

huyện Nga Sơn phủ Hà Trung, mất ngày 7 tháng 12,

sinh :Ngô Đình Quý,

Ngô Đình Cơ,

Ngô Đình Quyền húy Công,

Ngô Đình Lộc,

Ngô Thị Loan.

Hai bà Nguyễn Ngọc Nương,Vũ Diệu Niêm ở An Nông huyện Nam Ninh

Nam Định  sinh Ngô Bá Dương, Ngô Sỹ Cơ.

28   Ngô Đình Quý            huý Quế,Thiêm Lộc Hầu, mất ngày 13 tháng 3 năm Nhâm ngọ (1702).

Bà cả người làng Bồi nay là làng Bùi thuộc xã Định Bình,

sinh Ngô Đình Đáo,Ngô Đình Nậm

( ở làng hiện nay có một chi họ Ngô chỉ biết  được 6 đời nên chưa xếp

được thế thứ).

Bà hai người xã Phú Thị huyện Gia Viễn,

sinh Ngô Đình Tý,Ngô Đình Sơn (cả hai phạp tự),

Ngô Đình Soi sinh Ngô Đình Mưu  biệt chi chưa rõ ở đâu.

29   Ngô Đình Đáo            Bà Trịnh Thị Huề,người làng Bùi, sinh ba người thất truyền ,

tồn nghi còn lại chi họ Ngô làng Căng Thượng.

28   Ngô Đình Cơ              Chánh Đội trưởng Phan Long Hầu, huý Dương;

thụy Phúc Tộ mất 28 tháng 4  năm Ất tỵ (1725),mộ táng ở xứ Cây Thị.

Bà Lê Thị Thuyết hiệu Từ Phương phu nhân,người làng Căng Thượng

mất mồng 2 tháng 2,

sinh Ngô Đình Bạt,Ngô Đình Diêu,Ngô Đình Bốn.

29   Ngô Đình Bốn            Bà Nguyễn Thị Hậu,sinh Ngô Đình Hoành(vô tự),

Ngô Thị Cốc,

Ngô Thị Vĩnh,

Ngô Thị Ảnh

Ngô Đình Diên,

30   Ngô Đình Hoành        Bà ở làng Tiên Nông tổng Hải Quật

29   Ngô Đình Diêu           bà Nguyễn Thị Tế sinh Ngô Đình Tú,Ngô Đình Tham,Ngô Đình Hạo,

Ngô Đình Thảo(Thai)

30 Ngô Đình Tú                sinh Ngô Đình Nghi

30   Ngô ĐìnhTú            có cháu nội là Ngô Đình Nghi

30   Ngô Đình Tham          sinh Ngô Đình Huấn, Ngô Đình Dinh

30   Ngô Đình Hạo            sinh Ngô Văn Hoạt, Ngô Văn Quy

30   Ngô Đình Thảo           sinh Ngô Quốc Lương,Ngô Xuân Đài,Ngô Xuân Vực(các bản chữ Hán

chép chữ Vực,khắc chữ Thành một cái phẩy,tồn nghi Ngô Xuân Thành

là Đàm Quận công,nay là thủy tổ họ Cự Thôn ở Nga Sơn-theo xác định

của những người ở Cự Thôn),

Ngô Xuân Tuyên

31   Ngô Quốc Lương       Bà cả Vũ Thị Chiến, sinh Ngô Xuân Điều, bà hai sinh Ngô Xuân Thực

31   Ngô Xuân Tuyên         sinh Ngô Ân

31   Ngô Xuân Đài            sinh Ngô Xuân Thụy

31   Ngô Xuân Vực           thuỷ tổ họ Cự Thôn, sinh Ngô Xuân Đạo,Ngô  Xuân Đam,Ngô Xuân Huy,

Ngô An,phả Cự Thôn chép thêm:Ngô Đình Miên,Ngô Đình Thiệu

28   Ngô Đình Quyền    ( 1640-1713)            Phó Quản lĩnh Nhuận Trạch Hầu,thụy Phúc Toàn, sinh năm Canh

thìn 1640, mất ngày 23 tháng 10 năm Quý tỵ 1713, có ba bà:

Bà cả Lê Thị Bái hiệu Trinh Thục Phu nhân mất ngày  5 tháng 2,mộ táng xứ

đồng Kênh.

Bà thứ Lê Thị Hương hiệu Từ Thuận Nhụ nhân

mất 28 tháng 2,sinh Ngô Phúc Thọ, Ngô Phúc Tâm, Ngô Phúc Chính.

Bà thứ ba Lê Thị Ba, sinh Ngô Đình Trinh huý Phúc Tập,

Ngô Đình Phúc,

Ngô Đình Trủng,

(một chi đi ở Bái Dương,một chi ở Nguyệt Lâm).

29  Ngô Đình Trinh          tự Phúc Tập mất 25 tháng giêng ,bà Ngô Thị Tỏan,hiệu Tùy Quán

mất ngày 5 tháng 2,sinh Ngô Đình Thuyên,Ngô Đình Sỹ.

30   Ngô Đình Thuyên      sinh Ngô Đình Tiêu.

31   Ngô Đình Tiêu           sinh Ngô Văn Bút,Ngô Văn Thỏa,Ngô Văn Tráng

30   Ngô Đình Sỹ              tự Phúc Kiến , bà cả sinh ba trai về sau chưa rõ.

Bà kế họ Vũ hiệu Từ Mẫn mất ngày 19 tháng 1,sinh:

Ngô Đình Bàn (có 5 con trai gái),

Ngô Huy Điện khoa Đinh mão thi Hội vào Tam trường (sinh 6 con trai gái),

Ngô Huy Diễn,

Ngô Văn Hùm.

29  Ngô Đình Phúc           Mậu Nghĩa Hầu mất ngày 2 tháng 11,sinh Ngô Đình Vỹ

(Ngô Đình Vỹ sinh con gái).

29  Ngô Đình Trủng          sinh Ngô Đình Chế.

29   Ngô Phúc Thọ            Về trấn Sơn Nam Hạ cùng ba anh em, một ở Bái Dương, một ở

Minh Giám, một ở Tống Vũ. Chi Bái Dương giữ nguyên họ Ngô.

Còn hai chi Minh Giám và Tống Vũ đổi họ Phan.

Sau khi đã dời, ông Ngô Phúc Thọ trở về Đồng Phang đón cha mẹ về nuôi,

vài năm sau Ông cụ mất, Bà nhớ quê cũ nên trở về thăm quê và mất

ở Đồng Phang.

Bởi vậy chi phái ở Thái Bình tôn Ngô quý Công

tên chữ là Phúc Toàn tức Ngô Đình Quyền làm Thuỷ tổ.

Ngô Phúc Thọ sinh:

Cương Dũng Hầu Phúc Cương,

Uy Dũng Công Ngô Khắc Khoan,

Phú Vinh Hầu Ngô Chính Đức.

29   Ngô Phúc Chính         tự Phúc Lập, mất ngày 26 tháng 1, biệt chi Tống Vũ tỉnh Thái bình .

Bà Lê thị Toả hiệu Từ Thục mất ngày 25 tháng 3,

sinh :Ngô Đình Thuyên, Ngô Đình Sỹ, Ngô Đình Phúc

30   Ngô Đình Thuyên       sinh Ngô Đình Úc,Ngô  Đình Tho, Ngộ Đình Tráng

30   Ngô Đình Sỹ              tự Phúc Giăng, mất ngày 13 tháng 5, bà Lê Thị hiệu Tứ Tại, sinh ba con

không rõ, bà thứ hiệu Tứ Mãn sinh Ngô Đình Bản.

31   Ngô Đình Bản            sinh Ngô Huy Điện, Ngô Cung Diễn, Ngô Huy Bành

30   Ngô Đình Phúc           Mậu Nghĩa Hầu, mấtngày  2 tháng 10, sinh Ngô Đình Vỹ

31   Ngô Đình Vỹ              sinh Ngô Đình Bình, Ngô Đình Chế và bốn gái.

Dòng Ngô Khắc Cung ở  Đồng Phang

28   Ngô Đình Lộc            Bái Trung Hầu,huý Tham,thụy Nhã Thực sinh năm Quý hợi,mất ngày 13

                                          tháng 3 năm Kỷ hợi (1683-1779), con thứ tư Ngô Tiến Vinh .

Bà Nguyễn Thị huý Nhu, hiệu Diện Viên, sinh :

Ngô Đình Truyền,

Ngô Đình Khẳng,

Ngô Đình Tương,

Ngô Đình Thiệu.

Theo bản phả Đồng Phang có một chi thuộc dòng Ngô Khắc Cung

ghi thế thứ Ngô Đình Lộc.

29   Ngô Đình Truyền      tự Mẫn ,bà Lê Thị Mão(1752-1796) sinh Ngô Văn Lượng,Ngô Thị Khai

30  Ngô Văn Lượng         có hai bà sinh tám gái,một con trai vô tự, con nuôi Ngô Đình Vận

29  Ngô Đình Khẳng        tự Phúc Trung,mất 1800,bà Lê Thị Sử ,

sinh :Ngô Đình Thức,Ngô Đình Kim,Ngô Đình Nhạc,Ngô Đình Vưu,

Ngô Đình Phác.

30   Ngô Đình Thức          Bà Vũ Thị Tấn,người Phúc Lai Đồng Phang, sinh Ngô Đình Phiệt,

Ngô Đình  Đích,Ngô Đình Vận .Hiện

nay ở làng có một chi họ Ngô cải họ Vũ chưa xếp được thế thứ.

30   Ngô Đình Kim            Bà họ Võ huý Chiểu sinh Ngô Tôn Phong, Ngô Thị Liên, Ngô Thị Lẫm, Ngô Thị

Khán ,bà thứ sinh Ngô Duy Hứa, Ngô Duy Trọng, Ngô Duy Cung

30   Ngô Đình Nhạc          Bà Vũ thị Hồi, sinh Ngô Đình Dũng, Ngô Thị Tường

30   Ngô Đình Vưu           sinh Phan Thái Huệ đi ở nơi khác

30   Ngô Đình Phác           sinh Ngô Văn Dã, Ngô Văn Hướng, Ngô Văn Tạc, Ngô Thị Gái,  chưa rõ ở đâu.

29  Ngô Đình Tương          bà Ngô Thị Lâm,sinh Ngô Bát Hoa,Ngô Đình Phương,Ngô Thị Bính,

Ngô Thị Tiêu,Ngô Thị Dư,dời về Lam Sơn(Chi Ngô Mân Lam Sơn

ngày nay,đến đời 37,38).

30 Ngô Bát Hoa                bà Ngô Thị Hảo,sinh một trai bốn gái.

29   Ngô Đình Nậm          Con Thiêm lộc Hầu Ngô Đình Quý,

ông là con cháu ngoại của Hoàng Tôn nên được miễn dịch.

Bà Lê Quý Thị huý Mão hiệu Tứ Cấp, sinh Ngô Văn Lương, Ngô Thị Khai

30   Ngô Văn Lương         có hai bà sinh:Ngô Thị Đa, Ngô Thị Sính,Ngô Văn Vân con nuôi ,

Ngô Tôn Hoán, Ngô Thị Thay

31   Ngô Duy Trọng          Bà Nguyễn Thị Vui hiệu Từ Châm, sinh Ngô Duy Phụ, Ngô Văn Qui, Ngô Thị Ý,

Ngô Thị Hồi, Ngô Thị Phong, Ngô Thị Thay

32   Ngô Duy Phụ             bà Lê Thị Lãng sinh Ngô Hạc,Ngô Văn Quy

33   Ngô Hạc                     bà Lê Thị Chước,bà thứ Thị Dới sinh Ngô Văn Tiết,Ngô Thị Vinh,Ngô Thị Vẹn,Ngô Thị Oanh,Ngô Thị Tẻo

34   Ngô Văn Tiết              sinh Ngô Văn Thuộc,Ngô Nghi,Ngô Thị Hồng Nga

33   Ngô Văn  Quy            Bà họ Lê huý Chước, sinh Ngô Văn Hàm,Ngô Văn Long, Ngô Văn Tùng

34   Ngô Văn Long           tức Lương,bà Lê Thị Hồng, sinh Ngô Văn Phẩm, Ngô Văn Hàm, Ngô Văn Chặt,

Ngô Thị Vượn,Ngô Thị Thua

35   Ngô Văn Phẩm           sinh Ngô Văn Lục

35   Ngô Văn Hàm            sinh Ngô Văn…

35   Ngô Văn Chặt            sinh Ngô Văn Vững

34   Ngô Văn Tùng            Bà Lê Thị Kiệu, sinh Ngô Thị Bi, Ngô Văn An

35   Ngô Văn An               sinh Ngô Văn Tác,Ngô Văn Chín, Ngô Văn Mười, Ngô Thị Toa, Ngô Thị Sáu,

Ngô Thị Bảy.

Trên đây là dòng Nam Quận công Ngô Khắc Cung.Các chi phái hiện nay cư trú nguyên quán không nhiều.Các chi phái đã thiên cư nơi khác đến nay đã liên lạc được tuy nhiều nhưng chưa thực đầy đủ,

như các chi họ Ngô dòng Ngô Tiến Vinh ở Tống Văn,Minh Giám, Trình Phố,Phạm Xá,Nghĩa Hưng,

An Nông thuộc trấn Sơn Nam Hạ cũ,họ Ngô- Cự Thôn huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa.v.v..

sẽ chép thế thứ lần lượt ở sau.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

Chuyên mục

%d bloggers like this: