Đăng bởi: nghienson | Tháng Mười Hai 18, 2019

Dòng Điện bàn Hầu Ngô Hồng (Đời 20)

Dòng Điện bàn Hầu Ngô Hồng (Đời 20)

1.1.Họ Ngô Doãn Bình ngô,

Xã Thiệu vũ,huyện Thiệu yên,Thanh hóa

Con cháu Ngô Hồng theo tự điền và cũng là quê mẹ về ở thôn Bình ngô xã Cán xuyên huyện Thuỵ nguyên phủ Thiệu thiên, sau đổi Thiệu hoá,nay là xã Thiệu vũ, huyện Thiệu yên, tỉnh Thanh hoá.

Theo phả cũ, Ngô Hồng con Ngô Từ, vào đời thứ 20, sinh Nghĩa Quận công Ngô Điện đời thứ 21.Phả cũ chỉ chép đến đó.Phả của họ Bình ngô chép rằng: Chỉ biết từ thuỷ tổ Văn xuyên Nam còn về trước xa hơn nữa thì không rõ.Nối dòng đến nay vào khoảng 16,17 đời,có thể

thiếu vài đời trong khi thiên cư.Nay tạm lấy Thuỷ tổ Văn xuyên Nam làm đời thứ nhất.

Hiện nay chia thành ba chi họ,dòng chính ở Bình ngô,một dòng thiên cư làng Tràng xuân,

xã Đông ninh, huyện Đông sơn,một chi họ thiên cư xã Tam sơn Đông ngàn, huyện Tiên sơn, tỉnh Hà bắc (họ Ngô Gia).Đời thứ nhất ứng với đời thứ 24 trong hệ phả chung.

20 Ngô Hồng Tham đốc thân quân thần vũ Tứ vệ quân vụ Điện bàn Hầu,Hữu hiệu

Điểm,kỵ mồng 5 tháng 10,mộ ở xã Chấn xuyên huyện Thụy

nguyên,đựơc cấp 100 mẫu tự điền ở xứ Di tán thôn Bình ngô xã Chấn

xuyên huyện Thụy nguyên.

Sinh Ngô Điện.

21 Ngô Điện Nghĩa Quận công.Sinh Ngô Lưu.

22 Ngô Lưu(Uyên) Thái bảo Tá Quận công ,chi phái ở ngọai quán .

Từ đây do mất phả có thể gián đọan một vài đời.

Đời 1 Ngô Miên tự Văn Cẩm,Văn xuyên Nam, niên hiệu Hoàng Định (1601-

1619),Quang tiến Thận lộc Đại phu, Đại lý tự Thiếu khanh,

thăng Văn xuyên Bá.

Bà Nguyễn thị Tuyết, sinh Ngô Đính.

2 Ngô Đính Lang trung Binh bộ,năm Dương Hoà (1635-1643) phong

(tự Hưng Vận) Tán trị Công thần, Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu.

Sinh Ngô Kiên,Ngô tự Bá Phán,thị Tương.

3 Ngô Kiên Bà cả sinh Ngô Chung, Ngô Đỉnh, thị Chim.

(tự Đạo Thành) Bà thứ sinh Ngô Kiền tự Phúc Ý,đem con về quê bà làm ăn ,thành

chi họ ở Đông lĩnh huyện Đông sơn Thanh hóa ngày nay.

4 Ngô Chung Tự Đạo Bình,sinh Ngô Chim.

4 Ngô Đỉnh Tự Trung Túc,sinh hai con gái.

5 Ngô Chim Tự Đạo Thuần,sinh Ngô Bản, Ngô Tý.

6 Ngô Tý Sinh Ngô Tô, Ngô Hoà, Ngô Ứớc, Ngô Hữu.

7 Ngô Tô Sinh Ngô Khuyến.

8 Ngô Khuyến Sinh Ngô Suyền.

9 Ngô Suyền Sinh Ngô Duyệt,Ngô Phong,Ngô Hậu.

10 Ngô Duyệt Sinh Ngô Sum (vt).

Ngô Phong Sinh Ngô trọng Phường, Ngô trọng Bồi.

Ngô Hậu Sinh Ngô Quận ,Trọng Công,Ngô Lân.

11 Ngô trọng Phường sinh Ngô Kính, Ngô Ánh.

Ngô trọng Bồi sinh Ngô trọng Huân.

Ngô Quận sinh Ngô Ngoạn, Ngô Sài, Ngô Sức.

Ngô trọng Công Hàm Cửu phẩm năm Thành Thái thứ 5(1894),

sinh Ngô Cốn, Văn Cần.

Ngô Lân sinh Ngô Bàng, Ngô Lệ, Ngô Dật.

12 Ngô Kính Thừa tự Ngô Sum, sinh Ngô Điển, Ngô Duyên, Ngô Ngáo,

Ngô Xúc.

Ngô Ánh Sinh Ngô Khánh, Ngô Cương.

Ngô trọng Huân hai bà, sinh Ngô Tạo, Ngô Thực.

Ngô Ngoạn Sinh Ngô Lược, Ngô Sách.

Ngô Sài Sinh Ngô thị Giai.

Ngô Sức Sinh Ngô văn Quận, Ngô văn Bột.

Ngô Cốn

Ngô văn Cần

Ngô Lệ

Ngô Bàng Sinh Ngô văn Chương, Ngô văn Dương,Văn Tấu,Ngô Dật.

13 Ngô Điển Sinh 1 trai 3 gái.

Ngô Khích Sinh Ngô trọng Lịch, Ngô trọng Thông.

Ngô Lược Bà thị Thường.

Ngô Sách Bà thị Nhơ.

Ngô Xúc Bà thị Khuông, sinh Ngô văn Thường.

Ngô Khánh Bà thị Đặng, sinh Ngô văn Chung.

Ngô Cương sinh Ngô văn Trích.

Chi phái Ngô Thuyền (Thanh hóa)

3 Ngô …tự Bá Phán Bà Nguyễn thị Cấu,sinh ông Hương trưởng,ông Đẩu,ông Tích.

4 Ông Hương trưởng (thuỵ Phương Xuân), sinh Ngô phương Viên,Ngô Xuân.

5 Ngô phương Viên Chuẩn tường Bá,bà Dương thị Đỏ sinh Ngô phúc Nhạ,

Ngô …Tiến công Thị lang.

6 Ngô phúc Nhạ Cai Hợp thời Lê Hiển Tôn,làm Tri bạ vệ Thần sách,

(tự Bá Nghi) có tên là Ngô phúc Đạo.Bà cả Dương thị Anh sinh

Ngô thị Nhạc,Ngô khắc Trạch.

Bà thứ sinh 9 con trai gái ở xã Tam sơn Hà bắc(Họ Ngô Gia).

7 Ngô khắc Trạch sinh Ngô Y và 1 gái.

8 Ngô Y Tự Nguyên Thâu,Cai đội ,sinh Ngô doãn Bảo,thị Di,thị Trường,

thị Lệ.

9 Ngô doãn Bảo Tự Phúc Cân,sinh năm Cảnh Hưng,mất năm Minh Mạng,sinh

Ngô doãn Trai,Ngô doãn Trinh,Ngô doãn Đông.

10 Ngô doãn Đông (Huấn), sinh Doãn Lý,Doãn Điền,Doãn Thường.

11 Ngô doãn Điền Lộ),sinh Ngô doãn Đoán.

12 Ngô doãn Đoán Tự Phúc Thành,sinh Ngô doãn Thuyền.

13 Ngô doãn Thuyền (1906-1994), Ủy viênT.W.ĐCS Việt nam,Bí thư Tỉnh ủy Thanh

hóa,bà họ Ngô Văn cùng làng.

Chi họ Ngô Đông ninh Đông sơn Thanh hóa

4 Ngô Chim Húy Kiền,tự Phúc Ý,theo về quê mẹ. Bà Lê thị Sản ở Đông ninh,

sinh Ngô Trấn,thị Hoan,thị Tạo.

5 Ngô Trấn tự Tiến Dụng .Bà Lê thị Chương, sinh Ngô Báo, Ngô Phúc.

6 Ngô Phúc (Đạo Minh),con thứ lên trưởng, sinh ba trai,( hai vô tự).

7 Ngô Đạo Trực sinh ba con trai.

8 Ngô trọng Chuẩn

Ngô trọng Phiếu (huý Lan)

Ngô trọng Thỉnh

Ngô bá Bình

Ngô bá Trọng

Ngô Toại

Ngô Xuân

9 Ngô trọng Lộc

Ngô trọng Cái

Ngô Diễn

Ngô trọng Thỉnh

Ngô trọng Viên

Ngô bá Trường Trở về Bình ngô sinh Ngô Thành ,Ngô Viên

Ngô Bảng Trở về Binh ngô sinh Ngô Trầm

Ngô Diễn

10 Ngô trọng Cang

Ngô trọng Chính sinh Ngô trọng Thiềm

Ngô trọng Ngoạn

Ngô trọng Sính Ngô trọng Hoạt

Ngô trọng Trầm Ngô trọng Côn Ngô trọng Thành Ngô Viên

11 Ngô trọng Đỉnh Ngô trọng Đổng Ngô trọng Sách Ngô trọng Vẽ

Ngô trọng Bắc Ngô trọng Nhai con Ngô Chỉnh, sinh Kỳ,Bằng

Ngô trọng Nghĩa Ngô trọng Vấn Ngô trọng Biện Ngô trọng Vực

Ngô trọng Thiệu Ngô trọng Mậu Ngô trọng Bôi

Ngô trọng Tàn Ngô Mậu

Cho đến ngày nay còn bốn năm đời chưa ghi chép.

Chi họ Ngô Gia Tam sơn

Huyện Tiên sơn tỉnh Hà bắc

(Phân chi từ Bình ngô, vào đời thứ 7 họ Bình ngô,ứng với đời thứ 29 chung các họ).

29 Ngô văn Đạo tự Phúc Đạo, tức Ngô phúc Nhạ, con Chuẩn tường Bá

Ngô phương Viên và bà Dương thị Đỏ xã Bình ngô.

Ưu binh, làm chức Cai hợp thời Lê Hiển Tôn (1740-1786),

bà thứ lánh về Tam sơn sinh 9 con:Văn Tâm,Văn Hiền,Văn Tân,

thị Trang,Trân,Văn Đang,Văn Tráng,thị Chín,Văn Tòan.

30 Ngô văn Tân sinh Văn Kinh,Văn Tín.

31 Ngô văn Kinh sinh Ngô văn Hoà (vô tự).

Ngô văn Tín sinh Ngô văn Hưu.

32 Ngô văn Hưu sinh Ngô văn Độ.

33 Ngô văn Độ sinh Ngô văn Phẩm.

34 Ngô văn Phẩm sinh Ngô văn Nghiêm,Ngô văn Bảy.

35 Ngô văn Nghiêm sinh Ngô văn Trang.

36 Ngô văn Trang sinh Ngô gia Trọng.

37 Ngô gia Trọng sinh Ngô gia Lang và 2 gái.

35 Ngô văn Bảy sinh Ngô văn Hai.

36 Ngô văn Hai sinh Ngô gia Bính,Ngô gia Cừ

(Gia Cừ trở về Thanh hoá ở Phủ quảng).

30 Ngô văn Toàn sinh Ngô văn Chính.

31 Ngô văn Chính sinh Ngô văn Minh.

32 Ngô văn Minh sinh Ngô cựu Gia.

33 Ngô cựu Gia sinh Ngô gia Vĩnh,Ngô gia Du.

34 Ngô gia Vĩnh sinh Ngô gia Dĩnh (phạp),Ngô gia Viễn.

35 Ngô gia Viễn sinh Ngô gia Kỳ.

36 Ngô gia Kỳ sinh Ngô gia Tường,Ngô gia…và 1 gái.

34 Ngô gia Du tham gia Đông kinh nghĩa thục,sinh 10 con: Thị Sâm

(tự Tác Tân) Thị Linh,Gia Lễ,Gia Kỳ,Gia Khiết,Thị Quy,Thị Thục

Gia Tự,Gia Thảo.

35 Ngô gia Lễ Cử nhân thời Pháp,làm Tri phủ,sinh Gia Hy,Gia Chí,Gia

Trúc,Gia Khiêm,Gia Thạch.

36 Ngô gia Hy Giáo sư y khoa, sinh Gia Trọng (Ts ở Canada),Ngô

gia Lương (Đh),Ngô thị Thuỷ (Bs ở Bỉ),Ngô thị Đại (Bs).

Ngô gia Trúc Giáo sư dược, sinh Ngô gia Thăng (Đh) ,Ngô gia Việt (Ks).

36 Ngô gia Khiêm Ds, sinh Thị Khanh (Đh),Thị Nga.

Ngô gia Thạch Phó Giáo sư Tiến sỹ y, sinh một trai hai gái (có Thị Hương Bs).

35 Ngô gia Kỳ sinh Ngô gia Tường, Ngô gia Khánh (liệt sỹ).

Ngô gia Hiến (Đh) sinh một trai hai gái.

Ngô gia Hiếu sinh ba trai một gái.

Ngô gia Đệ sinh ba trai một gá.

35 Ngô gia Khiết sinh Ngô gia Hổ sinh sáu trai một gái.

Ngô gia Lộc sinh một trai hai gái

Ngô gia Phúc Ks, sinh một trai năm gái

Ngô gia Thọ

Thị Hảo,thị Sỏi,thị Hai,thị Khay

36 Ngô gia Sơn (Pts)

Ngô gia Đài (Ks)

Ngô gia Thuỷ

Ngô gia Tính( Ks)

30 Ngô văn Đăng Sinh Văn Mậu,Văn Xuân,Văn Thành.

31 Ngô văn Thành sinh Ngô văn Tiến,Ngô gia Cậy.

32 Ngô văn Tiến sinh Ngô Giới.

33 Ngô Giới sinh Ngô Mười.

34 Ngô Mười sinh Ngô Bách.

35 Ngô Bách (ls) sinh Ngô gia Chính.

36 Ngô gia Chính sinh Ngô gia Câu.

32 Ngô gia Cậy sinh Ngô gia Thiết.

33 Ngô gia Thiết sinh Ngô gia Ái.

34 Ngô gia Ái sinh Ngô gia Phái.

35 Ngô gia Phái sinh Ngô gia Kỳ,Gia Hanh,Gia Công.

30 Ngô văn Tráng sinh Ngô gia Hưng.

31 Ngô gia Hưng sinh Ngô gia Cát.

32 Ngô gia Cát Tú tài kép,sinh Ngô gia Đạt.

33 Ngô gia Đạt sinh Ngô gia Hiên,Ngô gia Chúc,Ngô gia Châu.

34 Ngô gia Hiên sinh Ngô gia Hương.

35 Ngô gia Hương TUV Bắc Ninh,( ls), sinh Ngô gia Niên.

36 Ngô gia Niên Ls,sinh Ngô gia Ninh (Đh) sinh 3 trai.

34 Ngô gia Chúc sinh Ngô gia Ngọc, Ngô gia Thách và hai gái.

35 Ngô gia Ngọc sinh ba con trai đã có cháu.

34 Ngô gia Châu sinh Ngô gia Trinh,.

35 Ngô gia Trinh Đvcs 30-31, Tuv Bắc giang, sinh Ngô gia Tịnh.

36 Ngô gia Tịnh đã có cháu.

(Con tiep)

Đăng bởi: nghienson | Tháng Mười Hai 17, 2019

DÒNG PHÓ TƯỚNG THÁI BẢO TÀO QUẬN CÔNG NGÔ PHÚC VẠN-CHI V

DÒNG PHÓ TƯỚNG THÁI BẢO TÀO QUẬN CÔNG NGÔ PHÚC VẠN

Xã Trảo Nha huyện Thạch Hà,nay thuộc thị trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh

Dòng dõi Tào Quận công Ngô Phúc Vạn chia làm 10 chi,Từ đường đặt tại Trảo Nha, nay thuộc Thị  trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

CHI V HỌ NGÔ TRẢO NHA

huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

 

28  Ngô Phúc Hộ     1634-1704   Phượng Quận công,con trai thứ năm Tào Quận công Ngô Phúc Vạn .

                                        Con cháu phân chi đi nhiều địa phương,ở Trảo Nha còn lại phái trưởng và phái 4.

Ông sinh các con trai:

-Vinh Quận công   Ngô Phúc Thụ,                        phái trưởng;

-Tuấn đức Hầu        ở phủ Quảng Trạch huyện Bình Chánh,

nay là huyện Quảng Trạch Quảng Bình,    phái 2;

-Vỵ phái Hầu         phả cũ ghi chú là ở Lang  Điền,

huyện An Sơn,nay là xã Thụy Phương huyện

Chương Mỹ Hà Tây,                                  phái 3;

-Thuyên phái Hầu  ở Trảo Nha,                                                 phái 4;

-Suyên cung Hầu    thất truyền.

PHÁI TRƯỞNG CHI V 

29    Ngô Phúc Thụ         Vinh Quận công, sinh:

-Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Đẩu ,

-Hạo Quận công (vô tự),Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân ,

sau khi về nghỉ hưu lại được triệu ra khởi phục Cai cơ Đô chỉ

huy sứ Thượng Trụ quốc,tước Hạo Quận công,ban thụy

Dũng Tuệ.Sau khi mất nhân dân địa phương thờ ở đền Linh Nha

trên núi Nghèn.

-Phổ Quận công , truy phong Đại vương,bà họ Dương,người

làng Canh Họach,chị ruột bà Dương Thị  Hoan mẹ đẻ Chúa

Trịnh Khải.Ông bị hại trong vụ Bính Tý 1780.

-Cảnh Quận công,(không rõ húy)

30   Ngô Phúc Đẩu          1668-1718,Nhuệ võ Hầu,sinh Ngô Phúc Chánh.

31 Ngô Phúc Chánh          Lãng phương Hầu,Quả cảm tướng quân Chánh Vệ úy,bà Mai

Thị  Vượng sinh Ngô Phúc Phương,Ngô Phúc Bích.

32 Ngô Phúc Phương    1710-1804    Đại tư đồ Hòanh Quận công, Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô

đốc quyền phủ sự,quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội , Mật điện

Nội sát kiêm Phụ dực Nội điện. Húy Túc.

Bà cả Vũ Thị  Liên người làng Hạ Hòang huyện Thạch Hà mất

sớm chưa có con ,truy phong Phu nhân,

Bà thứ họ Trương người Gia Lâm đã có con,ra ở chùa sau ngày ông

lấy Phương Huệ Quận chúa.

Bà thứ ba là Phương Huệ Quận chúa, con gái thứ tám Chúa

Trịnh Cương,trở thành Chính thất,sinh năm con trai:

-Ngô Phúc Trọng   Trọng võ Hầu,Trưởng

-Ngô Phúc Giám    Khóat võ Hầu, nay là phái Yên Viên,

-Ngạn trung Hầu    tử trận chưa có con,

-Thuần trung Hầu,  bà là con gái Án đô Vương Trịnh

Bồng,tử trận không có con,

-Ngô Phúc Diễn    Diễn võ Bá,nay là phái nội thành Hà Nội.

32   Ngô Phúc Bích           sinh hai con gái.

30    Phổ Quận công           không rõ húy,chỉ có con gái.

30    Cảnh Quận công         không rõ húy,

sinh            -Ngô Cảnh Hòan,Thu lĩnh Hầu

-Ngô Phúc Thiện,Khuông lễ Bá

31    Ngô Cảnh Hòan         1720-1786,Thu lĩnh Hầu,có ba bà.

Bà thứ ba là Liệt nữ Phan Thị Thuấn.

sinh: Con trai trưởng là Trâm ngọc Hầu Ngô Lượng Lang,

và năm người con trai khác chết trận khi chưa có vợ con.

32   Ngô Lượng Lang       Trâm ngọc Hầu,sinh Phúc Chu,Phúc Thùy

33  Ngô Phúc Thùy           sinh Phúc Bật

34  Ngô Phúc Bật              sinh Phúc….

35  Ngô Phúc…                sinh Phúc Cư

36  Ngô Phúc Cư               sinh Ngô….,Cống sinh,dạy chữ Hán trường Pháp-Việt

Đồng Xuân,biệt tích

33   Ngô Phúc Chu           sinh Ngô Cảnh Trí

34   Ngô Cảnh Trí             sinh Ngô Kiên

35   Ngô Kiên                   phả cũ ghi ở xã Nghĩa Lập,đến nay chưa có liên lạc.

31   Ngô Phúc Thiện         Khuông lễ Bá , sinh Bá Thi,Phúc Khiêm

32   Ngô Bá Thi                Thủy tổ họ Ngô Mông Lãnh,huyện Quế Sơn Quảng Nam-Đà Nẵng,

hai cha con vào nam,sau người cha trở ra bắc.

32   Ngô Phúc Khiêm        sinh Ngô Phúc

33   Ngô Phúc                    sinh Ngô Hữu Vĩnh (thất truyền).

Tiểu phái 1:

33 Ngô Phúc Trọng         Trọng võ Hầu,con trưởng Hòanh Quận công Ngô Phúc Phương,

Bà là con gái Bỉnh trung Công Vũ Tất, Ở cung Ninh Sơn,

sinh Phúc Bành,Phúc Dương,Phúc Ba,Phúc Lộc.

34 Ngô Phúc Bành           về giữ hương hỏa ở Trảo Nha,

sinh Phúc Thân,Phúc Dũng,Phúc Cụ (Hai người sau tồn nghi

lên ở Thổ Hòang).

35 Ngô Phúc Thân            sinh Phúc Hoằng,Phúc Tề,Phúc Thể,Ngô Cơ (vô tự)

36 Ngô Phúc Hoằng          sinh Phúc Dụ,Phúc Bổn,Ngô Mại

37 Ngô Phúc Dụ                sinh Ngô Tụy

38  Ngô Tụy                      sinh Ngô Bạt

39  Ngô Bạt                       sinh Ngô Trạc,Ngô Định (đều vô tự).

37 Ngô Phúc Bổn             sinh Ngô Tường,Xuân Thụ,Ngô Soa,Ngô Tài(vô tự),Thị  Nậy,

Thị  Con.

38   Ngô Tường                 sinh Thị  Ả,Thị  Em,Thị  Lý,Luật Xoan(Ls.),Luật Thứ Pts, (Ls,chỉ có

con gái).

38    Ngô Xuân Thụ         Tú tài kép,bà cả họ Trần sinh Thị  Xuân Như (Vợ nhà thơ Huy Cận),Xuân

Huy,

bà thứ người Bình Định sinh Xuân Diệu,Xuân Sanh.

39    Ngô Xuân Diệu      1916-1985,Nhà thơ,Đại biểu Quốc hội khóa 1 (1946-1960)

Viện sỹ Thông tấn Viện Hàn lâm CHDCĐức,không có vợ con.

39    Ngô Xuân Sanh         Nhà văn,không có vợ con.

39    Ngô Xuân Huy          Đh, bà Thị Hòan(Đh) sinh Đức Hải

40    Ngô Đức  Hải             Đh,sinh Thị  Hương,Xuân Hà.

38   Ngô Soa                      Hàn lâm viện Thị  giảng(Tòng Ngũ phẩm),bà Trần Thị  Em sinh Định Nhi,

Thị  Tịnh Nhi,Lữ Nhi,Thị  An Nhi,Xuân Biên,Xuân Thanh,Thị  Mai

39    Ngô Lữ Nhi               bà Nguyễn Kim Nga sinh Đức Trung,Thị  Bích Hồng,Thị  Thúy Hạnh

39    Ngô Xuân Thanh       sinh  một gái

37    Ngô Mại                    sinh Ngô Điệng,Ngô Chương

38    Ngô Điệng                 sinh con gái

38    Ngô Chương             sinh Đức Bích,Đức Trân (Ls.)

39    Ngô Đức  Bích           sinh Đức Hành,Thuận,Tịnh,Tiến

40    Ngô Đức  Hành         sinh Đức Chung.

36   Ngô Phúc Tề               sinh Ngô Đàn,Phúc Siêu

37    Ngô Đàn                    sinh Ngô Ước,Ngô Tác

38    Ngô Ước                    sinh Trung Tín,Đức Quế

39    Ngô Trung Tín            1915-1982,sinh Trọng Tuyết (Ls.),Trọng Đại,Quý Cảnh

40    Ngô Trọng Đại           sinh Đức Trang,Hiếu,Tiến

39    Ngô Đức  Quế            sinh Đức Kỳ,Bá,Hồng,Tùng

40    Ngô Đức  Kỳ              sinh Công,Đức ,Phú

40    Ngô Đức  Bá             sinh Anh,Quang

40    Ngô Đức  Hồng          sinh Đức Sơn

38    Ngô Tác                     sinh Đức Tuân,Đức Tộ (vào Đà Lạt,chưa có liên lạc).

37   Ngô Phúc Siêu            sinh Ngô Tiềm

38    Ngô Tiềm                   sinh Đức Hiền

39    Ngô Đức  Hiền          sinh Hào,Hữu,Hiếu,Giáp.

36   Ngô Phúc Thể             sinh Ngô Dạng

37    Ngô Dạng                   sinh Thị  Hảo,Ngô Cự ,Ngô Luyện

38    Ngô Luyện                1918-1988,sinh Trọng Kim,Xuân Đinh

39    Ngô Trọng Kim         Bs,  sinh Gia Khánh,Thị  Ngọc Bảo

39    Ngô Xuân Đinh         sinh Xuân Phố,Xuân Long,Thị  Oanh

PHÁI VĨNH LƯU

huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

34   Ngô Phúc Dương      sinh Phúc Hà ở Ninh Sơn,đã có con cháu.

34   Ngô Phúc Ba             sinh Phúc Tôn  ở Ninh Sơn,Văn Sự về Trảo Nha sau đến

Vĩnh Lưu

35    Ngô Văn  Sự              sinh Ngô Thân, và mấy em trai khác không rõ tên

36    Ngô Thân                   sinh Ngô Tốt

37    Ngô Tốt                     sinh Văn Châu,Văn Thấu,Văn Thái

38    Ngô Văn  Châu         sinh Văn Ngàn,Văn Dậu,Văn Bình

39    Ngô Văn  Ngàn       sinh Văn Bô

40    Ngô Văn  Bô            sinh Văn Gia

39    Ngô Văn  Dậu           sinh Văn Nghệ và sáu con gái

Tiểu phái 2   PHÁI YÊN VIÊN,

Gia Lâm,Hà Nội

33   Ngô Phúc Giám        Khóat võ Hầu,con Hòanh Quận công Ngô Phúc Phuơng

Bà họ Đinh,hiệu Từ Cung,sinh:

Ngô Phúc Long (tức Ông Cả Hiệu),Cụ Trung,Cụ Trùm,

Ngô Phúc Tấn (tức Ông Tú Lương),Cụ Tuần ở Vạn Phúc,

Cụ Dơi ở Thanh Trì.

34    Cụ Tuần                     ở Vạn Phúc  sinh Ngô Phước

35    Ngô Phước                 sinh Ngô Vĩnh (Đốc học),Thị  Lộc

34   Ngô Phúc Long          Bà họ Nguyễn sinh: Ngô Quán (nhiêu Quán),Ngô Hai (Từ Bếp),

Ngô Đức  Dụ (Lang Ba),Ngô Đức  Thiện (Khán Tư),

Ngô Phúc Đạt (Năm Đạt).

35   Ngô Quán                    sinh Ngô Thiện,bà Khán Vịt,bà Hai Canh,bà Ba Bằng

36   Ngô Thiện                    sinh Văn Dõan

37   Ngô Văn  Dõan           1896-1956,bà Đỗ Thị  Giám (1893-1983),sinh:

Ngô Văn  Vấn,Ngô Văn  Du Ls;Ngô Văn  Hồng,Văn Hùng,

Thị  Danh,Thị  Lớn,Thị  Tý,Thị  Minh,Thị  Lan.

38  Ngô Văn  Vấn              1915-1991,bà Nguyễn Thị  Than sinh Văn Quý,Văn Phú,Quốc

Cường,Quốc Thịnh,Thị  Vượng

39   Ngô Văn  Quý            bà Nguyễn Thị  Bốn sinh Đình Quyền,Chí Trung ,Chí Thanh,Thị  Vân

39   Ngô Văn  Phú              bà Hùynh Thị  Quyên sinh Quốc Thắng,Quốc Dũng

39   Ngô Quốc Cường       bà Lê Thị  Thiết sinh Thành Công,Hương Giang,Tú Mây

39   Ngô Quốc Thị nh        bà Nguyễn Thị  Tọa sinh Xuân Trường,Quốc Thụ,Thành Đô

38   Ngô Văn  Hồng          sinh Văn Thắng,Văn Mạnh,Thị  Liên

38   Ngô Văn  Hùng          sinh Văn Hòa,Thị  Hưng,Thị  Viễn

35   Ngô Hai                      sinh Văn Tuân,Văn Tý,Văn Hòa

36   Ngô Văn  Tuân           1888-1967,bà Đinh Thị  Tạch sinh Văn Tinh,Văn Dư (Ls.),

Văn Thêm,Thị  Lụt,Thị  Gái

37   Ngô Văn  Tinh            bà Khổng Thị  Phi sinh Ngọc Tâm,Đại Đồng,Văn Năm

38   Ngô Ngọc Tâm            bà Ân Thị  Chi sinh Hồng Anh,Ngô Quyền,Quang Lợi,Thu Nga

38   Ngô Đại Đồng            sinh Vân Nam,Thị  Hương,Thị  Hồng

38   Ngô Văn  Năm            sinh Văn Hòang

39   Ngô Hồng Anh           bà Đặng Thị  Hòa sinh Quỳnh Hoa.

Biệt phái Ninh Sơn

xã Ninh Hiệp,huyện Chương Mỹ,tỉnh Hà Tây

35    Ngô Đức  Dụ           tự Lang Ba , bà cả sinh Đức Lộc,Đức Phúc,Thị  Ngát

Bà hai sinh Đức Lịch,Thị  Núi,Thị  Quắt

36    Ngô Đức  Lộc            bà Đinh Thị  Mùi sinh Văn Bình,Văn Đội,Thị   Ninh,Thị  Thuận

37    Ngô Văn  Đội            sinh Văn Cương,Văn Kiên,Văn Lập,Thị  Dung.

36   Ngô Đức  Phúc           1901-1969,bà Nguyễn Thị  Đăng sinh Đức Biền,Đức Bính

37   Ngô Đức  Biền            bà Nguyễn Thị  Vịt sinh Đức Trọng,Đức Trực,Thị  Hiền,Thị  Lan ,Đức Bảy

37   Ngô Đức  Bính            sinh 1932,bà Mai Thị  Kiên sinh Đức Bỉnh,Đức Biền,

Đức Bổn,Đức Liêm,Thị  Yên,Thị  Liên.

38    Ngô Đức  Bỉnh           bà Nguyễn Thị  Lê sinh Đức Chỉnh,Đức Huấn,Đức Huân

38    Ngô Đức  Biền           bà Hòang Thị  Trống sinh Đức Tiềm,Thị  Quyên

38    Ngô Đức  Bổn            bà Nguyễn Thị  Hải sinh Thị  Hiến

38    Ngô Đức  Liêm          bà Nguyễn Thị  Thoa sinh Đức Chính.

36    Ngô Đức  Lịch            1891-1969,bà Nguyễn Thị  Giản sinh Đức Thưởng,Thị  Ơn,

Thị  Yểng

37   Ngô Đức  Thưởng       sinh 1925,bà Nguyễn Thị  Chính sinh Đức Tuấn,Đức Thanh,

Đức Ngọc,Thị  Tuyết,Thị  Minh.

38    Ngô Đức  Tuấn          bà Tống Thị  Tuyết sinh Đức Tài,Thị  Nhung

38    Ngô Đức  Thanh        bà Nguyễn Thị  Nghị sinh Đức Quế.

35   Ngô Đức  Thiện         tự Khán Tư , sinh Văn Mạo,Văn Sơn,Văn Chử,Thị  Tý,Thị  Chúc

36   Ngô Văn  Mạo           sinh Văn Long,Văn My,Văn Phượng

37   Ngô Văn  Long           sinh 1944,các con lưu lạc chưa rõ ở đâu

37   Ngô Văn  My              sinh Văn Năng,Thị  Thành,Thị  Mỹ

36   Ngô Văn  Sơn             1896-1988,bà Trịnh Thị  Vải sinh Văn Quy,Văn Phả,Văn Sọan,

Thị  Muối,Thị  Mắm,Văn Huy,Văn Nguyên.

37   Ngô Văn  Quy             bà Đinh Thị  Nhân sinh Văn Hoan,Văn Hòan,Thị  Hinh,Văn Lâm

37   Ngô Văn  Sọan            bà Lâm Thị  Nhân sinh Văn Hải,Văn Sứ,Văn Nam

38   Ngô Văn  Hải              bà Nguyễn Thị  Thu sinh Văn Long.

35   Ngô Phúc Đạt             bà Nguyễn Thị  Quán sinh Văn An (vào Sài Gòn),Văn Yên,

Ngọc Kiến,Thị  Nhâm.

36    Ngô Văn  Yên             sinh Thị  Yến (1925-1974),

36   Ngô Ngọc Kiến           1895-1969,bà Đỗ Thị  Dung, sinh Ngô Thị  Giáp (1924-1996)

(vợ Nguyễn Đức Tâm UVBCTĐCSVN),Ngọc Đặng

37  Ngô Ngọc Đặng          sinh 1925,Ks,bà Phạm Thị  Hoa Vinh sinh Văn Dũng,Phú Hà,

Sơn Hùng,Thúy Oanh,Kim Thanh

38  Ngô Văn  Dũng             Ks,bà Dương Thị  Hương sinh Quốc Tuấn

Tiểu phái 3   PHÁI NỘI THÀNH HÀ NỘI

 

33Ngô Phúc Diễn            1770-1838,Diễn võ Bá,tự Pháp Nghĩa,con trai thứ 5 Hòanh Quận công

Ngô Phúc Phương và bà Trương Thị  Từ Thiên (tặng phong Á Quận quân).

Bà Nguyễn Thị  Bốn,con gái Đại vương Nguyễn lang Linh Đường,

sinh :Ngô Phái,Ngô Đạo,Ngô Dương,Ngô Uông(vt),Thị  Lê,

Thị  Trần,Thị  Ngoan.

34  Ngô Đạo                      1797…,tự Pháp Quyền,bà cả Nguyễn Thị  Thiếu sinh Thị  Khê,Thị  Lộc,

Thị  Tri,Thị  Điều,bà thứ sinh Đức Tự,Thị  Khuyên,Thị  Khánh.

34 Ngô Phái                     1801-1865,tự Pháp Bình,hai bà Nguyễn Thị  Nhâm và Lê Diệu Ban

sinh Đức Trương,Đức Thân,Thị  Thụy,Thị CáT.

35 Ngô Đức  Trương         1842-1902,bà Nguyễn Thị  Tính sinh Ngô Thịnh,Ngô Trác,Thị  Dệ.

36 Ngô Thịnh                    1859-1939,bà cả Trần Thị  Trinh sinh Ngô Đỉnh,Thị  Kiệm,Thị  Cần.

Bà thứ Bế Thị  Nga sinh Ngô Túc,Văn Bản,Thị  Bái,Thị  Quý.

37  Ngô Đỉnh                     1887-1946,Chi trưởng,bà Đỗ Thị  Thuần sinh Đức Thụ,Đức Lập,

Đức Nhạ,Thị  Sâm,Thị  Du,Thị  Mỹ.

37 Ngô Túc                        1908-1975,bà cả Phạm Thị  Hà có con nuôi là Thị  Há,

bà thứ Ninh Thị  Chung sinh Quốc Huy,Thị  Thanh,Thị  Thảo.

37  Ngô Văn  Bản             bà Phạm Thị  Thường sinh Anh Tuấn,Xuân Quảng,Xuân Tiến,

Hòai Diễm,Thị  Phương.

38 Ngô Đức  Thụ              bà Phạm Thị  Thật sinh Đức Quý,Đức Hinh,Đức Trọng,Đức Thắng,

Thị  Hằng,Thị  Trúc,Thị  Thái,Thị  NguyệT.

38 Ngô Đức  Lập              bà Nguyễn Thị  Quy sinh Thị  Thư.

38 Ngô Đức  Nhạ              bà Nguyễn Thị   Ninh sinh Đức Hùng,Đức Hạnh,Đức Dũng,Đức Phú,

Đức Cường,Phú Quý,Thị  Thanh,Thị  Mai,Thị  Phương,Thị Lan.

38 Ngô Xuân Quảng         bà Nguyễn Thị  Kim Thạch sinh Lan Hương,Xuân Minh.

38 Ngô Xuân Tiến            bà Trần Thị  Hào sinh Lan Anh,Xuân Thành.

36 Ngô Trác                      1866-1898,bà Đinh Thị  Vân sinh Ngô Kỳ,Ngô Thọ,Ngô Bùng,

Thị  Nhỡ,Thị  Huệ,Thị  Phương,Thị  Rồng.

37 Ngô Kỳ                        1886-1954,bà cả Nguyễn Thị  Khả sinh Bích San,Bội Giao,

Thị  Liên,Thị  Hiền.Bà thứ Trần Thị  Nhỡ sinh Lâm Đằng,Mộng Lan,

Mộng Lê,Mộng Hà,Bích Tùng,Minh Cầu.

37 Ngô Thọ                     1898-1930, bà Dương Thị  Khang sinh Thị  Tính,Minh Tân,

Bỉnh Khôi,Thị  Tâm,Thị  Liên.

38 Ngô Bích San          bà Hòang Thị  Tuyết sinh Mạnh Linh,Khắc Tuấn,Mỹ Tuân,Hòa

Thắng,Quang Dũng,Thị  Loan,Quỳnh Anh,Mai Anh,Diễm Anh,Tú

Anh(cả chín người con đều có trình độ Đại học hoặc trên đại học).

38 Ngô Bội Giao          bà Trần Thị  Quỳ sinh Bội Quang,Bội Hòang,Thị  Thanh,Thị  Hinh,

Thị  Hằng.

38  Ngô Minh Cầu            bà Lưu Thị  Yến sinh Mạnh Bình,Trọng Nghĩa,Hữu Nghi,

Hồng Tường,Thiên Hương.

39 Ngô Mạnh Linh           bà Đào Thị  Tạng sinh Chí Cường,Hồng Chuyên.

Ngô Khắc Tuấn            bà Phạm Thị   Ninh sinh Việt Bắc,Việt Hồng.

Ngô Mỹ Tuân               bà Đòan Thị  Kính sinh Việt Hùng,Bảo Ngọc.

Ngô Hòa Thắng           bà Thị  Dục sinh Thái Hà,Thái Vũ.

Ngô Quang Dũng        bà Lê lan Hương sinh Hương Lan,Đức Anh.

Ngô Bội Quang            bà Vũ Thị  Láng sinh Thúy Linh,Thúy Ngân.

Ngô Mạnh Bình           bà Nguyễn Minh Trì sinh Phước Hạnh,Minh Tuệ.

Ngô Hữu Nghi             bà Nguyễn Thị  Tuyết Mai sinh Minh Phong.

Ngô Hồng Tường        bà Lê Xuân Hoài sinh Minh Tung,Minh Khopa.

40 Ngô Việt Bắc               bà Phan Hồng Vân sinh Thị  Trâm Anh.

PHÁI 2 CHI V                 Tuấn đức Hầu,họ Ngô huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

Chưa có thế thứ.

PHÁI 3 CHI V                 Vỵ phái Hầu, họ Ngô Hương Lang ,xã Thụy Phương, huyện Chương Mỹ,

                                               tỉnh Hà Tây

                                               Chưa có thế thứ

PHÁI 4 CHI V              Thuyên phái Hầu (Không rõ tên húy),

                                           họ Ngô Trảo Nha,huyện Thạch Hà,

                                           nay là thôn Nam Sơn,thị  trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh

 

29 Thuyên phái Hầu        Con thứ tư Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ .

Sinh: -Phái trung Hầu (không rõ tên húy)

-Phan thọ Bá ( không rõ tên húy,phái Hưng Nguyên).

30 Phái trung Hầu           sinh:-Nhiệm phái Hầu (không rõ tên húy)

-Diễn phái Bá Ngô Phúc Diễn.

31 Nhiệm phái Hầu           sinh Ngô Phúc Huề

32 Ngô Phúc Huề              sinh Ngô Phúc Vạng

33 Ngô Phúc Vạng            sinh Cố Song

34 Cố Song                        sinh Ngô Song,Ngô Thuật

35 Ngô Song                     sinh Ngô Lục,đã có cháu

35 Ngô Thuật                    sinh Ngô…   ,đã có cháu.

31 Ngô Phúc Diễn             Diễn phái Bá,sinh Ngô Đức  Hồng.

32 Ngô Đức  Hồng            Cử nhân,Tri huyện Thọ Chân,mất ấn bị cách chức,về nhà dạy học.

Sinh Ngô Đức  Bình.

33 Ngô Đức  Bình          (1824-1879)   Tên đi thi là Đức Tư,đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Chế khoa Nhã sĩ

niên hiệu Tự Đức năm  1865.Lúc đầu được bổ chức Nội các tu sọan,

rồi bổ đi Tri phủ An Nhơn,rồi Tri phủ  Điện Bàn(Bình Định),thăng Tế tửu Quốc tử giám,

Án sát sứ Quảng Bình.

Mất tại nhiệm sở năm 1879.

Có bốn bà ,sinh bảy trai:

Ngô Đức Lân,Ngô Đức Dương,Ngô ĐứcPhương,Ngô Đức Đồng,Ngô Đức Nghị,

Ngô Đức Xuy,Ngô Đức Út,

và bốn con gái:

Bà cụ Xuân Viên sinh Nguyễn Hiếu Tích,

Bà cụ Chiểu Đồng Lưu,

Bà Bá Chế ở Kẻ Trù,

Bà Cúc  ở Kẻ Trù.

34 Ngô Đức  Lân          sinh Đức Chánh,Đức Đạt (vô tự),Đức Trung,Đức Hóat,

Đức Chín (vô tự),Đức Túy (vô tự),Thị  Viên,Thị  Hòanh (ở Hàm Anh).

35 Ngô Đức  Chánh          bà Nguyễn Thị  Hồng người Đồng Lưu ,sinh Thị  Hai,Thị  Ba,Ngô Đức Mậu .

36 Ngô Đức  Mậu             1908-1987,bà Hà Thị  Phúc, sinh Ngô Đức Bào,Ngô Đức Trà,Ngô Đức Danh,

Thị  Hòang Hà .

Năm 1927 tham gia Tân Việt cách mạng Đảng,từ 1930 là đảng

viên Đảng cộng sản Việt Nam,Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa ,

năm 1945 tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở huyện Can Lộc Hà Tĩnh,

sau hòa bình làm Chủ nhiệm Báo ảnh Vĩệt nam,Phó Tổng thư ký

Hội Nhà báo Việt Nam.

37 Ngô Đức  Bào              Ts, bà Nguyễn Thị  Chuyên (Ks),sinh Bạch Liên,Phương Liên,Đức Anh

37  Ngô Đức  Trà              PGs,Ts,bà Thái Thị  Liên (Ks),sinh Đức Qùy,Đức Tùng,Đức Lâm

37 Ngô Đức  Danh            Ks,bà Bùi Thị  Long sinh Thị Kim Chi,Thị Ngọc Diệp.

35 Ngô Đức  Trung           sinh Ngô Mai,Ngô Huệ ,Thị  Oanh

36 Ngô Mai                       sinh Ngô Nhuệ (Ks),Đức Khang

36 Ngô Huệ                       sinh Ngô Nuôi

37 Ngô Nhuệ                     sinh Đức Hùng,Đức Dũng

35 Ngô Đức  Hóat             bà Nguyễn Thị  Lộc sinh Đức Dung, Đức Ninh, Đức Tuyên,

Thị  Nhỏ,Thị  Lý,Thị  Tẻo

36 Ngô Đức  Dung            1912-1990,bà Trần Thị  Bốn sinh Đức Nghi,Đức Khoan,

Đức Tập,Đức Hân,Đức Tân,Thị  Chút.

37 Ngô Đức  Nghi             Ls,bà Hồ Thị  Xuân sinh Đức Quang

37 Ngô Đức  Khoan          Ks,mất 1995,bà Lê Thị Dung sinh Đức Trung,Thị  Quỳnh

37 Ngô Đức  Tập               Ks,bà Hà Thị  Bích sinh Thị  Nga,Đức Anh

36 Ngô Đức  Ninh             hai bà,sinh Thị  Loan,Thị  Thanh,Đức Thìn (Ls.),Thị  Huyền,Đức Sọan

36 Ngô Đức  Tuyên           Ks,bà Nguyễn Thị  Dương sinh Thị  Liên (ks),Đức Việt,Thị  Minh,

Đức Hùng,Thị  Hoa,Đức Dũng.

34 Ngô Đức  Dương         Ấm sinh,Hàn lâm viện Cung phụng,

Hai bà,sinh Đức Trường,Thị  Hòe, Đức Thành,Thị  Cúc.

35 Ngô Đức  Trường         có tên là  Bích,

bà cả ở Trảo Nha sinh Đức Khoa,Đức Đồ,

bà thứ ở Bình Định sinh Thị  Báng,Đức Duy,Đức Tòan (cả ba ở Tuy Hòa)

36 Ngô Đức  Khoa            bà Trần Thị  Tiu sinh Đức Hòa, Thị  Thuận ,Đức Phong, Thị  Cảnh,

Thị  Hoa,Thị  Huệ

37 Ngô Đức  Hòa              bà Nguyễn Thị  Mai Nhân sinh Thị  Dung,Đức Thương

37 Ngô Đức  Phong          bà Trần Thị  Thân sinh Thị  Hải,Thị  Hòai,Đức Hiền,Đức Hùng,

Đức Huy

36 Ngô Đức  Đồ                bà Nguyễn Thị  Viêm sinh Đức Đạo (Ls.),Thị  Đức,Thị  Lệ,Thị  Nghĩa,

Thị  Nhân,Đức Tâm

37 Ngô Đức  Tâm              bà Nguyễn Thị  Phương sinh Thị  Linh,Thị  Anh,Thị  An Na,Thị  Ly Sa,

Đức Phúc,và   Jens  (sinh năm 1985, mẹ  người Đức).

36 Ngô Đức  Duy              ở Phù Hiệp,sinh Đức Du,Ngô Diệu,Đức Luận,Thị  Diêu

37 Ngô Đức  Du                Tú tài,bà Lê Thị  Hội sinh Thúy Linh (Bs),Thị  Linh Chi,

Thái Hòang,Thái Hòan,Thái Huy

37 Ngô Diệu                      bà Nguyễn Thị  Thanh Mai sinh Anh Quân,Minh Quân

37 Ngô Đức  Luận            ở Tuy Hòa,sinh Văn Chuyên,Văn Sa

36 Ngô Đức  Tòan             ở Phù Hiệp sinh Ngô Hòai,Thị  Đủ,Ngô Tròn,Thị  Ty,Ngô Mừng

37 Ngô Hòai                      bà Nguyễn Thị  Kiêm sinh Thị  Hiền,Thị  Liên và hai trai.

35 Ngô Đức  Thành           Thanh tra bưu điện Liên khu IV,

Bà Nguyễn Thị  Thúy người Huế,sinh Ngô Thao,Thị  Bích Như (Đh.),

Ngô Nam,Ngô Hàng,Ngô Nguyên,Thị  Như Ý(Đh)

Bà thứ ở Hội An sinh Đức Chương.

36 Ngô Thao                      Pts.,bà Lê Như Ánh sinh Ngô Quân Ks,Ngô Thảo

36 Ngô Nam                       Nhạc sỹ,bà Nguyễn Thị  Vinh Ngọc (Nsưt),sinh Đức Đồng,

Thị  Thanh Hương

36 Ngô Đức  Hàng            Ks,bà Đỗ Thị  Hạnh sinh Thái Hà,Đức Tùng,Đức Minh

36 Ngô Đức  Nguyên        Ks,bà Nguyễn Thị  Mùi sinh Thị  Hòai Giang Ks,Đức Long

36 Ngô Đức  Chương       Ở Hội An,bà Hòang Thị  Tài sinh Thị  Mai Kha Ks,Đức Bảo,

Đức Trị,Đức Huy.Hiện nay gia đình ở Sài Gòn.

34 Ngô Đức  Phương        Ấm sinh,bà Hòang Thị  Ba sinh Đức Đông,Thị  Tý,Thị  Dần,

Ngô Vỹ,Ngô Mão,Ngô Ích

35 Ngô Đức  Đông            bà Lê Thị  Hiên sinh Đức Nhân,Đức Nghĩa,Đức Tín,Đức Thống,

Đức Anh,Đức Trẻ

36 Ngô Đức  Nhân            bà Trần Thị  Lanh sinh Thị  Châu,Thị Tiêu, Thị Ngọ,Thị Tuyên,

Thị Liên,Thị Phong, Đức Anh

36 Ngô Đức  Tín               bà Trần Thị  Xuân sinh Thị  Giáo,Thị Dưỡng,Thị Dương,Thị Trung,

Thị Thung, Đức Ngữ

35 Ngô Đức  Vỹ                Tức Ngô Ban,ở Đà Nẵng,sinh Ngô Thắng,Ngô Thống

34 Ngô Đức  Đồng            1869-1941.

Còn gọi là Ông Ấm Huề,Hàn lâm viện Cung phụng (Chánh cửu phẩm),

bà Nguyễn Thị  Xuân ,người làng Gia Lạc,

sinh Ngô Đức Dục,Thị  Thanh,Thị  Vẹt,Thị  Nậy (ĐVCS 1930-1931),Thị  Sâm,

Ngô Đức Thắng,Thị  Ngân.

35 Ngô Đức  Dục              bà Nguyễn Thị  Huyên sinh Đức Mạch, Thị  Quế, Đức Lạp,

Thị  Đào,Thị  Xuân,Thị  Thu

36 Ngô Đức  Mạch            bà Trần Thị  Khuyên sinh Đức Đại ,Thị  Quý,Đức Thái,Đức Độ,

Đức Lai,Thị  Mỹ

37 Ngô Đức  Đại               Ls ,bà Thị  Thủy sinh Đức Thoa,Thị  Huệ

38 Ngô Đức  Thoa             bà Nguyễn Thị  Trúc sinh Bảo Cường

37 Ngô Đức  Thái              bà Phan Phị Hà sinh Thị  Anh,Thị  Phương

37 Ngô Đức  Độ                sinh Đức Dũng,Đức Khánh,Thị  Ngọc,Thị  Yến

37 Ngô Đức  Lai               sinh Thị  Loan,Đức Đạt

36 Ngô Đức  Lạp              bà Trần Thị Chắt sinh Đức Kỷ,Đức Cương,Đức Thường,Đức Luân,Thị  Lý,Đức Luận,Thị  Bảy

37 Ngô Đức  Kỷ                bà Trần Thị  Thu sinh Đức Trình,Đức Công,Thị  Minh

37 Ngô Đức  Cương         bà Nguyễn Thị  Thanh sinh Đức Trực,Duc Din

37 Ngô Đức  Thường        bà Dương Thị  Truyền sinh Đức Long,Đức Vương

37 Ngô Đức  Luân            sinh Thị  Hiền,Đức Cáp.Duc Duoc

35 Ngô Đức  Thắng           1912-1998,Tác giả :Lịch sử họ Ngô Viêt Nam 1994,Họ Ngô Việt Nam,Lược sử-

Sự kiện -Nhân vật-Hệ phả, in năm 2000.

Bà Lê Thị  Tam (1911-1966), người xã Đồng Bàn huyện Thạch Hà

(nay là xã Thạch Liên huyện Thạch Hà Hà Tĩnh) ,

sinh Ngô Thị  Liệu,Ngô Đức Bằng, Ngô Song Bổng,Ngô Đức Uy(mất sớm),

Ngô Đức Hàm, Ngô Đức Lợi.

36 Ngô Đức  Bằng            bà Trần Thị  Hiền sinh Thị  Minh,Đức Hải,Thị  Lý,Đức Hóa,

Thị  Hà,Thị  Hoa,Thị  Hồng.

37 Ngô Đức  Hải               Cử nhân luật,bà Lê Thị  Minh Thủy sinh Minh Tuấn.

38 Ngo Minh Tuan            KTS sinh Tuan Kiet,Hai Dang

37 Ngô Đức Hóa               bà Trần Thị Phượng,sinh Thục Mây,Việt Anh

36 Ngô Song Bổng            1936-1992,Ks,bà Đỗ Phương Hòa Ks,sinh Song Hà, Thị  Phương Hiền Ds.,

Đức Tòan.

37 Ngô Song Hà                Đh.,bà Nguyễn Thị  Hằng sinh Đức Tùng.

36 Ngô Đức  Hàm             bà Tạ Minh Việt sinh Thị  Hoa, Đức Hùng, Đức Dũng,Vịệt Hưng.

37 Ngô Đức  Hùng            bà Thị Hoa,sinh Thị  Anh,Đức Minh

37 Ngô Đức  Dũng            bà Việt Trinh,sinh hai gái,Hòang Long

37 Ngô Việt Hưng            bà Thị Dung,sinh Thị Ánh Ngọc,Sơn Tùng

36 Ngô Đức  Lợi               Cử nhân luật,bà Nguyễn Thị Chiến Ks, sinh Nguyễn Duy ,Cảnh Hòan

37 Ngô Nguyễn Duy         Cử nhân,bà Nguyễn Thị  Quyên Trang (Cử nhân),sinh  Julian Duy An.

37Ngô Cảnh Hoàn        bà Phùng Thị Thanh Tú, sinh Tony Minh Tuấn ,Emily Bao Vy.

34 Ngô Đức  Nghị             ở Cẩm Xuyên,sinh Thị  Phượng,Đức Tiểu

34 Ngô Xuy                       Ấm sinh,sinh Ngô Phiệt,Ngô Ngãi (vt),Thị  Ba,Thị  Bốn, Ngô Vấn

35 Ngô Phiệt                     sinh Ngô Thiều

36 Ngô Thiều                     sinh Thị  Hiên,Thị  Châu,Đức Thắng

35 Ngô Vấn                       sinh Ngô Mận (Ls.),Ngô Đẩu,Ngô Hồng,Thị  Tư,Thị  Hài

34 Ngô Đức  Út                Viên tử,sinh Ngô Duyệt,Ngô Lan,Thị  Mực

35 Ngô Duyệt                    sinh Đức Lợi

36 Ngô Đức  Lợi               Đh.,bà Nguyễn Thị Mậu,sinh hai gái,Đức Hùng

35 Ngô Lan                       sinh Ngô Hạ,Thị Ngọ,Đức Vỹ đều đã có con,cháu.

Tiểu phái 2 Phái 4 Chi  V   Phái Hưng Nguyên,Nghệ An

 

30 Phàn thọ Bá            con Thuyên phái Hầu,sinh Ngô Phúc Tú

31Ngô Phúc Tú                 sinh Ngô Phúc Thiên  ở Trảo Nha,

Ngô Phúc…ở Quảng Bình,

Ngô Phúc Tuy, thiên cư ở Đông thôn xã Hưng Yên huyện

Hưng Nguyên Nghệ An.

32Ngô Phúc Tuy              bà Nguyễn Thị  Nhị sinh Phúc Thành

33Ngô Phúc Thành            bà Nguyễn Thị  Giáo sịnh Phúc Thư,Thị  Hựu

34Ngô Phúc Thư              bà Nguyễn Thị  Triện sinh Thị  Thậm,Thị  Thiệm,Phúc Sâm,

Thị  Tiệm,Đức Thắng,Thị  Tuấn

35Ngô Phúc Sâm               bà Phạm Thị  Tiếng sinh Đức Thăng,Thị  Thưởng,Thị  Thường,

Đức  Cương,Thị  Tiu,Thị  Tích,Đức Thuận,Đức Hòa

36 Ngô Đức  Thăng           Đề lại,bà cả Nguyễn Thị  Tòan sinh Đức Thặng,

bà thứ Lê Thị  Liên sinh Đức Đăng,bà ba Nguyễn Thị  Môn sinh

Thị  Tâm,Đức Việt

37 Ngô Đức  Thặng            bà Nguyễn Thị  Bốn sinh Đức Chắt (Ls.),Thị  Lam,Thị  Tư,

Thị  Tuất,Thị  Mợi,Đức Phương,Đức Đông,Đức Minh,Đức Linh,

Thị  Lý,Đức Thuyết

38 Ngô Đức  Phương         bà Nguyễn Thị  Mão sinh Đức Anh,Đức Tuấn,Thị  Hiền

38 Ngô Đức  Đông             bà Đinh Thị  Minh sinh Đức Nga,Thị  Lan,Thị  Thanh,Thị  Xuân

37 Ngô Đức  Đăng            bà Nguyễn Thị  Tư sinh Thị  Thu Vân,Thị  Hoa,đức Phú,Đức Thiên

37 Ngô Đức  Việt              bà Nguyễn Thị  Đào sinh Đức Hồng,Đức Linh,Đức Lan,Đức Hà,

Thị  Huệ

36 Ngô Đức  Thuận           bà Nguyễn Thị  Lắng sinh Đức Cảnh

37 Ngô Đức  Cảnh            bà Nguyễn Thị  Hương sinh Đức Dương,Thị  Liệu ,Đức Tùng,Thị  Cúc

38 Ngô Đức  Dương         sinh Đức Nhật

35 Ngô Đức  Thắng           bà Nguyễn Thị  Thiều sinh Thị  Phóng,Đức Khóang

36 Ngô Đức  Khóang        bà Trần Thị  Đạm sinh Đức Tuân,Đức Nhuận,Thị  Quế,Thị  Nhung,

Đức Tóan,Đức Lương

37Ngô Đức  Tuân              bà Hòang Thị  Chích sinh Đức Phương (Ls.),Thị   Loan,Đức Hoằng,

Thị  Cường

38 Ngô Đức  Hoằng          bà Đinh Thị  Bình sinh Đức Lan,Đức Ngọc,Đức An,Đức Hồ

37 Ngô Đức  Nhuận          bà Nguyễn Thị  Hoe sinh Đức Khánh,Đức Hùng,Thị Thịnh,Thị Vượng

Đức Xuân,Đức Quang,Đức Trung

38 Ngô Đức  Khánh          bà Nguyễn Thị  Hội sinh Đức Nguyên,Thị  Liên,Đức Bích

38 Ngô Đức  Hùng            bà Nguyễn Thị  Thi sinh Thị  Huệ,Đức Thương,Đức Trinh

38 Ngô Đức  Xuân            bà Lê Thị  Lan sinh Ngô Đức

38 Ngô Đức  Quang          bà Nguyễn Thị  Hòa sinh Thị  Phương

37 Ngô Đức  Tóan             bà Nguyễn Thị  Cháu sinh Thị  Chắt,Đức Châu,Thị  Thúy,Thị  Thảo,

Đức Thái

38 Ngô Đức  Châu            bà Nguyễn Thị  Hoa sinh Đức Long,Thị  Hồng

37 Ngô Đức  Lương          Gia đình ở Vinh,bà Chu Thị  Lang sinh Thị  Nga,Đức Sài,

bà Trần Thị  Ký sinh Thị  Thúy,Đức Chung.

HỌ NGÔ TRẢO NHA THẠCH HÀ
(Nay thuộc thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh)
Phan tiep

CHI VI HỌ NGÔ VĂN CỬ
Xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

28 Ngô Phúc Điền Kiêm lộc Hầu,con trai thứ sáu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn ,
Cẩm y vệ thự vệ,Chánh cai đội,
Sinh: Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm.
Thụy tường Hầu Ngô Phúc Giang..
29Ngô Phúc Giang Thụy tường Hầu,sinh -Chính đạo Công (thất truyền),
-Pháp minh Công Ngô Phúc Minh
30Ngô Phúc Minh Pháp minh Công,sinh Phúc Trí,Phúc Thể ở Hà thành

31Ngô Phúc Thể Thận trí Công,sinh Phúc Sán,Phúc Phương đều vô tự,
Phúc Phác
32Ngô Phúc Phác sinh Ngô Đàn,Ngô Hòa
33 Ngô Đàn sinh Đức Nhự,Phúc Ba (vô tự),Đức Ngụ,Đức Mỳ
34 Ngô Đức Nhự sinh Đức Lệ,Đức Gặp
35 Ngô Đức Lệ sinh Đức Vọng và hai gái
35 Ngô Đức Gặp sinh Đức Anh (vô tự)

34 Ngô Đức Mỳ sinh Đức Báu
35 Ngô Đức Báu sinh Đức Tụ,Đức Sầm
36 Ngô Đức Tụ sinh Thị Tri

36 Ngô Đức Sầm sinh Đức Mỳ
37 Ngô Đức Mỳ sinh Đức Trương,Đức Lý
38 Ngô Đức Lý sinh Đức Phương và hai gái
38 Ngô Đức Trương sinh Thị Liên

34 Ngô Đức Ngụ sinh Đức Triện,Ngô Viên (vô tự)
35 Ngô Đức Triện sinh Thị Truyện,Đức Mỳ (phạp),Đức Thính,Thị Tư,Đức Triện,
Đức Chương
36 Ngô Đức Thính có năm con
36 Ngô Đức Chương có bảy con

33 Ngô Hòa sinh Phúc Lương,Phúc Xương,Phúc Xý,Ngô Nhi (vô tự)
34Ngô Phúc Lương sinh Phúc Ngội
35Ngô Phúc Ngội sinh Phúc Khác,Đức Xương
36 Ngô Đức Khác 1882-1941,sinh Đức Hiền,Đức Chúng,Thị Hai
36 Ngô Đức Xương 1900-1940,có con cháu.

CHI VII Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu

28 Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu,con trai thứ bảy Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,
Sinh hai con trai -Ngô Văn Cang,
-Ngô Thuần Cẩm.
Dòng Ngô Văn Cang thiên cư vào Quảng Nam;dòng Ngô
Thuần Cẩm phụng sự Vua Lê,khi Vua Lê thất thế con cháu về
ngụ xã Thổ Quan ,nay thuộc phường Thổ Quan quận Đống Đa
thành phố Hà Nội.

Họ Ngô Kế Xuyên
Xã Bình Trung,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam

29 Ngô Văn Cang sinh Ngô Văn Kiệt,Ngô Văn Giám

30 Ngô Văn Kiệt bà Xa Thị Kỳ sinh Ngô Hữu Trí
30 Ngô Văn Giám bà Nguyễn Thị Tây sinh Tòng Chu,Văn Thạch,
Văn Khương (thất truyền) và bốn con gái

31 Ngô Hữu Trí sinh Văn Tôn,Văn Tạo (thất truyền)
31 Ngô Tòng Chu sinh Phú Hán,Công Định (thất truyền),Văn Bảo,Văn Tấn.và
bảy gái
31 Ngô Văn Thạch sinh Văn Côn

32 Ngô Văn Tôn sinh Văn Cụ (thất truyền),Văn Biểu,Văn Nay
32Ngô Phú Hán sinh Phú Nhuận
32 Ngô Văn Bảo sinh Văn Sức
32 Ngô Văn Tấn sinh Văn Chúc,Văn Quyền,Văn Lộc,Văn Thuật và sáu gái
32 Ngô Văn Côn sinh Văn Đô,Văn Lãm,Văn Tri (vô tự)

33 Ngô Văn Biểu sinh Văn Sỹ,Văn Vĩnh và bốn gái
33 Ngô Văn Nay sinh Công Đệ,Công Khanh
33Ngô Phú Nhuận sinh Công Tuấn
33 Ngô Văn Sức sinh Văn Quang,Văn Trinh và năm gái
33 Ngô Văn Chúc sinh Văn Chủng (thất truyền),Văn Chim,Văn Lũ,Văn Thêm,
Văn Sửu,Văn Hòang và năm gái
33 Ngô Văn Quyền Ở Vinh,sinh Văn Tề,Ngô Hầu,Công Kỉnh
33 Ngô Văn Lãm sinh Văn Điều

34 Ngô Văn Sỹ sinh Văn Độc,Văn Đính (vô tự)
34 Ngô Văn Vĩnh sinh Công Phú,Công Xây và năm gái
34 Ngô Công Đệ sinh Ngô Điệt
34 Ngô Văn Quang sinh Văn Khánh (tt),Ngô Dư (ở Tây mỹ Thăng Bình),Văn Nã,
Văn Ngự,Văn Thắng,Thị Ếch
34 Ngô Văn Trinh sinh Ngô Xứ,Ngô Nam,Văn Đò,Ngô Triệu,Ngô Nguy,Thị Én,
Thị Nhạn
34 Ngô Văn Tề sinh Ngô Thông,Văn Trinh,Văn Tường ,Văn Ấu(ba người tt),
Thị Hiện,Thị Hữu,Thị Tri
34 Ngô Hầu sinh Ngô Bá,Ngô Trực
34 Ngô Kỉnh sinh Ngô Vĩnh,Ngô Hoan,Ngô Tầm
34 Ngô Văn Điều sinh Ngô Đỏ.

Đời thứ 35

35 Ngô Văn Độc sinh Văn Yêm,Văn Ái,Văn Ân di về thôn Tây mỹ xã Bình an
huyện Thăng Bình.Nay con cháu ở Tân mỹ Bình đào trên trăm
hộ,trên ngàn nhân khẩu.
Ngô Công Phú sinh Công Hoan,Công Hiến,Công Khuẩn,Thị Tín,Thị Đạt,Thị Đô,
Thị Gương
Ngô Công Xây sinh Công Thích
Ngô Điệt sinh Ngô Bốn
Ngô Dư sinh Ngô Tịnh,Phú Trạch
Ngô Xứ sinh Văn Mô,Công Lẽ,Công Hán,Công Nghi,Văn Củng,Văn Cừu,
và bốn gái
Ngô Triệu sinh Ngô Siêu,Công Xuyên,Công Nam,Công Lanh,Văn Tý,
Công Thành,Ngô Thức
Ngô Thông sinh Công Duy,Công Trị,Thị Cải
Ngô Trực sinh Công Mưu,Ngô Bài (vt),Công Thống,Ngô Khiêm
Ngô Vĩnh sinh Công Lộng,Công Sở,Ngô Lâu,Ngô Tôn
Ngô Công Hoan sinh Công Thứ (vào Định tường),Công Tường (tt),Thị Dung,Thị Long
Ngô Văn Đỏ sinh Văn Hiếu vào Gia Định

Đời thứ 36

36 Ngô Văn Yêm sinh Văn Luận (tt),Văn Tài (vt)
Ngô Văn Ái sinh Văn Vân (tt),Văn Lương,Văn Hiệu (vào ở Sa hùynh
Quảng Ngãi)
Ngô Công Hiến sinh Công Khoan,Công Bửu,Công Tô,Thị Vân,Thị Thạc,Thị Bột,
Thị Tám
Ngô Công Khuẩn sinh Công Nghi ,Thị Bảo,Thị Lợi,Thị Ngôn
Ngô Công Thích sinh Công Kỳ,Công Cánh,Công NgànThị Khanh,Thị Phừớc
Ngô Phú Trạch sinh Công Thanh,Công Đàm,Công Tiềm,Công Ngân,Thị Chưởng,
Công Bá,Công Kỳ
Ngô Văn Mô Đi Gia Định,sinh Công Luận,Công Ngũ,Công Tài,Thị Cát,
Thị Tuyền
Ngô Công Lẽ sinh Công Thể,Công Tạ,Công Triều,Công Thành,Văn Lũ(phạp),
Công Cẩn(phạp)
Ngô Công Hán sinh Công Kế,Công Lực,Công Lương,Công Mông
Ngô Công Nghi sinh Công Nhân,Công Khánh
Ngô Văn Củng sinh Công Dụ,Công Huấn,Công Hùng,Thị Trữ,Thị Diệt,Thị Cho,
Thị Đống
Ngô Văn Cừu sinh Công Ban,Công Lân,Công Lý,Công Phiêu
Ngô Công Xuyên Di về phường Thanh hiệp tổng Thanh Châu huyện Điện bàn,
sinh Vản Thi,Văn Lũ,Văn Bồng,Văn Hóan,Văn Đinh,Văn
Thế,Văn Thụy và hai gái
Ngô Công Nam biệt quán
Ngô Công Lanh sinh Công Canh,Công Thái,Công Ngọt,Văn Giao,Thị Trà,
Thị Chia,Thị Điều,Thị Cam
Ngô Văn Tý sinh Công An,Công Thuận
Ngô Công Thành sinh Công Phúc,Công Tôn,Công Chủng,Thị Thanh,Công Lai,
Công Linh,Công Thông
Ngô Công Duy sinh Văn Tạo,Văn Hữu,Văn Kế(ở Tam kỳ)
Ngô Công Trị sinh Công Tấn,Công Nguyên cả hai vô tự,Thị Niêm,Thị Kha
Ngô Công Mưu sinh Công Kiều,Công Cai đều vô tự
Ngô Công Thống sinh Công Bảo,Thị Linh
Ngô Công Lộng sinh Công Ban,Công Lịch,Công Bảo,Công Phước,Công Giá,
Thị Ưng
Ngô Công Sở sinh Công Lôi,Thị Cơ,Thị Tề
Ngô Công Thứ sinh Công Phú,Công Đương,Công Bằng
Ngô Văn Hiếu sinh Đắc Ý và bảy người khác vô tự.

Đời thứ 37

37 Ngô Văn Lương sinh Thị Căn,Thị Sáng,Thị Cận,Công Tường,Công Lân
Ngô Công Khoan sinh Công Thiết,Công Yên đều vô tự,Công Gia,Công Nghị,
Công Tri,Thị Chắt,Thị Linh,Thị Diên,Thị Khôi,Thị Khát,Thị Sáng
Ngô Công Bửu sinh Công Tế,Công Chất,Công Phu,Công Điệt,Thị ưng,Thị Đoi,
Thị Lý,Thị Biều,Thị Cá
Ngô Công Tô sinh Công Hóa
Ngô Công Nghi sinh Văn Phong,Thị Lý,Thị Sầu,Thị Nắm
Ngô Công Kỳ sinh Công Trinh,Công Trường,Công Duy,Công Chấp,Thị An,
Thị Bằng,thi Đắng
Ngô Công Cánh sinh Thị Nữ,Thị Bông
Ngô Công Ngàn sinh Công Chiêm
Ngô Công Khánh sinh Công Hà
Ngô Công Thanh sinh Công Nhai,Công Đàn,Công Ba (biệt tích),Công Tiêu,
Công Phong,Công Phổ,Thị Hối
Ngô Công Đàm sinh Công Giăng,Công Cân,Công Hạo,Công Thích,Thị San,Thị Nở,
Thị Dần
Ngô Công Tiềm sinh Công Kiên,Công Đàm,Công Tầm,Công Ái,Công Sỹ,
Công Thêm,Thị Diễm,Thị Như,Thị Hóa
Ngô Công Tạ sinh Văn Hiệu,Văn Thụy,Văn Thiêm (vt),Văn Vân,Văn Thược,
Văn Tắc,Thị Hà,Thị Nhứ,Thị Tụy
Ngô Công Triều sinh Công Tất,Công Lương,Công Như,Công Tòan,Công Tuấn,
Công Lân,Công Vẽ(vt),Thị Quân,Thị Vỹ,Thị Dương,Thị Chất,
Thị Thiết,Thị Gối,Thị Một
Ngô Công Thành sinh Công Hàm,Công Quốc,Công Bái,Công Vi,Công Chính,Thị Ý,
Thị Sáu,Thị Tám,Thị Ất,Thị Ngoan,Thị Tình
Ngô Công Kế sinh Công Tấn,Công Thân,Công Tự,Công Rắn,Công Liệu,
Công Lại ,Thị Yên,Thị Cư,Thị Diễn
Ngô Công Lực sinh Công Ba,Công Yên,Công Mốc,Văn Giàu,Công Bỉnh(vt),
Ngô Công Lương ở Hương chỉ Bình quý Thăng Bình
Ngô Công Mông sinh Công Giao,Công Ổn,Công Đáp,Công Triều,Công Chiến,
Thị Bốn,Thị Phong
Ngô Công Nhân sinh Công Nhứt,Công Bi
Ngô Công Khánh sinh Công Trực
Ngô Công Dụ sinh Công Thuật,Công Giáng,Công Vân,Thị Tố,Thị Kuyến,Thị Đi,
Thị Bài,Thị Chợ
Ngô Công Ban sinh Công Đinh,Công Khóan,Công Quý,Thị Phương,Thị Tín

Ngô Công Lân sinh Văn Đắt (vt)
Ngô Công Canh sinh Công Khuông,Công Thứ,Công Cư,Công Quy,Công Trí,
Thị Trâm
Ngô Công Thái sinh Công Chạy
Ngô Công Ngọt sinh Công Mía,Công Cúc,Công Thiện,Công Ngươn,Thị Liêm,
Thị Ngạch,Thị Sáu
Ngô Công An sinh Công Cờ,Công Phổ,Công Đạt,Công La
Ngô Công Thuận sinh Công Hòa,Công Cực
Ngô Công Phúc sinh Công Thọ,Công Phân,Công Liệt,Thị Nghèo,Thị Nặc,
Công Kiết
Ngô Công Tôn sinh Công Quách,Công Khảm,Thị Trương,Thị Đồi,Thị Thêm
Ngô Văn Hữu sinh Văn Mậu,Văn Một
Ngô Tấn Nguyên sinh Công Đạt,Công Hán,Công Trì,Công Vệ,Thị Thỉnh,Thị Huy,
Thị Hứa
Ngô Công Bảo sinh Công Đầu (vt),Thị Đó,Thị Cốc
Ngô Công Ban sinh Công Tư,Công Dõi,Thị Trung,Thị Lợi,Thị Ta
Ngô Công Bảo sinh Công Tồn,Công Tán,Thị Sở,Thị Giang,Thị Lác,Thị My
Ngô Công Giá sinh Công Đăng (vt),Thị Thám,Thị Ử,Thị Để,Thị Đặt
Ngô Công Phước sinh Công Đạo,Công Thành
Ngô Công Lội sinh Công Béo,Công Chớp đều vô tự,Thị Quý
Ngô Công Bằng sinh Thị Uy
Ngô Đắc Ý sinh Đắc Chí,Đắc Trừng,Đắc Trung,Thị Tiết,Đắc Lễ,Đắc Vơn,
Đắc Ban.
Đời thứ 38

38 Ngô Công Tường sinh Công Trinh,Công Kiêu,Công Quỳnh(vt),Thị Cúc,Thị Kinh,
Thị Quang,Thị Thảo
Ngô Công Lân sinh Công Hàng,Công Đặc,Thị Lãng,Thị Tế.Thị Xử,Thị Hiếu,Thị Hợi
Ngô Công Gia sinh Công Hòanh,Văn Mịch,Văn Đốc,Thị Chợ,Thị Tài,Thị Thồ,
Thị Thôn,Thị Gia
Ngô Công Tế sinh Công Lộc,Thị Khiểm,Thị Lịch
Ngô Công Chất sinh Công Mật,Công Trại,Công Hòanh,Công Liêm,Thị Hợp,
Thị Đát,Thị Diệu
Ngô Công Hóa sinh Công Vuột,Công Cối,Công Luận,Thị Lương,Thị Vi,Thị Mùi,
Thị Thanh,Thị Hường,Thị Chiêm,Thị Điều,Thị Khánh,Thị Hội
Ngô Công Chiêm sinh Công Diễn,Thị Bốn
Ngô Công Hà sinh Công Được,Công Hải,Công Phụng,Công Vi,Công Phái
Ngô Công Nhai sinh Công Kỷ,Công Thọ,Công Phò,Công Đợi,Thị Cận,Thị Trường,
Thị Ngọt
Ngô Công Phong sinh Công Tân,Công Tế,Công Canh,Công Dinh,Công Dần,
Thị Thập
Ngô Công Phổ sinh Công Chánh,Công Đường,Thị Héo,Thị Tựu,Thị Quánh
Ngô Công Giăng sinh Công Đáo,Công Thuộc,Thị Thành,Thị Nguy,Thị Bổ,Thị Kiết,
Thị Lai,Thị Thiệu
Ngô Công Cân sinh Công Chương,công Cẩn,Công Lộc,Thị Đăng,Thị Gia,
Thị Khánh
Ngô Công Hạo sinh Công Vạn,Công Cai,Công Biện,Thị Tròn
Ngô Công Đàm sinh Công Quế,Công Sóc,Công Đồi,Công Ca,Công Bường(vt),
Thị Hữu,Thị Chiêu,Thị Nhiễu
Ngô Công Tầm sinh Công Thơ,Công Hạnh,Thị Thi
Ngô Công Ái sinh Công Thành,Vĩnh Dự,Thị Hoa,Thị Thúc,Thị Tất,Thị Sùng
Ngô Công Thêm sinh Văn Cử,Thị Diệu,Thị Đặc,Thị Thiềm,Thị Đạo,Thị Bẻo
Ngô Văn Thụy sinh Công Hạnh,Công Tịnh,Thị Kỳ,Thị Khán,Thị Âm
Ngô Công Tắc sinh Công Sự,Công Tính,Công Kỳ,Công Tập,Công Miêu
Ngô Công Tất sinh Công Thắng,Công Duy,Công Nhỏ,Thị Đáng,Thị Cẩm
Ngô Công Lương sinh Công Lân,Công Đôi,Thị Thành
Ngô Công Như sinh Thị Tuấn,Thị Cẩn

Ngô Công Tòan sinh Công Xuân,Công Liệu,Công Thu Công Cụ
Ngô Công Hàm sinhCông Hương,Công Lãm,Công Thân,Thị Tiền,Thị Thủ,Thị Quế,
Thị Phương,Thị Tích
Ngô Công Quốc sinh Công Bôi,Công Tương,Công Bình,Công Chiêm,Công Chín
Ngô Công Vị sinh Công Phó
Ngô Công Tấn sinh Văn Giáo,Công Trực,Công Yến,Công Giá,Công Cơ,Thị Đăng
Ngô Công Thân sinh Công Bạ,Công Thành,Công NGẬT,Công Thùy,Thị Loan,Thị Kỳ
Ngô Công Tự sinh Công Hiếu,Công Thâm,công Ân,Công cần,Thị Lâm,Thị Hiếu
Ngô Công Rắn sinh Công Của,Thị Chấn,Thị Mau
Ngô Công Liệu sinh Công Đạt
Ngô Công Lại sinh Công Huy,Công Câu
Ngô Công Ba sinh Công Tiềm,Công Chuyên
Ngô Công Yên sinh Công Quyên,Công Nhặt,Công Lệ,Công Thôi
Ngô Công Giao sinh Công Nhưng,Công Quảng,Công Nho,Công Thu ,
Công Đăng,Công Trường
Ngô Công Nhứt sinh Công Nghệ
Ngô Văn Trực sinh Công Thành,Văn Huyên
Ngô Công Thuật sinh Công Dịch,Công Tường,Công Đá,Công Hương,Thị Tịnh,
Thị Tỉnh,Thị Chúc
Ngô Công Giáng sinh Công Trập,Công Đặc,Công Cu,Công Quyền,Công Thủ,
Thị Nhan,Thị Quạ,Thị Theo,Thị Chiến,Thị Truyền,Thị Lắm,Thị Cơm
Ngô Công Vân sinh Thị Chánh
Ngô Công Định sinh Công Bình,Thị Sáng,Thị Sắc
Ngô Công Quý sinh Công Giới,Công Tài, Thị Bát
Ngô Công Khuông sinh Công Tự,Công Dunh,Công Khố,Văn Liêu (vt),
Văn Đình (vt),Thị Đà,Thị Diều,Thị Ngươn
Ngô Công Thứ sinh Công Lý,Công Quỳnh,Thị Thao
Ngô Công Mía sinh Công Diệt (vt),Văn Vĩnh,Công Biều,Công Đốc,Thị Ngao,Thị Thi
Ngô Công Cúc sinh Văn Hùynh,Văn Lợi (vt),Thị Lam,Thị Đời,Thị Ngàn,Thị Biểu,
Thị Phẩm,Thị Miêu
Ngô Công Thiện sinh Văn Lẫm,Văn Nhựt,Văn Con,Văn Trinh,Hữu Thân,Thị Thị ,
Thị Lung,Thị Sử,Thị Dạt
Ngô Công Cờ sinh Công Cầu,Thị Quyên
Ngô Công Phổ sinh Thị Chiến
Ngô Công Đạt sinh Văn Thất
Ngô Công La sinh Công Lội,Công Chữ,Công Cai,Công Bền,Công Đàm,
Công Đạt,Công Ấn,Công Nhạt,Thị Tiết
Ngô Công Cực sinh Công Gần,Công Của,Công Lẫm,Công Cột
Ngô Công Hòa sinh Công Lượng
Ngô Công Thọ sinh Công Khôi,Công Giáo
Ngô Công Phân sinh Công Lợi,Thị Thảo
Ngô Công Liệt sinh Công Lẫm,Công Nhỉ,Công Trổ,Công Kỳ,Công Miễn,Thị Hòa
Ngô Công Quách sinh Công Cốt,Công Cò,Công Kỳ,Công Dần,Thị Tờ
Ngô Công Khảm sinh Công Niên,Công Giai
Ngô Văn Đạt sinh Vĩnh Viễn,Chánh Đạo,Thị Bế
Ngô Công Hán sinh Văn Sung,Thị Sắc,Thị Võ,Thị Vằn,Thị Viên,Thị Đồ
Ngô Công Trì sinh Công Luận,Công Héo,Thị Lời,Thị Thuận,Thị Luận
Ngô Công Tấn sinh Công Tài,Công Chất
Ngô Đắc Chí sinh Đắc Tâm,Đắc Thọai,Đắc Hưng,Đắc Chánh,Đắc Nào,Thị Lòng,
Thị Đặng,Thị Chua
Ngô Đắc Trung sinh Đắc Trực,Đắc Liệu,Đắc Định,Thị Bé,Thị Phẩm,Thị Đặt

Đời thứ 39

39 Ngô Công Trinh sinh Công Tiến,Công Phụng,Công Lộc,Hưng Nhượng,
Văn Mẹo,Thị Tiên,Thị Loan,Thị Thảo
Ngô Công Kiêu sinh Văn Khước,Văn Biện,tnị Bốn,Thị Nghe,Thị Tố
Ngô Công Hàng sinh Văn Lai,Văn Kiêm,Công Thuộc,Thị Sở,Thị Dóan,Thị Thử
Ngô Công Đặc sinh Công Hý,Công Chiêm,Thị Ngó,Thị Du,Thị Hè,Thị Lai,Thị Thế
Ngô Công Hoằng sinh Quý Thẩm,Văn Khuê,Quý Tuấn,thi Hành,Thị Nghiêm
Thị Hiệu
Ngô Công Lộc sinh Công Khế,Công Miên,Công Kèo,Công Cột,Công Rất,
Công Chiểu,Thị Đời,Thị Đường,Thị An,Thị Phận,Thị Lệ,
Thị Hòai,Thị Sữa
Ngô Công Mật sinh Công Bẻo,Công Co,Thị Tỵ,Thị Chi,Thị Giống,Thị Xin,Thị Dậu
Ngô Công Trại sinh Quý Liêu,Quý Thể,Quý Vấn,Quý Mèo,Thị Cột,Thị Tùng,
Thị Mít
Ngô Công Diễn sinh Công Từ
Ngô Công Được sinh Công Chít
Ngô Công Kỷ sinh Văn Liêm
Ngô Công Phò sinh Văn Học
Ngô Công Đợi sinh Công Của,Công Chung,Công Ra,Thị Mai,Thị Nhàn
Ngô Duy Quang sinh Văn Phương,Văn Trị,Văn Bình,Văn Liên,Văn Phó,Văn Cơ,
Văn Pháp
Ngô Công Tân sinh Công Chiểu,Công Truyền,Công Ban,Công Giáp,Thị Phiên,
Thị Ất
Ngô Công Tế sinh Công Tọa,Công Mèo,Công Tuất,Công Hợi,Thị Linh,
Thị Diên,Thị Dực,Thị Út
Ngô Công Dinh sinh Công Cổn,Công Chánh,Công Cừu,Thị Trực,Thị Hùynh,Thị Y,
Thị Lệ
Ngô Công Dần sinh Công Dần,Công Nơm,Công Trĩ,Công Kích,Công Thái,
Thị Mãnh,Thị Kỳ,Thị Tỵ
Ngô Công Chánh sinh Văn Quý
Ngô Công Chương sinh Văn Ngự,Văn Cai,Văn Giới
Ngô Công Cẩn sinh Văn Thân,Văn Trung,Văn Lai,Văn Vỉnh
Ngô Công Lộc sinh Duy Tự,Văn Huy,Văn Chỉ,Thị Thiết,Thị Du,Thị Chày,Thị Quý
Ngô Công Vạn sinh Văn Thiên,Văn Niên,Công Hậu
Ngô Công Biên sinh Văn Từ,Văn Ngôi,Văn Tố
Ngô Công Cai sinh Văn Tịnh
Ngô Công Quế sinh Duy Dương,Văn Chơn,Văn Kiều
Ngô Công Sóc sinh Công Sùng(vt),Văn Sầm
Ngô Công Đồi sinh Công Bậc
Ngô Công Ca sinh Văn Quyến,Thiên Kế,Văn Giác,Văn Út
Ngô Công Thơ sinh Văn Vinh
Ngô Công Thành sinh Văn Lân,Văn Hóng,Văn Liễu,Văn Nhân,Văn Phổ,
Văn Tấn,Văn Cột,Thị Nghề
Ngô Vĩnh Dự sinh Văn Kiêu,Văn Bỉnh,Văn Hiển,Văn Chít
Ngô Văn Cử sinh Văn Nguyên,Văn Thục
Ngô Công Hạnh sinh Văn Lai,Văn Thức,Văn Hợi
Ngô Công Tịnh sinh Công Kỉnh,Công Đức,Công Ái,Công Tọ,Công Bế
Ngô Công Tính sinh Công Hoặc,Công Hoan
Ngô Công Kỳ sinh Công Chiêu
Ngô Công Tập sinh Công Phương,Công Diệu
Ngô Công Miêu sinh Văn Đinh,Văn Hiệp
Ngô Công Thắng sinh Công Sương,Công Lãnh,Thị Bé
Ngô Công Duy sinh Công Vinh,Công Hề,Công Uynh,Công Lội
Công Định,Thị Màng,Thị Giai
Ngô Công Xuân sinh Công Có,Công Của,Công Đệ,Công Đốc,Thị Ngại,Thị Hay
Ngô Công Hương sinh Thị Diên,Thị Trường
Ngô Công Thân sinh Công Đấu,Công Mùi,Công Chược
Ngô Công Bôi sinh Công Thiêng,Công Huân,Công Út,Công Thiện,Công Phú,
Công Lý,Công Thu
Ngô Công Phó sinh Thị Mưu,Thị Nhi
Ngô Công Giáo sinh Công Thạnh
Ngô Công Sính sinh Thị Trí
Ngô Công Thâm sinh Công Chữ,Công Nghĩa
Ngô Công Ân sinh Công Hằng,Công Săn,Công Hữu,Công Lý,Công Chất,
Văn Vững,Văn Chắc,Văn Sức,Thị Tín,Thị Diên
Ngô Công Của sinh Công Nhiều
Ngô Công Hy sinh Văn Trinh,Công Chôn,Văn Lý(vt),Văn Đuốc
Ngô Công Câu sinh Công Câu (vt),Văn Bình,Văn Thành
Ngô Công Quyên sinh Thúc Tuân,Quý Lâm
Ngô Công Nhặt sinh Văn Trang,Công Hiệu,Thị Bích
Ngô Công Lệ sinh Công Đôi,Công Đòi,Công Thái,Công Giới(vt),Công Gia,
Công Hòa,Công Kiệt,Công Thân,Thị Lệ,Thị Bến
Ngô Công Thôi sinh Văn Đá
Ngô Công Nhưng sinh Công Dưỡng
Ngô Công Quảng sinh Công Vượng,Công Lắm,Công Môn,Công Sáp,Công Sọan,
Thị Cối
Ngô Công Nho sinh Thị Xướng,Thị Mầu
Ngô Công Thu sinh Công Hiến,Công Thạch,Công Ngoan
Ngô Công Trường sinh Công Nghiệm,Công Ruồi,Công Ra
Ngô Công Nghệ sinh Ngô Hán,Ngô Sử
Ngô Công Hương sinh Công Phú,Công Chiếu,Công Tử,Công Bẻo,Công Tất,
Thị Thơ,Thị Hằng,Thị Đá,Thị Quả,Thị Sữa
Ngô Công Trập sinh Công Dung,Công Kiêm,Công Phổ,Thị Vinh,Thị Thân,Thị An,
Thị Thái,Thị Chờ
Ngô Công Đặc sinh Công Vân
Ngô Công Cư sinh Văn Long,Thị Vằn
Ngô Công Bình sinh Thị Ruộng,Thị Thuột,Thị Nội
Ngô Văn Giới sinh Công Đó
Ngô Công Tự sinh Công Trọng,Công Đọat,Công SứcCông Đáo,Thị Câu,Thị Kéo
Ngô Công Dung sinh Công Tùng,Công Thu,Công Chất,Văn Đổng
Ngô Công Khố sinh Công Xuyến,Văn Tứ
Ngô Công Lý sinh Công Quảng,Công Tân,Công Trực,Thị Sung,Thị Ngân
Ngô Công Quỳnh sinh Văn Trước,Văn Giai,Văn Vận,Thị Duy,Thị Cử,Thị Thời,
Thị Tháo
Ngô Công Vĩnh sinh Văn Bổ,Văn Tử,Văn Tráng,rhị Đủ
Ngô Công Đốc sinh Văn Trạch
Ngô Công Hùynh sinh Văn Chất,Văn Hữu
Ngô Văn Con sinh Công Viên,Công Luận,Văn Vũ,Văn Diệt,Văn Đó,
Văn Nhơn(vt),Thị Trực,Thị Ngao
Ngô Hữu Thân sinh Văn Hòai(vt),Văn Sừng,Thị Lửa,Thị Tể,Thị Hỷ,Thị Cay,
Thị Nghi
Ngô Công Cầu sinh Văn Ngốc,Văn Kha
Ngô Văn Thất sinh Văn Tinh,Văn Chiết đều vô tự
Ngô Công Lội sinh Văn Cày (vt)
Ngô Công Bền sinh Văn Ấn,Văn Bình,ba trai vô tự (Văn Trương,Văn Đó,Văn Sữa)
Ngô Công Đàm sinh Văn Muối,Văn Út,Văn Nghệ,Văn kỳ đều vô tự,Văn Thể
Ngô Công Nhạt sinh Văn Xung,Văn Tổ
Ngô Công Ấn sinh Văn Lư,Văn Có
Ngô Công Của sinh Văn Lộc
Ngô Công Lẫm sinh Văn Ban,Văn Nầy,Thị Hứa
Ngô Công Cột sinh Văn Kiều
Ngô Công Lượng sinh Văn Đúc,Công Đăng
Ngô Công Khôi sinh Công Nầy,Công Nò,Công Điền
Ngô Công Lợi sinh Công Đực
Ngô Công Nhĩ sinh Văn Đực,Văn Đông Thị Đính,Thị Chút,Thị Tới
Ngô Công Trỗ sinh Công Điển,Văn Con,Thị Lựu,Thị Đào
Ngô Công Miễn sinh Công Diễn
Ngô Công Cốt sinh Văn Ấn,Văn Bình
Ngô Công Cò sinh Văn Liên,Văn Lộc,Thị Vinh,Thị Mày
Ngô Công Niên sinh Văn Tùng,Văn Bàn,Văn Khương,Văn Sửa,Văn Định,
Văn Tiếu,Văn Lúc
Ngô Công Giai sinh Văn Bẽo,Văn Quý,Thị Diệu,Thị Giai
Ngô Vĩnh Viễn sinh Văn Dụ,Văn sài,thụi Ngư,Thị Vỵ,Thị Thảo,Thị Luận,Thị Tài
Ngô chính Đạo sinh Văn Tập,Văn Nghiêm,Văn Quỳ,Văn Phụng,Thị Điều,Thị Trực,
Thị Cư,Thị Tố.
Ngô Văn Sung sinh Văn Cội,Văn Cò,Văn Ngốc,Văn Nghiên,Văn Đuôi,Thị Cốc,
Thị Chiếc,Thị Diều
Ngô Công Luận sinh Văn Khiêm,Văn Bích,Văn Huy,Thị Thời
Ngô Công Héo sinh Văn Chức,Văn Kiều
Ngô Công Tài sinh Thị Một
Ngô Đắc Tâm sinh Đắc Tính,Đắc Bình, Thị Bèn,và bảy người con trai khác vô tự
Ngô Đắc Thọai sinh Đắc Bình,Thị Kênh
Ngô Đắc Hưng sinh Đắc Công,Đắc Nghị,Đắc Ngọ,Đắc Đấu,Thị Cỗi
Ngô Đắc Chánh sinh Đắc Vọng,Đắc Thục,Thị Nga,Thị An
Ngô Đắc Nào sinh Đắc Lực vô tự
Ngô Đắc Liệu sinh Đắc Đông,Đắc Kèo (cả hai vô tự),Đắc Khâm,Đắc Ó,Thị Trà,
Thị Tàu
Ngô Đắc Định sinh Đắc Khoa,Đắc Chung,Đắc Chút.

Đời thứ 40

40 Ngô Công Tiến sinh Văn Giác,Văn Hạnh,Văn Chút,Thị Điều,Thị Tộ,Thị Kính,
và bảy trai vô tự: (Văn Thất,Văn Hiếu,Văn Được,Văn Chít,Văn Đĩnh,
Văn Hy,Văn Ngỗng)
Ngô Hưng Nhượng sinh Văn Thi,Văn Thành,Văn Vịnh,ba trai vô tự ( Văn Dực,Văn Tú,
Văn Thức),Thị Kinh,Thị Thận,Thị Hợi,Thị Tóan.
Ngô Văn Lai sinh Văn Túy (vô tự),Văn Dĩ,Văn Đức ,Văn Nho,Văn Dinh,Văn Hoặc,
Văn Huyến,Văn Mẹo (vt),Văn Thận,Văn Thuấn (vt),Thị Liễu,Thị Hòe,
Thị Nhựt,Thị Hiếu,Thị Đễ.
Ngô Văn Kiêm sinh Văn Liên,Văn Duột,Văn Thực,Văn Trúng,Văn Đào,Văn Quý,
Văn Tuấn,Văn Tọai,Văn Súy (cả chín người đều vô tự),
Văn Sừng,Văn Hòa,Văn Giá.
Ngô Công Thuộc sinh Văn Cu (vt),Văn Cưỡng,Thị Lang,Thị Đẹt,Thị ChúT.
Ngô Công Hý sinh Văn Sương,Văn Mẹo.
Ngô Quý Thẩm sinh Văn Tiễn,Văn Diêu,Văn Tân,Văn Tọai,Văn Truy,Văn Tấn,
Văn Thích,Văn Nhã,Văn Đạt,Thị Đích,Thị Xuyến.
Ngô Quý Tuấn sinh Văn Diêm,Văn Sính,Văn Quá,Văn Trì,Văn Phùng,Văn Ngộ,
Văn Sửu,Văn Liên,Thị Sáu,Thị Thức.Thị Mai,Thị Đàn,Thị Đạm.
Ngô Công Khế sinh Văn Bính,Thị Đinh,Thị Tỵ.
Ngô Công Miên sinh Văn Tý,Thị Lon,Thị Tài,Thị Nghề,Thị Nghiệp,Thị Thân.
Ngô Công Rất sinh Văn ChuộT.
Ngô Công Chiểu sinh Văn Liễu.
Ngô Quý Liêu sinh Văn Nơm,Văn Sơ,Văn Bơ,Thị Nở.
Ngô Quý Thể sinh Văn Giõ (vt),Thị Hơn.
Ngô Công Chít sinh Công Nhan,Công Tấn,Công Kiệt,Công Viết (vt),Thị Nguyệt,
Thị Năm,Thị Trưng,Thị Huân,Thị Chỉ,Thị Long,Thị Trà,Thị Huy,Thị Chi.
Ngô Công Của sinh Công Lẫm,Công Lúa,Công Hiệp,Công Hội (vt),Công Hương,
Thị Sum,Thị Ưng.
Ngô Công Chung sinh Văn Khêu,Văn Đuốc,Văn Khá,Văn No,Văn Được,
Văn Thắng,Văn Thiệt,Văn Mẫn,Văn Mua,Thị ĐợT.
Ngô Công Ra sinh Văn Chức,Văn Hướng,Thị Xúc.
Ngô Công Chiểu sinh Công Bông,Thị Thuần,Thị Ba.
Ngô Công Truyền sinh Công Dung,Thị Vu,Thị Bổn,Thị Niên.
Ngô Công Ban sinh Công Hậu,Công Đích,Thị Lan,Thị Đôi.
Ngô Công Tọa sinh Công Cư,Thị Tọai,Thị Diệt,Thị Kiến.
Ngô Công Tuất sinh Công Thại,Công Dư,Công Đố,Thị Cho,Thị Dụng,Thị Vây,Thị Nấm.
Ngô Công Hợi sinh Công Cay,Công Sành,Công Chích,Công Can,Thị Khuy,Thị Thôn,
Thị ChúT.
Ngô Công Cổn sinh Công Giáo,Công Nhượng,Công Lý,Thị Tường,Thị Lành,Thị Đủ.
Ngô Công Cừu sinh Văn Nhã,Thị Hiếu.
Ngô Công Thái sinh Văn Tha,Văn Thích,Văn Kinh,Văn Xin,Văn Hích,Văn Xí.
Ngô Duy Tự sinh Văn Khởi,Văn Mù,Văn Thám,Văn Tử,Văn Mén,Thị Khuê,
Thị Thuận,Thị Thảo,Thị Mơ,Thị Sữa.
Ngô Văn Huy sinh Văn Chơn,Văn Tứ,Văn Tân,Văn Hỷ,Thị Thuần,Thị Tòan,
Thị Tam,Thị Tuất,Thị Em.
Ngô Văn Chỉ sinh Văn Hựu,Văn Xa,Văn Cho,Văn Mén.
Ngô Duy Dương sinh Văn Lọ (vt).
Ngô Văn Chơn sinh Văn Lâm,Văn Ngộ,Văn Đóan,Thị Quyên,Thị Hành,
Thị Nhường,Thị Kiết,Thị Tương,Thị Mai,Thị Bản,Thị Hòe.
Ngô Văn Kiều sinh Văn Cốc,Văn Huấn,Thị Giống.
Ngô Văn Sầm sinh Văn Ty,Văn Lai,Văn Hoan,Văn Mẹo,Thị Giảng,Thị Tuất,
Thị Mùi,Thị Nhỏ,Thị Em.
Ngô Thiên Kế sinh Văn Đổng,Văn Thống,Văn sấm,Thị Chi,Thị Đạm,Thị Sáu.
Ngô Văn Quyến sinh Văn Như.
Ngô Văn Út sinh Văn Thượng,Văn Thân,Thị Hinh.
Ngô Văn Vinh sinh Văn Dỏng.
Ngô Văn Thức sinh Văn Lập,Văn Hung.
Ngô Văn Hợi sinh Văn Mèo,Văn ChuộT.
Ngô Văn Hóng sinh Văn Hải,Văn Liên,Văn Con,Văn Sỏi,Thị Họat,Thị Xong.
Ngô Văn Phổ sinh Văn Phụng,Thị Dõan.
Ngô Văn Tấn sinh Thị Huyền.
Ngô Văn Hiển sinh Văn Vỹ,Văn Hỷ,Văn Sỹ,Văn Thảo,Văn Nghi,Văn Con,Thị Đỉnh.
Ngô Văn Bỉnh sinh Văn Chữ,Văn Bầu.
Ngô Văn Chít sinh Văn Tiết (vt).
Ngô Văn Thục sinh Văn Hoan.
Ngô Văn Hiệp(Hợi) sinh Văn Đây,Ngô Ngộ,Văn Chí,Văn Giảng.
Ngô Công Sương sinh Công Lê.
Ngô Công Lãnh sinh Văn Đỗng,Văn Giai,Văn Đủ,Thị Bảy,Thị Học,Thị Thêu,
Thị No.
Ngô Công Vinh sinh Văn Lâu,Thị Thời.
Ngô Công Hề sinh Công Sách,Văn Khiêm,Chánh Kinh,Văn Hộ,Văn Quý,
Văn Lai,Thị Thể,Thị Nữ.
Ngô Công Uynh sinh Thị Xá.
Ngô Công Lội sinh Văn Chiến,Văn Trường.
Ngô Công Của sinh Văn Viên,Văn Để,Thị Đinh,Thị Hành.
Ngô Sung sinh Ngô Liền,Ngô Điệp.
Ngô Công Đấu sinh Văn Cẩm,Văn Tòan,Văn Nhành.
Ngô Công Mùi sinh Văn Xin,Thị Cửu,Thị Lem,Văn Búa,Văn Rìu.
Ngô Công Chược sinh Văn Khai,Thị Thắng,Thị Quảng.
Ngô Công Huân sinh Văn Gà,Thị Giao,Thị Kiệm.
Ngô Văn Vững sinh Văn Kiều,Văn Bẻo,Thị Hơn,Thị Điêu,Thị Thuyền.
Ngô Văn Sức sinh Văn Yêm,Thị Sùng,Thị ĐuộT.
Ngô Công Nhiều sinh Văn Sắc,Văn Biên,Văn Lai,Thị Huề,Thị Đường,Thị Hậu.
Ngô Thúc Tuân sinh Công Phiên.
Ngô Quý Lâm sinh Công Quyền,Văn Đới.
Ngô Công Hiệu sinh Văn Nhưng (vt),Văn Đông,Văn Mén.
Ngô Công Đôi sinh Công Hiểu,Công Mưa,Công Đích,Công Ngộ,Thị Phước,
Thị Ngọ,Thị Trước,Thị Liễu.
Ngô Công Hòa sinh Thị Thiệt,Thị Cây,Thị Nhánh.
Ngô Công Kiệt sinh Công Trân,Văn Khóai,Công Lục.
Ngô Công Thân sinh Công Nghị,Công Duyên,Công Biên,Công Quý,Thị Nầy,
Thị Hòanh,Thị Sữa.
Ngô Công Vượng sinh Văn Khuê.
Ngô Công Lắm sinh Công Nhượng,Công Hòa,Công Xuyến.
Ngô Công Môn sinh Công Học,Công Nồi,Thị Húc,Thị Heo.
Ngô Công Sáp sinh Văn Báu,Thị Khóai,Thị Dây.
Ngô Văn Sọan sinh Văn Sành,Thị Ruồi,Thị Bến.
Ngô Công Phú sinh Công Ngốc,Công Tiếu,Công Núc.
Ngô Công Chiếu sinh Văn Diệt,Văn Hóan,Văn Ních,Văn Tròn,Thị Đó,Thị No.
Ngô Công Bẻo sinh Văn Lượng,Văn Đính,Văn Hợi,Thị Ký,Thị Cân,
Thị Yến,Thị Chí.
Ngô Công Tất sinh Công ChúT.
Ngô Công Phổ sinh Văn Diêm,Văn Búa,Văn Rìu,Văn Liềm,Văn Méo,
Thị Lựu,Thị Miến,Thị ChúT.
Ngô Công Vân sinh Văn Địch,Văn Thời,Văn Yên,Văn Niếu,Thị Văng,
Thị Biện,Thị Hảo,Thị Hiệp.
Ngô Văn Long sinh Văn Chung,Văn Truy,Thị Thận,Thị Viễn,Thị Meo.
Ngô Công Trọng sinh Văn Tá,Văn Xược,Văn Bố,Văn Quyền,Văn Sở,
Thị Đàn,Thị Hải,Thị Dần.Thị Lăng.
Ngô Công Đọat sinh Văn Nghề,Thị Lạc,Thị Dậu,Thị Kiến.
Ngô Công Đáo sinh Văn Bi,Văn Heo,Thị Hiền.
Ngô Công Tùng sinh Công Hội,Công Hiệp.
Ngô Công Thu sinh Văn Bửu,Công Tòan,Thị Thu,Thị Thơ,Thị Thìn.
Ngô Văn Tứ sinh Văn Phu,Văn Thời,Văn ÚT.
Ngô Công Quảng sinh Văn Sô,Văn Kiết,Văn Phổ,Văn Tư (đều vô tự),
Văn Tỏan,Văn Thâm,Văn Thời,Thị Ky,Thị Thái.
Ngô Công Trực sinh Văn Tố,Văn Như,Thị Vi,Thị Kha.
Ngô Văn Trước sinh Công Duật,Văn Lo,Văn Giã,Văn Mùi,Văn Điểu,
Văn Tài,Thị Chương,Thị Mau.
Ngô Văn Giai sinh Văn Cát,Văn Lượng.
Ngô Văn Vận sinh Văn Xuân,Văn Sành,Văn Sáu,Văn Dân,
Văn Học,Văn Thi.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Hiệu,Văn Tiếu,Văn Vinh,Thị Bổ,Thị Tế,Thị Tú.
Ngô Văn Tử sinh Văn Nhị (vt),Văn Lai,Văn Hòa,Văn Cục,Thị Chỉ,
Thị Nhi.
Ngô Văn Tráng sinh Văn Kỷ,Văn Vỹ,Thị Phước,Thị Hiếu.
Ngô Văn Chất sinh Văn Bửu,Văn Quỳ,Văn Bẩm,Văn Giáp,Văn Vò,
Văn Chỉnh.
Ngô Công Viên sinh Văn Dĩnh,Thị Úc,Thị Sang và ba trai đều vô tự (Văn Hùng,
Văn Hợi,Văn Thời).
Ngô Văn Diệt sinh Văn Liễu,Văn Mậu,Văn Hinh,Thị Tố.
Ngô Văn Sừng sinh Văn Kiết,Văn Tuân,Văn Tuân em (vt),Thị Khâm,Thị Kín.
Ngô Văn Ấn sinh Văn Điền,Thị Nhựt,Thị Thuận,Thị Tú.
Ngô Văn Bình sinh Văn Dõ (vt).
Ngô Văn Lộc sinh Thị Hơn,Thị ThiếT.
Ngô Công Nầy sinh Công Thùy.
Ngô Công Nò sinh Công Thung ,Công Liễu.
Ngô Công Điền sinh Công Lập.
Ngô Văn Sữa sinh Văn Dậu,Văn Dự,Văn Con,Thị Chút,Thị Phán,Thị Chí.
Ngô Văn Định sinh Văn Ty,Văn Cu,Văn Chuột,Văn Mau,Thị Thỏ,Thị Văn.
Ngô Văn Tiếu sinh Văn Lâm,Thị Thể,Văn Xịt,Văn Mặt,Thị Xin,Thị Ra,Thị XụT.
Ngô Văn Lúc sinh Thị Đó.
Ngô Văn Bẽo sinh Văn Kiều,Thị Nòai,Thị Tý.
Ngô Văn Quý sinh Văn Phố,Thị Xuân,Thị Phường.
Ngô Văn Dụ sinh Văn Hạo,Văn Chít,Văn Tuân,Văn Nhỏ,Thị Ngfhệ,Thị Mén.
Ngô Văn Quỳ sinh Văn Tọai,Văn Túy,Văn Điểu,Văn Trác,Văn Út,Thị Sáo,
Thị Tiếu,Thị Tuyển,Thị Biện.
Ngô Văn Phụng sinh Văn Tiềm,Thị Ty,Thị Em.
Ngô Văn Cội sinh Văn Mén,Văn Ngao,Văn Du,Văn Hà,Văn Nội,Thị Ốc.
Ngô Văn Nghiên sinh Thị Thanh,Thị Dương,Thị Minh.
Ngô Văn Khiêm sinh Văn Chữ,Văn Mèo,Văn ChuộT.
Ngô Văn Bích sinh Văn Dậu,Thị Hỏi,Thị Xê,Thị Đó,Thị Hàn.
Ngô Đắc Tính sinh Đắc Trích,Thị Bình,Thị Loan,Thị Đã,Thị Mẫn,Thị Mùi.
Ngô Đắc Bình sinh Đắc Trâu,Thị Cung,Thị Trở.
Ngô Đắc Bình sinh Đắc Sữa,Đắc Gậy,Đắc Miêu,Đắc Khét,Đắc Cờ,Thị Viện,
Thị Xích,Thị Tửu.
Ngô Đắc Công sinh Đắc Kế,Đắc Hốc,Đắc Khuất,Thị Hoang,Thị Thuận,Thị Duy.
Ngô Đắc Nghị sinh Đắc Tuyển (vt),Đắc Điện,Đắc Xin,Thị Thỏa.
Ngô Đắc Ngọ sinh Đắc Nghê,Thị Mi.
Ngô Đắc Vọng sinh Đắc Tiếu,Đắc Ngại,Đắc Hâm,Đắc Lạc,Thị Khước,
Thị Hạnh,Thị Nhỏ,Thị ChúT.
Ngô Đắc Khâm sinh Đắc Chuẩn,Đắc Trì,Đắc Năm,Thị ChúT.
Ngô Đắc Ó sinh Đắc Nghạnh,Đắc Nhỏ,Đắc Vện,Đắc Mực,Đắc Chút,Thị Cô,
Thị Quýt,Thị Tầm,Thị Nhỏ,Thị Xoắn.

Đời thứ 41

41 Ngô Văn Giác sinh Văn Thể,Văn Mến (vt),Thị Thừa,Thị Xây,Thị Bé.
Ngô Văn Hạnh sinh Văn Hoan,Văn Tốt (đều vô tự).
Ngô Văn Chút sinh Thị Nghiễm.
Ngô Văn Thi sinh Văn Khóa,ba trai vô tự (Văn Cẩn,Văn Mật,Văn Nhơn),Thị Danh,
Thị Ký,Thị Tung.
Ngô Văn Thành sinh Văn Thuyên (vt),Thị Ấm,Thị Dung.
Ngô Văn Vịnh sinh Văn Dần,Văn Cán,Văn Mới,Thị MóT.
Ngô Văn Dĩ sinh Thị Đường.
Ngô Văn Chức sinh Văn Chút,Văn Mính,Văn Chớ,Thị Đáo.
Ngô Văn Nho sinh Văn Cáo,Thị Chơn,Thị Thời,Thị Em.
Ngô Văn Dinh sinh Văn Hữu (vt),Thị Đãi.
Ngô Văn Hoặc sinh Văn Sắc,Thị Mỹ,Thị Lãm,Thị Nữ.
Ngô Văn Huyến sinh Văn San,Văn Đá (cả hai vô tự),Thị Đãi.
Ngô Văn Thận sinh Văn Dậu,Văn Sanh,Văn Kiếm,Văn Đấu,Văn Tham (đều vô tự),
Văn Mính,Văn Lý,Văn Út,Văn Nấu,Thị Bôi,Thị Khâm,Thị Hương.
Ngô Văn Sừng sinh Văn Tuân,Văn Tụy,Văn Vân,Văn Bốc (đều vô tự),Văn Mực,
Thị Nhơn,Thị Nghĩa.
Ngô Văn Hòa sinh Văn Em,Văn Ninh,Văn Tặc (đều vô tự),Văn Được,
Thị Bường,Thị Lượm.
Ngô Văn Giá sinh Văn Phẩm,Văn Hường,Thị Hương.
Ngô Văn Cưỡng sinh Văn Sáo.
Ngô Văn Tọai sinh Văn Hòe,Thị Cậy,Thị Lụa,Thị Út,Thị Gần,Thị Liễu,Thị Lý.
Ngô Văn Thích sinh Văn Trừng,Văn Tư.
Ngô Văn Nhã sinh Văn Luyến,Văn Từ,Thị Tuệ.
Ngô Văn Đạt sinh Văn Ân,Văn Ý,Thị Thông.
Ngô Văn Quá sinh Văn Hợi,Văn Thìn,Thị Tưởng.
Ngô Văn Trì sinh Văn Thứ,Văn Thiệu,Văn Bi,Thị Mực.
Ngô Văn Sứu sinh Văn Nhồng,Văn Chung,Văn Quy,Văn Khá,Văn Đến,Văn Nhỏ,Thị KéT.
Ngô Văn Liên sinh Văn Châu.
Ngô Văn Bính sinh Văn Ất,Văn Mao,Văn Hiên.
Ngô Văn Tý sinh Văn Thiện,Văn Quế.
Ngô Văn Sơ sinh Văn Vện,Văn Thọ (cả hai vô tự),Thị Vàng.
Ngô Văn Bơ sinh Thị Liễu.
Ngô Công Nhan sinh Công Bàn.
Ngô Công Tấn sinh Công Đông,Công Lại (vt).
Ngô Công Kiệt sinh Công Méo.
Ngô Công Lẫm sinh Công Dư,Thị hừa,Thị Vận.
Ngô Công Lúa sinh Công Nầy,Công Lái ,Công Thuyền,Công Tới (cả bốn vô tự),
Công Sào.
Ngô Công Hiệp sinh Công Hòa.
Ngô Văn Khêu sinh Công Thích,Văn Hoặc,Văn Kiếm,Thị Héo,Thị Thơm,Thị Lộng.
Ngô Văn Đuốc sinh Ngô Lễ (mất tích),Thị Chuyện,Thị Mèo.
Ngô Văn Thắng sinh Văn Vững,Văn SéT.
Ngô Văn Chức sinh Văn Phận,Văn Trâu,Thị Bò,Thị Bầy,Thị Cái,Thị Nai.
Ngô Văn Hướng sinh Văn Thơ,Thị Mùi.
Ngô Công Đích sinh Văn Phiến,Thị Tuyển.
Ngô Công Giáo sinh Công Thự,Thị Lai,Thị Hợi.
Ngô Công Thại sinh Văn Ngân,Văn Minh,Văn Thước,Văn Cường,Thị Mai,Thị Quế.
Ngô Công Sành sinh Văn Sọan,Văn Suối,Thị Du.
Ngô Công Lý sinh Thị Ngốc.
Ngô Văn Nhã sinh Văn Vằn,Thị Điền,Thị Nuôi,Thị Mọi.
Ngô Văn Khởi sinh Văn Tâm,Văn Hỷ,Văn Lân,Thị Sọan,Thị Thể,Thị Như,Thị Nhiên.
Ngô Văn Mù sinh Văn Kinh,Thị Xâu,Thị Xách,Thị Xít,Thị Nguyên,Thị Nhỏ,
Thị Khai,Thị Tiếu.
Ngô Văn Thám sinh Văn Em,Thị Nhơn,Thị Đãi,Thị Giá,Thị Duyên.
Ngô Văn Tử sinh Văn Kích.
Ngô Văn Tân sinh Ngô Câu.
Ngô Văn Hỷ sinh Văn Đệ (phân chi Plâycu).
Ngô Văn Lâm sinh Văn Bổ,Văn Giao,Ngô Bồi,Thị Hồ.
Ngô Văn Ngộ sinh Văn Ngộ,Thị Chút,Thị Đỉnh.
Ngô Văn Đóan sinh Văn Mạnh,Văn Tụng.
Ngô Văn Cốc sinh Văn Quy,Văn Phụng.
Ngô Văn Huấn sinh Văn Huấn,Văn Luyến,Thị Thử,Thị Thìn,Thị Bé,Thị Tôm,Thị Tép.
Ngô Văn Lai sinh Văn Thiệt,Văn Phẩm,Văn Côn.
Ngô Văn Đổng sinh Ngô Tích,Ngô Lưu,Ngô Lạc,Ngô Dò,Ngô Vàng,Ngô Vịnh,
Thị Kiệt,Thị Mai.
Ngô Văn Thống sinh Ngô Cán.
Ngô Văn Như sinh Thị Kiến.
Ngô Văn Thượng sinh Ngô Nuôi,Ngô Mực,Thị dày.
Ngô Văn Lập sinh Văn Lập.
Ngô Văn Hung sinh Văn Kiểm,Văn TốT.
Ngô Văn Chuột sinh Ngô Bộ,Ngô Thà,Thị Thạc,Thị Mùi.
Ngô Văn Vỹ sinh Văn Mẹo,Văn Thuật,Ngô Số,Văn Xin,Thị Dậu,Thị Nhỏ.
Ngô Văn Đây sinh Ngô Xé,Thị Huy,Thị May,Đức Thanh,Đức Thân (vt),
Thị Hạnh,Thị Phước,Thị Tâm.
Ngô Ngộ sinh Ngô Định,Ngô Thiêm (Ls.),Xuân Nhĩ,Thị Bình.
Ngô Chí sinh Ngô Thắng,Thành Tài,Ngô Thạnh,Đức Dư,Đức Dinh,Thị Xuân,
Thị Thu,Thị Nguyện,Thị Ước.
Ngô Giăng sinh Ngô Khái,Quang Thành,Ngô Khá,Thị Thương,Thị Thử.
Ngô Sang sinh Thị Mãn,Thị Lượm.
Ngô Liền sinh Ngô Tích,Ngô Pho,Thị Ưng,Thị Thời.
Ngô Điệp sinh Ngô Điệp.
Ngô Công Lê sinh Công Sách,Văn Giai,Thị Hiếu.
Ngô Văn Dai sinh Văn Do,Văn Luân,Ngô Tháo.
Ngô Văn Trác sinh Văn Trực,Văn Chỉ,Văn Diện,Văn Thâm,Văn Liêu,
Thị Tung,Thị Tương,Thị Thâm.
Ngô Văn Đủ sinh Văn Chí,Thị Chánh,Thị Hồi,Thị Họat,Thị Tâm,Thị Kế.
Ngô Văn Lâu sinh Thị Lâu,Thị Đài,Ngô Lệ.
Ngô Văn Khiêm sinh Văn Đạt,Văn Viện,Ngô Đăng,Thị Như,Thị Vận,
Thị Thi,Thị Xin,Thị Niệm.
Ngô chánh Kinh sinh Văn Huấn,Thị Bá,Thị Thọai,Thị Giăng.
Ngô Văn Hộ sinh Văn Vân,Công Đam,Văn Cận,Thị Vận,Thị Ruồi.
Ngô Văn Quy sinh Văn Mậu,Văn Thuần.
Ngô Văn Cẩm sinh Văn Cẩm,Hữu Điển,Duy Trịnh,Kiêm Giám,Thị Tù,Thị Chấp.
Ngô Văn Xin sinh Văn Tuyển,Văn Đó,Thị Cái.
Ngô Văn Gà sinh Văn Thâm,Văn Liễu.
Ngô Văn Kiều sinh Văn Luôn ,Văn Còn,Văn Mới,Văn Cũ,Văn Vu,Thị Thời,
Thị Thân,Thị Len,Thị Luốc,Thị Lọ.
Ngô Văn Bẻo sinh Văn Ngọ,Văn Tý,Văn Mẹo,Thị Hợi,Thị Dần,Thị Thìn,
Thị Mùi.
Ngô Văn Yêm sinh Thị Phận,Thị Chắc,Thị Thiệt,Thị Thêm.
Ngô Văn Biên sinh Văn Chút,Thị Kỷ,Thị Phối,Thị Dần.
Ngô Văn Lai sinh Công Xin,Công Bèn,Văn Nuôi,Văn Xe,Văn Miên,Thị Cân,
Thị Thừa,Thị Hành.
Ngô Công Phiên sinh Ngô Cả (vt),Ngô Lãm,Ngô Diễn,Văn Út,Thị Phặt,
Thị Sắc,Thị Thòan,Thị Mọi,Thị Nghiệp.
Ngô Văn Đông sinh Văn Mẹo,Văn Ký,Văn Gậy,Thị Qua,Thị Bồi,Thị Kiều,
Thị Cúc.
Ngô Văn Mén sinh Văn Đó,Văn Cư,Văn Cò,Văn Chiêm,Thị Huấn,Thị Thời,
Thị Nga,Thị Bảy,Thị Thẳng,Thị ÍT.
Ngô Công Lạc sinh Văn Nhung,Công Hoan,Ngô Phúng,Thị Bột,Thị Tụng,
Thị Huyền,Thị Luân,Thị Huấn.
Ngô Công Nhượng sinh Văn Núi,Văn Sơn,Văn Thuyền,Thị Nhượng,Thị Hải,
Thị Hà,Thị Kiều,Thị Nhị,Thị Tam.
Ngô Công Hòa sinh Thị Hòa,Thị Có.
Ngô Công Xuyến sinh Văn Khải,Văn Nhì,Văn Tứ,Văn Tương,Văn Hương,
Thị Xuyến,Thị Đông,Thị Dư.
Ngô Công Học sinh Văn Quyền,Văn Sai,Văn Xách,Văn Mễnh,Văn Diêu,
Thị Út,Thị âm,Thị Sẻ,Thị Nghé.
Ngô Văn Bán sinh Văn Đông,Văn Dần,Văn Xích,Văn Thứ,Thị Hùynh,
Thị Mai,
Ngô Công Sử sinh Văn Khai,Văn Chù,Văn Mau,Thị Thiết,Thị Cấn,
Thị Lân,Thị Minh.
Ngô Văn Xáng sinh Văn Mọi,Thị Luận,Thị Hiếu.
Ngô Văn Hóan sinh Văn Cô,Văn Thị ,Văn Kỉnh,Văn Được,Văn Cái,Văn Bỉnh,
Thị Rận.
Ngô Văn Ních sinh Ngô Tùng.
Ngô Văn Lương sinh Văn Thìn,Văn Cơ (vt).
Ngô Văn Đính sinh Văn Chính,Văn Đính,Thị Đóng.
Ngô Văn Búa sinh Văn Thi,Văn Hoan,Văn Thị ,Thị Xin.
Ngô Văn Riều sinh Văn Luận,Văn Nuôi (cả hai vô tự).
Ngô Văn Địch sinh Văn Nghi,Văn Trung (vt),Văn Dung,Thị Dự,Thị Trinh,
Thị Con,Thị ChúT.
Ngô Văn Yên sinh Văn Hòai (vt),Văn Như,Ngô Truyền,Văn Dậu,Văn Tuất,Văn Hợi,
Văn Sẻ,Thị Đạo,Thị Nghĩa.
Ngô Văn Truy sinh Văn Cho,Văn Hóa,Thị Lê.
Ngô Văn Tá sinh Văn Phó,Văn Do,Văn Tọai,Thị Thân.
Ngô Văn Xước sinh Văn Huynh,Văn Mãn,Văn Cẩn,Thị Quy,Thị Hồi,Thị Tiễu.
Ngô Văn Bố sinh Văn Khai,Văn Chước,Văn Thắng,Thị Én,Thị Đãi.
Ngô Văn Sữa sinh Văn Tam,Văn Búa,Văn Phố,Văn Tứ,Văn Lục,Văn Ngọ.
Ngô Văn Nghề sinh Thị Nghề,Thị Thời,Thị Mọi.
Ngô Văn Bị sinh Thị Em,Văn Liêm,Thị Mẹo.
Ngô Văn Hội sinh Văn Hội (vt).
Ngô Văn Hiệp sinh Văn Niệm.
Ngô Văn Tòan sinh Văn Tòan,Văn Khóa,Thị Sắc,Thị Em,Thị Con.
Ngô Văn Tỏan sinh Ngô Đạm,Ngô Kỳ,Ngô Năm,Ngô Trân,Ngô Du,Văn Liên,
Thị Lập,Thị Bảy,Thị Điệu.
Ngô Công Duật sinh Công Thơ.
Ngô Văn Lọ sinh Văn Anh,Văn Hòai,Thị Diên,Thị Lắm,Thị Tường,Thị Tân,
Văn Chí,Thị Loan,Ngô Tiêu,Ngô Đức ,Ngô Cư,Ngô Đáo,
Thị Đương,Thị Vân,Thị Sáu,Thị Cưỡng,Thị Đễ.
Ngô Giả sinh Ngô Ban,Ngô Ba,Ngô Xuân,Thị Giả,Thị Đề,Thị Hương.
Ngô Mùi sinh Thị Mùi.
Ngô Điểu sinh Thị Điệp.
Ngô Tài sinh Ngô Đầu,Ngô Tu,Thị Liên,Thị ÚT.
Ngô Văn Cát sinh Ngô Ngoạn.
Ngô Thi sinh Ngô Điệp,Ngô Sách,Thị Khái,Thị Chất,Thị Thơm.
Ngô Dân sinh Thị Dân,NgôBán,Thị Mua.
Ngô Học sinh Thị Học,Bá Thừa,Bá Hùng (vt).
Ngô Văn Hiệu sinh Văn Ky (vt),Văn Liễu,Văn Sỹ ,Thị Hợi.
Ngô Văn Tiếu sinh Văn Diết,Văn Cấn,Văn Ba.
Ngô Văn Vinh sinh Văn Duật,Văn Con,Thị Cước.
Ngô Văn Lai sinh Văn Thiệu (vt).
Ngô Văn Cục sinh Thị Dung,Thị Cái.
Ngô Văn Kỷ sinh Văn Quát,Văn Tác,Thị Hào,Thị Mương.
Ngô Văn Phó sinh Văn Nhự,Văn Lự,Văn Hoạch,Thị Théo.
Ngô Văn Chỉnh sinh Văn Tần,Văn Mao (vt),Thị Từ.
Ngô Văn Dĩnh sinh Văn Liên (vt),Thị Khâm.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Lục,Văn Đáo,Văn Đinh,Văn Thán (cả bốn vô tự),
Văn Lực,Ngô Tại,Thị Thư,Thị Quảng.
Ngô Văn Mậu sinh Văn Đa.
Ngô Văn Dinh sinh Văn Dần,Văn Đối,Văn Trước,Văn Được,Văn Xuân,Văn Quyến.
Ngô Văn Khét sinh Ngô Mính.
Ngô Văn Lam sinh Ngô Thuẫn.
Ngô Văn Điền sinh Văn Được,Văn Tâm,Thị Điển,Thị Nồi.
Ngô Văn Dậu sinh Văn Túy,Văn Mưu,Văn Trí,Thị Ký,Thị Sử.
Ngô Văn Dự sinh Ngô Viện,Thị Sửa,Thị Năng,Thị Cần.
Ngô Văn Ty sinh Ngô Ngự,Ngô Sùng,Ngô Hà,Văn Ổi.
Ngô Văn Cu sinh Thị Môn.
Ngô Văn Lâm sinh Thị Thu.
Ngô Công Thùy sinh Công Tọai,Công Hoằng,Thị Bền,Thị Biên.
Ngô Công Thung sinh Công Đợi,Công Phước,Công Danh,Công Tài.
Ngô Công Lập sinh Công Hiếu,.
Ngô Công Tuân sinh Ngô Cần,Thị Thư,Thị Cái,Thị Đây,Thị Nhã.
Ngô Công Trác sinh Ngô Phương,Thị Thứ,Thị Đề.
Ngô Văn Tiềm sinh Văn Chiêm,Thị Cái.
Ngô Văn Khai sinh Văn Khai,Thị Tâm.
Ngô Văn Nội sinh Thị Giang.
Ngô Văn Mèo sinh Thị Tá.
Ngô Văn Chuột sinh Thị Lợi.
Ngô Văn Dậu sinh Văn Dĩnh,Văn Dực,Văn Đa,Văn Thiểu.
Ngô Đắc Trích sinh Đắc Trâu,Đắc Long,Thị Phụng,Thị Tể.
Ngô Đắc Trâu sinh Đắc Luận,Đắc Đó,Đắc Vấn,Thị Lại.
Ngô Đắc Sữa sinh Đắc Chuột (vt),Đắc Mò,Đắc Hó,Đắc Dĩnh,Thị Tù,Thị Hiếu,
Thị Mén,Thị ChúT.
Ngô Đắc Miệu sinh Thị Lang,Thị Huệ.
Ngô Đắc Khét sinh Đắc Hối,Đắc Diệt,Thị Thìn.
Ngô Đắc Kề sinh Đắc Hảo,Đắc Dung,Đắc Mèo,Thị Kề,Thị Ai.
Ngô Đắc Hốc sinh Đắc Mèo,Đắc Mậu,Đắc Chút,Đắc Chĩnh,Thị Lại.
Ngô Đắc Khuất sinh Đắc Chân,Đắc Liên (cả hai vô tự),Đắc Nuôi.
Đắc Liễu,Đắc Nhỏ,Đắc Đến.
Ngô Đắc Diện sinh Đắc Được (vt),Thị Hậu,Thị Hòai,Thị Uẩn,Thị Nhiều,Thị Lựa.
Ngô Đắc Nghê sinh Đắc Thao,Đắc Em,và hai trai vô tự (Đắc Lào,Đắc Lựa).
Ngô Đắc Ngại sinh Đắc Huyền,Đắc Luyện,Đắc Thê đều vô tự.
Ngô Đắc Vện sinh Văn Lương.
Ngô Đắc Mực sinh Văn Bằng,Văn Lý.

Đời thứ 42

42 Ngô Văn Thể sinh Văn An,Văn Thảo (vt),Văn Khương,Thị Lại.
Ngô Văn Khóa sinh Văn Học (vt),Văn Hòanh,Văn Hóan,Thị Huấn,Thị Phi,
Thị Tốt,Thị Mận.
Ngô Văn Dần sinh Văn Liễu,Văn Mai anh,Văn Mai em,Văn Hảo,Văn Hải,
Thị Én,Thị Hạnh.
Ngô Văn Cán sinh Văn Đại,Văn Phong,Thị Liên,Thị Hồng Vân,Thị Như Tiên.
Ngô Văn Thêm sinh Văn Sơn,Văn Minh.
Ngô Văn Sắc sinh Văn Địch,Thị Đãng,Bồi chị,Bồi em.
Ngô Văn Mính sinh Văn Thành.
Ngô Văn Lý sinh Văn Tổng,Văn Trước (vt),Văn Sau (vt).
Ngô Văn Út sinh Văn Hướng (vt),Thị Bé,Thị Lục,Thị Bê.
Ngô Văn Mực sinh Thanh Trà,Thị Thơ,Thị Hòanh.
Ngô Văn Được sinh Thị Lành.
Ngô Văn Phẩm sinh Văn Phong,Thị Phương,Thị Trang,Thị Cẩm Thi.
Ngô Văn Hường sinh Đức Thuận,Đức Hiền,Đức Hùng,Thành Hiếu,Thành Nhân,
Thành Việt,Thành Hùng,Thị Hạnh,Thị Vân,Thị Thảo.
Ngô Văn Sáo sinh Thị Tuyết,Thị Hồng Vân.
Ngô Văn Hòe sinh Văn Trợ,Thị Bé.
Ngô Văn Trừng sinh Văn Nha,Ngô Nhẫn,Văn Thư,Văn Vọng,Thị Hợi,Thị Lại.
Ngô Văn Tư sinh Ngô Tịnh.
Ngô Văn Từ sinh Văn Dục Ls.
Ngô Văn Thứ sinh Văn Nẫm,Văn…,Thị Phong,Thị Vằn,Thị Vện.
Ngô Văn Thiệu sinh Văn Bồi,Thị Long.
Ngô Văn Chung sinh Văn Bình,Thị Thuận,Văn Luận,Thị Công,Văn Định,
Thị Thảo,Thị Thắng.
Ngô Quy sinh Văn Phúc,Văn Kế,Văn Tiếp,Thị Hiền.
Ngô Văn Nhỏ sinh Thị Phúc,Thị Tương.
Ngô Văn Châu sinh Tấn Lai,Tấn Hùng,Tấn Thùy,Thị Ngân.
Ngô Văn Mao sinh Thị Nga.
Ngô Văn Hiên sinh Đình Lang,Thị Hiên,Thị Ngôn,Thị Cúc,Thị Khai,
Thị Hàng.
Ngô Công Bàn sinh Công Bồi,Công Chước,Công Lợi,Công Quyền,Công Câu,
Thị Nhẫn,Thị Hậu.
Ngô Công Đông sinh Công Kỳ,Công Lợi,Công Hoan,Công Meo,Công Cực,
Công Nghị,Thị Hai,Thị Nên,Thị Đắng.
Ngô Công Méo sinh Công Chước,Công Hý,Thị Chuột,Thị Tấm.
Ngô Công Dư sinh Công Dụng,Thị Thêm.
Ngô Công Nầy sinh Thị Xụt,Thị Cược.
Ngô Công Sào sinh Công Y,Văn Loan,Thị Miên,Thị Tiền.
Ngô Công Lái sinh Văn Sữa.
Ngô Văn Hòa sinh Văn Bình,Thị Diên,Thị Chiểu.
Ngô Văn Vững sinh Văn Sở,Văn Miên,Thị Cái.
Ngô Văn Sét sinh Văn PháT.
Ngô Ngân sinh Tấn Đạt,Thị Ngốc,Thị Ngọt,Thị Bờ,Thị Bụi.
Ngô Thước sinh Văn Ngọc,Đình Hồng,Thị Đắc,Thị Nhạn,Thị Thước,
Thị Kim Yến.
Ngô Cường sinh Văn Lực,Văn Lương,Văn Thành,Thành Được,
Đức Nhiên,Văn Thân,Thị Cường,Thị Châu,Thị RớT.
Ngô Văn Tâm sinh Thị Kỷ.
Ngô Văn Hỷ sinh Công Viễn,Công Xước,Thị Mai,Thị Tùng,Thị Để.
Ngô Văn Em sinh Công Liệu,Thị Liễu.
Ngô Văn Kích sinh Công Tuấn,Thị Kích.
Ngô Câu sinh Ngô Nhứt,Thị Xuân,Thị Khai.
Ngô Văn Bổ sinh Thị Nghi,Thị Hậu,Thị Sau,Thị Đó,Thị DuậT.
Ngô Văn Giao sinh Văn Vàng.
Ngô Bồi sinh Thị Mực.
Ngô Văn Mạnh sinh Văn Mạnh,Văn Được,Thị Thiệt,Thị Thù.
Ngô Văn Luyến sinh Văn Cái,Thị Luyến,Thị Cò,Thị Mực.
Ngô Văn Côn sinh Thị Hiền,Thị Quốc.
Ngô Văn Tích sinh Văn Kẽm,Văn Thanh,Thị Phi,Thị Cái.
Ngô Văn Cán sinh Ngô Tánh,Đình Dũng,Công Thành,Công Tú,
Thị Song,Thị Xê.
Ngô Nuôi sinh Ngô Diên,Văn Dũng,Ngô Niên,Thị TuyếT.
Ngô Bộ sinh Văn Anh,Văn Công, Văn Khánh (Ls.),Văn Ninh,
Văn Thắng,Văn Bình,Thị Y,Thị Phượng.
Ngô Thà sinh Thị Huấn,Thị Thông,Thị Minh,Văn Trung,Văn Thu,
Văn Khôi,Thị Thanh,Thị Bình,Thị Thủy,Thị Hoa.
Ngô Văn Thuật sinh Văn Quý,Văn Trọng,Văn Cảnh,Thị Ngọc,
Thị Nguyệt,Thị Tùng,Thị Độc,Thị ÚT.
Ngô Số sinh Ngô Hiệu,Văn Phong,Ngô Phú,Ngô Quốc, Văn Hạnh,
Văn Phước,Thị Thanh,Thị Tài,Thị Hiền.
Ngô Đức Thanh sinh Đức Dân (Đh),Đức Nam (Đh),Đức Hòang,Thị Nghi,
Thị Vệ,Quốc chị,Quốc em,Thị Lệ Thu,Đức ViệT.
Ngô Định sinh Đức Mạnh,Đức Hường,Đức Hương,Thị Hoa,Thị Xuân.
Ngô Xuân Nhĩ sinh Xuân Nhị,Xuân Hùng,Xuân Hồng,Thị Huệ,Ngô Hà,
Ngô Hải.
Ngô Thắng sinh Thị Trừng (bs.ls.),Trường Xuân,Hà Hiệp (ks),Thị Ánh Đông(bs),
Thị Phương Nam (Đh).
Ngô Thành Tài sinh Thành Lượng,Thị Cúc,Thị Thuận.
Ngô Thạnh sinh Đức Thị nh,Thị Thanh Đà,Việt Hùng.
Ngô Đức Dư sinh Đức Dục,Đức Nhật,Đức Tao,Thị Mỹ Duyên,Thị Mỹ Dung,
Thị Kiều Diễm,Thị Kiều Oanh.
Ngô Đức Dinh sinh Viết Vĩnh (Đh),Nhật Thắng (Đh),Thị Ngọc Thoa,
Thị Ngọc Thy,Thị Ngọc Trinh.
Ngô Khái sinh Đức Duy,Thị Hiền.
Ngô Quang Thành sinh Đức Dũng,Đức Tòan,Đức Lê,Đức Hải,Thị Thuận,
Thị Hồng,Thị Lai,Thị Lợi,Thị Phú,Thị Lộc,Thị Phụng,Đức Long,Đức Lân,
Thị Quy,Thị Loan,Thị Phúc.
Ngô Khá sinh Đức Vui,Đức Tự,Đức Do,Đức Sung,Thị Thanh Nhàn,Thị Thế,
Thị Lệ,Thị Hoa,Thị Ly.
Ngô Pho sinh Ngô Hồng,Ngô Thanh.
Ngô Tháo sinh Văn Thức,Thị Sữa.
Ngô Văn Trực sinh Văn Diên,Văn Minh.
Ngô Văn Diện sinh Văn Kế,Thị Có,Thị Hữu.
Ngô Văn Liêu sinh Văn Bé,Thị Lụa,Thị Bằng.
Ngô Đăng sinh Ngô Tín,Ngô Vàng,Ngô Bửu,Ngô Lang.
Ngô Lệ sinh Văn LuậT.
Ngô Văn Viện sinh Ngô Mạch,Thị Bé.
Ngô Văn Cận sinh Văn Chụp,Thị Cân,Thị Chí,Thị Tâm,Thị Thị nh.
Ngô Hữu Điển sinh Thị Thanh,Thị Ngọc,Ngô Cảnh.
Ngô Duy Trịnh sinh Ngô Căn,Văn Thiêm,Thị Tỏ.
Ngô Văn Tuyển sinh Thị Kỳ.
Ngô Văn Đó sinh Ngô Nghệ,Thị Bích.
Ngô Liễu sinh Ngô Chung.
Ngô Văn Mới sinh Văn Mua,Văn Bán,Đức Dung,Thị Mai,Thị Tâm.
Ngô Văn Cũ sinh Văn Võ.
Ngô Văn Khai sinh Thị Khai,Thị Tâm.
Ngô Văn Nuôi sinh Văn Lợi,Văn Vinh,Thị Nhung,Thị Lợi.
Ngô Văn Xe sinh Văn Liễn (Ls.),Văn Minh,Thị Phiên,Thị Luận.
Ngô Lãm sinh Ngô Thống,Văn Nuôi ,Thị Lâm.
Ngô Diễn sinh Ngô Phùng,Thị Cái,Văn Xí,Ngô Cẩn,Văn Hòang,
Thị Mày,Thị Lương,Thị Mực.
Ngô Văn Út sinh Ngô Tiếng,Văn Xãi,Thị Cái,Thị Xuân.
Ngô Văn Ký sinh Ngô Khoan,Văn Viên,Ngô Hiển,Văn Đặng.
Ngô Văn Gậy sinh Thị Ngọat,Thị Sỏi.
Ngô Văn Đó sinh Thị Thuyền,Cái lớn,Cái nhỏ,Thị Đào.
Ngô Văn Cư sinh Văn Hà,Thị Cư.
Ngô Văn Cò sinh Thị Việt,Văn Cái,Văn Phương.
Ngô Văn Nhung sinh Văn Đăng,Văn Tích,Đức Vỹ,Kim Tương,
Văn Ân,Thị Chước,Thị Trà.
Ngô Công Hoan sinh Văn Bộ (vt),Văn sau (vt),Văn Minh,Thị Sách,Thị Tịch,
Thị Tuyết,Thị Thanh,Thị Mẫn.
Ngô Phúng sinh Văn Hựu,Thị Bồi,Thị Hảo,Thị Quyên.
Ngô Văn Núi sinh Văn Này,Văn An.
Ngô Văn Sơn sinh Văn Xuyến,văn Nhỏ.
Ngô Văn Khải sinh Văn Chút,Thị Tân,Thị Sai,Thị Hiệt,Thị Sung.
Ngô Văn Nhì sinh Văn Mùi,Văn Ty,Văn Thìn.
Ngô Văn Tứ sinh Thị Thảo,Thị Mao,Thị ÚT.
Ngô Văn Hương sinh Thị Dư.
Ngô Văn Quyền sinh Văn Kéo,Văn Tấu,Văn Con,Văn Cò,Văn Út,
Thị Mới,Thị Thai,Thị Xin,Thị Lịch.
Ngô Văn Xách sinh Văn Kiều,Văn Thêm,Ngô Thảo,Văn Nải,Thị Mật,
Thị Thắng,Thị Ngân,Thị Xong,Thị Biện.
Ngô Văn Đông sinh Văn Kỳ,Ngô Đó,Thị Dư.
Ngô Văn Khai sinh Văn Chụp,Văn Mót,Văn Đực,Văn Chữ.
Ngô Văn Mọi sinh Văn Tranh,Văn Để,Thị Xý,Thị Đáng.
Ngô Văn Cô sinh Thị Dĩnh.
Ngô Văn Kỉnh sinh Văn Nhược.
Ngô Văn Bỉnh sinh Thị Cúc.
Ngô Tùng sinh Ngọ An,Thị Hậu.
Ngô Văn Thìn sinh Văn Thũn,Văn Tôn.
Ngô Văn Chính sinh Ngô Lượng.
Ngô Văn Đính sinh Ngô Chinh.
Ngô Văn Hoan sinh Ngô Đàn.
Ngô Văn Nghi sinh Ngô Ngại,Ngô Nghiễm,Thị Cúc,Thị Lan.
Ngô Truyền sinh Hữu Bản,Thị Mực,Thị Truyền,Thị Xiêm,Thị Thêm,
Thị Hoa,Thị Hương.
Ngô Văn Dâu sinh Đình Phụng,Đính Loan,Văn Phòng,Ngô Đức .
Ngô Văn Tuất sinh Ngô Vện,Ngô Đàn,Thị Nhưng,Thị Ngọc.
Ngô Văn Sẻ sinh Văn Chơn,Văn Chưởng.
Ngô Văn Phó sinh Văn Nhược,Văn Đội,Văn Tâm,Văn Hinh,Thị Văn,
Thị Gần.
Ngô Văn Do sinh Văn Sở,Văn Được,Văn Lựu,Văn Bài.
Ngô Văn Huynh sinh Văn Hương,Văn Thường,Văn Khải,Văn Quát,
Văn Thiệp,Thị Thám.
Ngô Văn Cẩn sinh Văn Cừ,Thị Bá.
Ngô Văn Tam sinh Văn Trừng,Thị Trúng,Thị Tường.
Ngô Văn Búa sinh Văn Đào.
Ngô Văn Phố sinh Văn Giang,Văn Mót,Thị Thí.
Ngô Văn Niệm sinh Thị Niệm,Thị Ân,Văn Mực.
Ngô Văn Khóa sinh Đình Bổ,Tấn Bộ,Minh Chánh.
Ngô Đạm Có tên là Nghi Ngô,1880-1953,Tú tài năm 1905.
Năm 1897 tham gia phong trào xuất dương do Cụ Phan Bội Châu tổ chức.
Năm 1905 tham gia tổ chức phong trào Đông Kinh Nghĩa thục.
Năm 1907 tham gia phong trào chống thuế ở Quảng Nam,bị kết án 8 tháng tù.
Năm 1917 tham gia phong trào Duy Tân ,bị bắt lần thứ hai.
1928-1938 ứng cử Hội đồng quản hạt Quảng Nam,Nghị viên Nghị viện
dân biểu Trung kỳ.
1945-1953 Hội trưởng Liên việt huyện Thăng Bình.
Sinh Ngô Hoan,Thị Đồng,Thị Đề,Thị Oanh,Thị Hạnh,Thị Cái,Thị Hỷ.
Ngô Trân sinh Văn Dương,Văn Thiện,Thị Thi.
Ngô Văn Du sinh Ngô Nhu,Ngô Hành,Ngô Bình,Thị Nguyên,Thị Yến.
Ngô Tiêu sinh Ngô Hòa,Ngô Đây,Thị Thạch,Thị Bàng,Thị Mai,Thị Thêm,
Văn Bính.
Ngô Đức sinh Văn Phứơc,Ngô Thảo (định cư Hoa Kỳ),
Ngô Dũng (Ts,định cư Hoa Kỳ),Ngô Nam (định cư Hoa Kỳ),
Thị Phương,Thị Lễ,Thị Nghĩa,Thị Hiền,Thị Hậu.
Ngô Cư sinh Ngô Dõng (định cư Hoa Kỳ),Ngô Mãnh,Văn Nữ (Ls.),
Ngô Dũng (Đh),Thị Thuận,Thị Mộng Ủy,Thị Như Thủy,Thị Kiều Diễm.
Ngô Đáo sinh Minh Hòang (định cư Hoa Kỳ),Minh Dương,Minh Hùng,
Minh Cường,Thị Hoa,Thị Lệ,Thị Ánh Hồng,Thị Hồng Lan.
Ngô Ba sinh Ngô Trương,Ngô Hiệu,Văn Quán,Văn Vàng,Thị Cân,Ngô Đông,
Thị Hạc,Thị Hương.
Ngô Ban sinh Ngô Đông,Quang Cúc,Văn Xù,Văn Em,Văn Nhỏ,Thị Ngọc,
Thị Mai,Thị Lan.
Ngô Đầu sinh Văn Đường,Văn Thanh,Văn Bảy,Văn Tám,Thị Triệu,
Thị Bình.
Ngô Tu sinh Thị Tuấn,Thị Thọai,Thị Cũng,Thị Vui,Thị Mừng,Văn Tòan,
Thị Tuyết,Thị Thương.
Ngô Ngọn sinh Ngô Sa,Ngọ An,Thị Mai,Thị Ba.
Ngô Sách sinh Tần Lợi,Tần Phước (vt),Hòang Sơn,Văn Thọ,Văn Thao,
Thị Được,Thị Tứ.
Ngô Bán sinh Văn Được.
Ngô Bá Thừa sinh Bá Chung,Bá Thủy.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Hà,Văn Quy,Văn Đa,Thị Rớt,Thị Thí,Thị Hòai,
Thị Đó.
Ngô Văn Sỹ sinh Thị Sỹ,Thị Trĩ,Thị Hòai.
Ngô Văn Diết sinh Văn Trâu,Văn Tâm,Văn Thanh,Thị Luận,Thị Xí.
Ngô Văn Cấn sinh Văn Tánh,Thị Ngân,Thị Xuyến.
Ngô Văn Duật sinh Văn Luật,Thị Xuân.
Ngô Tác sinh Quý Đức,Quý Lân,Quý Hòang,Quý Dương,Thị Hương,
Thị Liêm,Thị Ánh.
Ngô Đào sinh Văn Quý,Ngô Minh,Thị Hường.
Ngô Văn Phú sinh Văn Tảo (vt),Ngô Phú,Đức Nuôi (vt),Đức Mày,Văn Thêm,
Văn Lợi,Thị Vinh,Thị Dự,Thị Hường.
Ngô Tại sinh Văn Xí (vt),Văn Khôi,Văn Viễn,Thị Trà,Thị Mai,Thị Thọ.
Ngô Mính sinh Ngô Ngươn,Ngô Tích,Ngô Đáng,Thị Cái.
Ngô Thuẫn sinh Ngô Thuẩn.
Ngô Văn Túy sinh Văn Trân,Thị Chung,Thị Bửu.
Ngô Văn Mưu sinh Văn Xý,Thị Lành,Thị Nghệ.
Ngô Viện sinh Thị Tương,Thị Việt,Thị Hồng,Thị Hiệu,Thị Hòa,Văn Hảo.
Ngô Ngự sinh Văn Thử,Văn Đức ,Văn Trí,Thị Nghĩa.
Ngô Hà sinh Ngô Nhơn,Văn Hà (Ls.),Văn Sanh,Văn Lắm,Thị Nghĩa,Thị Đức.
Ngô Sùng sinh Văn Kính,Thị Tâm.
Ngô Công Tọai sinh Thị Tứ.
Ngô Công Danh sinh Công Dinh,Công Sương,Công Hiền,Công Mận.
Ngô Công Tài sinh Văn Khương,Công Giác,Công Chỉ.
Ngô Công Hiếu sinh Công Hội,Công Hiệp,Công Quả,Công Đức.
Ngô Cần sinh Văn Nghĩa,Văn Thiện,Thị Kiệm,Thị Liêm,Thị Chính.
Ngô Phương sinh TửuTư,Đức Hùng,Nhật Linh,Thị Thành,Thị Thỏa,Thị Mãn,
Thị Hiệp.
Ngô Văn Dực sinh Văn Thanh,Văn Tài,Thị Chí,Thị Luận.
Ngô Đắc Mò sinh Văn Tuất (vt),Văn Thi,Thị Ty,Thị Hân.
Ngô Đắc Hó sinh Văn Thọ (vt),Thị Được,Thị Thưởng.
Ngô Đắc Mậu sinh Văn Quốc (vt),Bá Đính,Văn Thân (vt),Thị Nguyên,Thị Tho,
Thị Nghi,Thị Tịch,Thị Thuấn.
Ngô Đắc Chút sinh Văn Lộc (vt),Văn Tại,Văn Tồn (vt),Thị Thúy.
Ngô Đắc Nuôi sinh Thị Hòa,Thị Thúy.
Ngô Đắc Nhỏ sinh Văn Tài,Thị Lan.
Ngô Thao sinh Thị Ôm,Thị Hòanh,Ngô Bút,Văn Di,Văn Hỡi,Văn Chức,Văn Bổ.
Ngô Em sinh Thị Giai.
Ngô Bằng sinh Văn Nghĩa,Văn Trí ,Văn Thông,Văn Minh,Văn Phước,
Văn Lợi,Thị Lễ,Thị Huệ,Thị Thành,Thị Tài.
Ngô Lý sinh Văn Thanh,Văn Thêm,Thị Trí,Thị Trinh,Thị Hương,Thị Nguyệt,
Thị Nga.

Đời thứ 43

43 Ngô Văn An sinh Văn Minh,Thị Nhơn,Thị Nghĩa,Thị Đức.
Ngô Văn Khương sinh Văn Trung,Văn Phước,Thị Phượng,Thị Oanh,Thị Nữ,
Thị Hoa,Thị Ánh,Thị Tuyết,Thị Thu,Thị Hà.
Ngô Văn Hòanh sinh Văn Hiệp,Việt Hưng,Việt Hùng,Việt Hải,Việt Hòai,
Việt Dũng,Thị Minh,Thị Thu Hà,Thị Thu Hương,Thị Thu Hường,
Thị Thu Hiền.
Ngô Hóan sinh Lê Hòang,Việt Hồng,Thành Hạt,Thành Hảo,Thành Đức,
Thành Tùng,Văn Lai,Thành Gia,Thị Mai Phương,Thị Phú,
Tăng Quốc,Tăng Hỷ.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Hậu,Văn Tòan,Văn Tân,Thị Lan.
Ngô Văn Mai sinh Minh Mẫn,Minh Trí,Thị Bích Thuận.
Ngô Văn Mai em sinh Văn Hiền,Văn Hậu,Văn Phúc,Văn Đức,Văn Độ,
Thị Hoa.
Ngô Văn Hảo sinh Văn Nhựt,Văn Cường,Văn Khánh.
Ngô Văn Hải sinh Văn Vinh,Thị Tâm,Thị Thủy.
Ngô Văn Địch sinh Tấn Địch,Ngô Vân,Văn Linh,Thị Thám.
Ngô Văn Thành sinh Văn Sơn,Văn Hải,Văn Tương,Văn Tèo.
Ngô Văn Xuân sinh Văn Tuấn,Văn Phương,Thị Hiền,Thị Kim Anh,
Thị Kim Chi.
Ngô Thanh Trà sinh Thanh Long,Thanh Đức,Thanh Độ,Thị Thanh Hồng,
Thanh Xuân,Thanh Thúy,Thanh Vân.
Ngô Văn Hiền sinh Thị Mỹ Dung.
Ngô Tấn Hường sinh Tấn Đây,Tấn Hùng,Văn Vịnh,Văn Tòan,Văn Sanh,
Văn Phước,Thị Hiệp,Thị Bích Nga,Thị Bạch Tuyết,Thị Vân.
Ngô Văn Thư sinh Văn Thư,Văn Viễn,Văn Chính,Văn Sỹ,Văn Kiên,
Thị Hương,Thị Hạnh,Thị Xuân.
Ngô Nhẫn sinh Văn Dũng,Thị Yến,Thị Tuyền,Thị Phượng.
Ngô Tịnh sinh Công Trí (ks),Công Năng (Đh),Công Thành,Công Tín,
Công Danh,Thị Hoa,Thị Thanh Hải,Thị Thanh Thủy.
Ngô Văn Dục sinh Văn Tĩnh,Thị Hà.
Ngô Nẫm sinh Thành Dự,Thành Công,Thành Danh,Thành Nhân,
Thành Tâm,Thị Ái Nghĩa,Thị Tình.
Ngô Văn Bồi sinh Thị Lang.
Ngô Văn Bình sinh Văn Trung,Văn Quốc,Thị Nga.
Ngô Tấn Lai sinh Tấn Sinh,Tấn Lực,Thị Mỹ Lệ,Thị Mỹ Linh.
Ngô Đình Lang sinh Đức Hồng,Đức Hạnh,Đức Hảo,Thị Hường,
Thị Hà,Thị Tòan,Thị Danh.
Ngô Công Bồi sinh Công Mẹo,Thị Chét,Thị Chạy.
Ngô Công Lợi sinh Công Nguyên,Công Tý,Công Dụng,Công Lắm,
Thị Lý,Thị Nhỏ,Thị Hiếu.
Ngô Công Quyền sinh công Hung,Thị Ngôn,Thị Bạo.
Ngô Công Nghị sinh Công Mẹo,Công Út,Công Khóan,Thị Két,Thị Con.
Ngô Công Chước sinh Thị Ổn,Thị Ảng.
Ngô Công Hý sinh Công Út,Công Thìn,Công Tỵ,Công Tuất,Công Thích,
Thị Thu,Thị Lệ,Thị Thân,Thị Hồi,Thị Thơm.
Ngô Văn Loan sinh Văn Tòan,Văn Dũng,Văn Nhân,Thị Liên,Thị Sen,
Thị Nghĩa,Thị Lệ,Thị Lan,Văn Minh.
Ngô Văn Bình sinh Văn Hòang,Thị Nguyệt,Văn Dinh (con nuôi).
Ngô Văn Sở sinh Ngô Thứa,Thị Hường.
Ngô Tấn Đạt sinh Thanh Tùng,Tấn Nhị,Văn Thuấn,Văn Thảo,Thị Hoa,
Thị Nở,Thị Thi,Kim Thiện.
Ngô Văn Lương sinh Tấn Dũng,Khắc Sơn,Thị Hiền,Thị Như Nguyệt,Thị
Tố Nga,,Thị Như Hà.
Ngô Thành Được sinh Thành Tâm,Quang Thiện,Quang Kiêm,Thị Mỹ Lệ,
Thị Bích Nhân.
Ngô Đức Nhiên sinh Văn Sang,Tùng Lâm.
Ngô Văn Thân sinh Thanh Tuấn,Trung Thành.
Ngô Công Liệu sinh Công Luật,Công Thu,Công Đồng,Thị Xuân,Thị Tiền.
Ngô Nhứt sinh Văn Kỳ,Văn Phú,Văn Cương,Văn Hào,Thị Thông,Thị Đào,
Thị Thanh,Thị Hoa.
Ngô Công Tuấn sinh Thị Thủy,Thị Tú.
Ngô Văn Kẽm sinh Thị Vân,Ngô Dần.
Ngô Văn Thanh sinh Văn Hiệp,Văn Quốc,Văn Kỳ,Thị Liên.
Ngô Tánh sinh Văn Hạnh,Văn Phước,Thị Thủy,Thị Vân.
Ngô Đình Dũng sinh Huy Nam,Huy Quang,Thị ViệT.
Ngô Công Thành sinh Văn Danh,Văn Dự,Văn Định.
Ngô Văn Công sinh Thị Trang,Thị Trâm.
Ngô Văn Ninh sinh Quý Sữa,Minh Tùng,Minh Lang,Thị Thanh Nga.
Ngô Văn Thắng sinh Minh Phong,Thị Hoa.
Ngô Văn Bình sinh Minh Hùng,Thị Tâm,Thị Lý.
Ngô Văn Diện sinh Đình Hà,Thị Thu.
Ngô Hiệu sinh Văn Tư,Văn Huy,Thị Bảo Ngọc,Thị Huệ Tâm.
Ngô Văn Phong sinh Hồng Sơn,Thị Thu Thủy,Thị Thu Hải.
Ngô Phú sinh Thị Vân,Thị Hương.
Ngô Quốc sinh Hữu Quang,Hữu Vinh.
Ngô Văn Hạnh sinh Thị Hà Thương.
Ngô Đức Duy sinh Đức Hùng,Nhật Miên,Nhật Giang,Thị Hiếu,
Thị Hà,Thị Minh.
Ngô Hồng sinh Văn Tự,Văn Do,Thị Tung,Thị Hòanh.
Ngô Thanh sinh Thị Bình.
Ngô Văn Thức sinh Văn Trí,Sơn Thạch,Thạch Anh,Thị Hồng Thủy.
Ngô Văn Bé sinh Văn Thơ,Thị Sách,Thị Kỷ,Thị Phương,Thị Hoa,
Thị Canh,Thị Yến,Thị Xuân,Thị Hạnh.
Ngô Tín sinh Văn Nhơn,Văn Phước,Văn Thạnh,Thị Nghĩa,Thị Thọ,
Thị Mai,Thị Trà,Thị Ly.
Ngô Vàng sinh Văn Hương,Văn Hạnh,Văn Phục,Văn Hung,Thị Lộc,
Thị Bông,Thị Liêm,Thị Phúc.
Ngô Lang sinh Văn Xuân.
Ngô Mạch sinh Văn Tài,Văn Hiền,Văn Hậu,Thị Lộc,Thị Phước,Thị Nhân,
Thị Hoa.
Ngô Cảnh sinh Văn Thống,Văn Hương,Văn Thuận,Thị Vi Minh,Thị Bich Hồng.
Ngô Căn sinh Văn Cúc,Thị Thanh Hương,Thị Thanh Huệ,Thị Thanh Lan.
Ngô Văn Thiêm sinh Tiến Hòa,Tiến Hiệp,Thị Kim Phượng,Thị Kim Hoa,Tiến.
Ngô Nghệ sinh Công Thái,Công Hòa,Thị Nga,Thị Hoa.
Ngô Chung sinh Văn Hòa,Thị Chung,Thị Em,Thị Thuận.
Ngô Văn Mua sinh Ngô Trà,Ngô Lý,Ngô Lựu (cư ở Đắc lắc).
Ngô Đức Dung sinh Đức Doan,Đức Danh,Đức Dự,Thị Xuân,Thị Thu,Thị Hạnh,
Thị Duyến,Thị Diệu.
Ngô Văn Lợi sinh Văn Bé,Văn Thi,Văn Sơn,Thị Thái,Thị Hà.
Ngô Văn Minh sinh Thị Kim Thanh,Thị Kim Yến (bs),Thị Kim Loan (ks),
Thị Kim Oanh,Thị Kim Vân,Thị Kim Ánh,Thị Kim Thoa,Thị Kim Chi,
Thị Kim Khánh.
Ngô Thống sinh Văn Thống,Văn Lệ,Văn Hảo,Thị Thế,Thị Kế,Thị Liên.
Ngô Phùng sinh Thị Mẫn.Ngô Cẩn sinh Văn Hạnh,Văn Sỹ,Văn Nhân,Văn Lành,
Văn Phước,Thị Cần,Thị Thại,Thị Hiền.
Ngô Văn Hòang sinh Văn Tòan,Thị TuyếT.
Ngô Tiếng sinh Văn Khê,Thị Đời.
Ngô Văn Xãi sinh Văn Hiệp,Văn Hưng,Văn Hân,Văn Cảnh,Thị Diệp,Thị Quý.
Ngô Khoan sinh Văn Tòan,Thị Hồng.
Ngô Hiển sinh Thị Thanh,Thị Hương,Thị Hạnh.
Ngô Văn Đặng sinh Văn Chương,Văn Hải,Văn Hành,Văn Sơn,Văn Dũng,
Văn Mười,Thị Trình,Thị Hoa,Thị Thêm.
Ngô Văn Tích sinh Văn Vĩnh,Thị Tặng.
Ngô Đức Vỹ sinh Văn Quy,Văn Trí,Văn Phòng,Văn Thương,Thị Lễ,
Thị Lệ,Thị Huệ.
Ngô kim Tương sinh Văn Đương,Thị Hường,Thị Thảo,Thị Phương,Thị Thuận.
Ngô Văn Ân sinh Văn Pháp,Văn Nhựt,Văn Đức,Thị Mỹ,Thị Anh,Thị Lan.
Ngô Văn Minh sinh Văn Điểu,Thị Hoa,Thị Mai,Thị Cúc,Thị Lộc.
Ngô Văn Hựu sinh Văn Tân,Văn Đa,Văn Tai,Thị Phước,Thị Hạnh.
Ngô Văn Tấu sinh Văn Tài,Văn Chi,Văn Ngọ.
Ngô Thảo sinh Công Trí,Thị Đào.
Ngô Đó sinh Văn Hành,Văn Tri,Thị Tâm,Thị Vọng.
Ngô Văn Chụp sinh Văn Đích,Ngô Nỗi.
Ngọ An sinh Công Tấn,Công Tâm,Công Thọ,Công Đạt,Công Thành,
Công Bình,Thị Phước,Thị Ngọc.
Ngô Lượng sinh Văn Sen,Văn Liêm,Thị Lý,Thị Hoa.
Ngô Ngại sinh Bá Hòang,Văn Thắng,Thị Hường,Thị Hồng,Thị Hoa,
Thị Liễu,Thị Lý.
Ngô Văn Chi sinh Tùng Đức,Tùng Thiện,Tùng Đạo,Tùng Nghĩa,Thị Nga.
Ngô Hữu Bản sinh Văn Thuận,Thị Thung,Thị Nga,Ngô Nuôi,Thị Thanh Triều.
Ngô Đình Phụng sinh Đình Dũng,Đình Nam,Thị Tuyết Nhung,Thị Tuyết Thu,
Thị Tuyết Sương,Thị Tuyết Nữ.
Ngô Đức sinh Văn Bình,Thị Hòang,Thị Diệu,Thị Liên.
Ngô Vện sinh Văn Tèo,Thị Tiền.
Ngô Văn Chơn sinh Văn Linh,Văn Công,Văn Danh,Văn Đặng,Thị Thoa,Hơn.
Ngô Văn Chưởng sinh Văn Lâm,Văn Chung,Văn Tòan,Thị Hành.
Ngô Văn Nhược sinh Văn Nhã,Văn Thi,Văn Bổ,Thị Khá,Thị Hòai,Thị Vang,
Thị Lại,Thị Bình.
Ngô Văn Đội sinh Văn Gặp,Văn Câu(vt),Văn Kê,Văn Bờ,Thị Kéo,Thị Ruộng.
Ngô Văn Tâm sinh Văn Khôi,Thị Như.
Ngô Văn Hinh sinh Thị Hinh,Thị Phu.
Ngô Văn Sở sinh Văn Luyện,Thị Cái,Thị Tường,Thị Cảnh,Thị Gương.
Ngô Văn Được sinh Văn Cư,Văn Quang,Thị Châu,Thị Tri,Thị Bích,Thị Quy.
Ngô Văn Lựu sinh Văn Chỉnh,Văn Bảo,Văn Mỹ,Thị Miên,Thị Dục,Thị Long,
Thị Chung.
Ngô Văn Bài sinh Văn Đức,Thị Thiệu,Thị Danh,Thị Xý.
Ngô Văn Hương sinh Văn Phúng,Thị Hương,Thị Nhượng.
Ngô Văn Thiệp sinh Văn chu,Văn Đăng,Văn Giai,Thị sang,Thị Đích,Thị Lang,
Thị Bé,Thị Thêm.
Ngô Văn Trừng sinh Ngô Quốc,Thị Hữu,Thị Cơ,Thị Lào.
Ngô Văn Giang sinh Văn Sự,Văn Kiệm,Thị Vân,Thị Lại.
Ngô Văn Mót sinh Thị Thiệu.
Ngô Văn Mực sinh Văn Tân,Thị Ái.
Ngô Đình Bổ sinh Đình Phúc Nguyên,Đình Phúc An.
Ngô Minh Chánh sinh Huy Quang,Duy Minh,Minh Quân,Duy Chân,
sinh Đức Kế,Văn Thừa,Văn Nhân (Ls.),Thị Lan,Thị Cúc,Thị Hường.
Ngô Văn Thiện sinh Ngô Quyên,Đình Diệm,Đình Tương,Thị Thai,Thị Xí,
Thị Liễu,Thị Nhân.
Ngô Hành sinh Công Thước,Ngô Nải.
Ngô Hòa sinh Ngô Hiệp,Ngô Hảo,Ngô Hạnh,Thị Hồng,Thị Nhiên,Thị Nhị,
Thị Nhàn,Thị Nhung.
Ngô Đây sinh Thị Đào,Thị Hằng,Thị Nga,Thị NguyệT.
Ngô Văn Bính sinh Vũ Bão,Nhật Trường,Thị Linh Phương,Thị Phượng Linh.
Ngô Trương sinh Minh Đức,Văn Khoa,Thị Hường,Thị Thu.
Ngô Hiệu sinh Văn Thành,Văn Minh,Văn Sơn,Thị Hiệu,Thị Trinh.
Ngô Đông sinh Văn Quang,Thị Nghĩa,Thị Trí,Thị Vinh,Thị Thanh,Thị Nhân,
Thị Lai.
Ngô Đông sinh Văn Minh,Văn Tuấn.
Ngô Quang Cúc sinh Quang Nam,Quang Bình,Thị Hằng Phương.
Ngô Văn Nhỏ sinh Văn Nhơn,Văn Nhật,Văn Nhân,Thị Như,Thị Nhung.
Ngô Sa sinh Văn Thanh,Văn Chinh,Đắc Sơn,Thị Lệ,Thị Quý,Thị Thêm,
Thị Mai.
Ngọ An sinh Thị Xuân.
Ngô Tấn Lợi sinh Văn Danh.
Ngô Hòang Sơn sinh Song Tùng,Thị Hòang Trang,Thị Hòang Trâm.
Ngô Văn Thao sinh Văn Thành,Văn Thuận.
Ngô Văn Được sinh Văn Thanh,Thị Bé.
Ngô Văn Hà sinh Văn Chánh,Thị Ghì.
Ngô Văn Quy sinh Văn Đực,Văn Xẹo,Văn Hiệp,Thị Hòa.
Ngô Văn Đa sinh Văn Tổng,Văn Thắng,Văn Lộc,Văn Lễ,Văn Tòan,Thị Tuyển,
Thị Lợi.
Ngô Văn Tâm sinh Văn Sự.
Ngô Văn Trâu sinh Văn Thỏa,Văn Trí,Văn Thành,Văn Dương,Thị Thuận.
Ngô Văn Luật sinh Văn Lầm,Văn Đức,Văn Quý,Văn Lập,Văn Nên.
Ngô Phú sinh Hữu Hiền,Hữu Lộc,Thị Kim Thời,Thị Kim TuyếT.
Ngô Ngươn sinh Ngô Thơ,Văn Hòai,Thị Ngươn,Văn Hùng,Thị Hồng,Thị Hường.
Ngô Tích sinh Quý Thanh,Văn Hương,Văn Trà,Thị Xuân.
Ngô Đáng sinh Văn Lãnh,Đức Anh,Thị Ngọc,Thị Tài.
Ngô Thuẩn sinh Công Hòa,Công Trí,Công Lực,Thị Cúc,Thị Hoa,Thị Hiệp.
Ngô Văn Trân sinh Văn Trọng,Thị Xuân,Văn Nhì.
Ngô Văn Khương sinh Công Lâu.
Ngô Công Giác sinh Công Gốc,Công Nuôi,Công Khiêm,Công Lắm.
Ngô Công Hội sinh Công Để.
Ngô Công Quả sinh Công Chạy,Công Dài.
Ngô Công Đức sinh Công Long,Công Diễn.
Ngô Văn Thanh sinh Văn Phúc,Văn Hạnh,Thị Hân.
Ngô Văn Thi sinh Văn Thành.
Ngô Bá Đính sinh Văn Chính,Văn Hiền,Thị Hương,Thị Triết,Văn Bài.
Ngô Văn Tại sinh Đình Nghi,Đình Nhĩ,Đình Đương,Đình Thanh,Đình Sỹ,
Đình Quang,Đình Hồng,Thị Sự.
Ngô Văn Tài sinh Văn Đông,Thị Thu,Thị Thanh,Thị Thảo,Thị Thuận,
sinh Văn Nghĩa,Văn Lễ,Tấn Phong,Thị Hiệp.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Bổ,Văn Thanh,Thị Yêm,Thị Danh.
Ngô Văn Trí sinh Văn Dũng.

Đời thứ 44

44 Ngô Công Mẹo sinh Công Quạ.
Ngô Công Nguyên sinh Văn Cứ,Công Diệt,Công Chớ.
Ngô Công Tý sinh Văn Đến,Công Bị,Công Hưu,Thị Bơi,Thị Kiều,Thị Quốc.
Ngô Công Dụng sinh Thị Dung,Thị Tiếng,Thị Y.
Ngô Công Lắm sinh Cớn nhỏ,Thị Lắm,Thị Có.
Ngô Công Hung sinh Công Được,Công Lược,Văn Kiêm.
Ngô Công Mẹo sinh Thị Dần.
Ngô Công Út sinh Công Điền,Thị Lăng,Thị Nhỏ.
Ngô Công Khóan sinh Văn Tuyên,Văn Hạnh,Thị Bình,Công Vạn,Thị Thời,
Thị Xú.
Ngô Công Thìn sinh Thị Xước,Thị Xù,Thị Liệu.
Ngô Công Tỵ sinh Công Họach,Công Tờn,Công Thất,Văn Thảo,Công Em,
Thị Con.
Ngô Công Thích sinh Công Cộng.
Ngô Công Tòan sinh Thị Thùy Trung,Thị Thùy Trâm.
Ngô Văn Dũng sinh Thị Thu Sương.
Ngô Thống sinh Văn Biết,Văn Đồng ,Thị Ký,Thị Nhân,Thị Từ,Thị Tình,
Thị Tâm.
Ngô Văn Đích sinh Văn Nhân,Văn Thị ng,Đức Thạnh,Đức Hưng,Thị Niện,
Thị Vinh,Thị Hường,Thị Chân,Thị Quý.
Ngô Nhã sinh Văn Miện,Văn Ngọc,Thị Quý,Thị Bích.
Ngô Văn Thợ sinh Văn Lê,Văn Thân,Văn Bằng,Thị Kiểm,Thị Cúc,Thị Mười.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Hùng,Thị Nhuận,Thị Lan,Thị Lê.
Ngô Văn Khôi sinh Văn Hòang,Văn Thuận,Văn Luân,Văn Xuân,Văn Sinh,
Thị Hồng,Thị Thanh,Thị Lai.
Ngô Văn Phúng sinh Văn Thanh,Văn Thị nh,Văn Xứ,Văn Dụng,Văn Nghiện,
Thị Viễn,Thị Trân.
Ngô Văn Quốc sinh Văn Thành,Văn Thi,Thị Lượn,Thị Lắt,Thị Ước.
Ngô Đức Kế sinh Đức Hải(bs),Minh Đức (Đh),Đức Thắng (Đh),Thị Phước Yên (Đh),
Thị Phước Tuyền (Đh).
Ngô Văn Thừa sinh Đức Huy,Thị Tâm,Thị Vi,Thị Trang.
Ngô Công Lắm sinh Công Bé,Công Tỳ,Công Trang.
Ngô Công Đễ sinh Công Thương,Công Thi,Công Gia,Công Khác,Thị Trân,
Thị Nầy,Thị Đường,Thị Đây,Thị Lợi,Thị Thổn.
Ngô Công Chạy sinh Công Hốt,Thị Lắm.
Ngô Công Dài sinh Công Thơ,Công Phòng,Công Ẩn,Công Thanh,Công Thao,
Thị Thường,Thị Duật,Thị Nghiêm,Thị TuyếT.
Ngô Công Diễn sinh Công Khoa,Công Đệ,Công Xuân,Thị Bình,Thị Thi,Thị Chợ,
Thị Hỷ,Quang Bá,Công Quang,Công Thể,Công Phát,Công Tích,
Công Thuận.

Đời thứ 45

45 Ngô Công Quạ sinh Văn Nhứt,Công Bay,Công Nhỏ,Thị Dèo,Thị Em.
Ngô Văn Cứ sinh Văn Chi,Công Nghị,Công Em,Thị Đá,Thị ÚT.
Ngô Công Đến sinh Công Chạy,Thị Đến,Thị Được.
Ngô Công Hưu sinh Thị Trí,Thị Kéo.
Ngô Văn Tuyên sinh Văn Quốc,Công Sơn,Thị Hòa,Thị Quảng,Thị Phước.
Ngô Văn Hạnh sinh Công Bân,Công Ngơn,Công Ngộ,Công Do,Công Thái,
Thị Liền,Thị Bé.
Ngơ công Họach sinh Công Bá,Công Thọ,Công Đào,Thị Bé.
Ngô Công Tờn sinh Công Sành,Thị Vân,Thị Sọan.
Ngô Văn Thảo sinh Công Hơn,Công Hân,Công Ngà,Công Hòa,Công Giá,
Công Ngọc,Thị Hường,Thị Hưng.
Ngô Công Bé sinh Công Cu,Công Hiệu,Công Họat,Công Trị.
Ngô Công Tỳ sinh Công Ngộ,Thị Tỳ,Thị Tùng,Thị Thừa.
Ngô Công Trang sinh Công Duy (vt),Thị Chiến,Thị Thuật,Thị Lự,Thị Đạo.
Ngô Công Thương sinh Công Kiết,Công Công (vt),Công Phu,Thị Châu,
Thị Bộ,Thị Ngưu,Thị Vương,Chí Hàm,Công Nam,Thị Đấu.
Ngô Công Thi sinh Công Khánh (vt),Công Bửu (vt),Công Luận,Công Trí,
Công Mào,Thị Bán,Thị Trinh,Công Hài,Công Bến.
Ngô Công Hốt sinh Công Y.
Ngô Công Ẩn sinh Công Trí,Công Niên,Công Dậu,Công Danh,Thị Dự,
Thị TuyếT.
Ngô Công Thanh sinh Công Cảnh,Công Mót,Công Bị.
Ngô Công Thao sinh Công Phó,Công Của,Công Mạnh,Công Khẹo,
Thị Kiểu,Thị Mùi.
Ngô Công Khoa sinh Công Đạo,Công Điển,Công Sanh,Công Bàng,Công Tọai,
Thị Thảo,Thị Liếu,Thị Kiểm,Thị Lý.
Ngô Công Đệ sinh Công Kiệm,Công Cần,Công An,Công Thắng,Công Sỹ,
Thị Thơm, Thị Đôn,Thị Tri.Thị Lựu.
Ngô Công Xuân sinh Công Sơn,Công Nhược,Công Tứ,Thị Nho,Thị Nhi,Thị Tầm.
Ngô Công Quang sinh Công Hòe,Công Biện,Công Tuất,Công Sữa,Thị Hương,
Thị Hội,Thị ChíT.
Ngô Công Tích sinh Thị Dung,Thị Chít,Thị Mưu.

Đời thứ 46

46 Ngô Văn Nhứt sinh Văn Sỏi,Thị Định.
Ngô Công Bay sinh Công Quy,Thị Tề,Thị Phụng.
Ngô Văn Chi sinh Công Phi,Công Nỉ,Công Cẩm,Công Phước,Công Đức,
Công Thành,Công Công,Công Cần,Thị Niên,Thị Diễn,Thị Hiệp.
Ngô Công Sơn sinh Công Nam,Thị Vy,Thị Hải.
Ngô Công Bân sinh Công Tùng,Công Trường,Công Thành,Thị Thanh,Thị Thủy.
Ngô Công Hiệu sinh Công Phương,Công Riều,Công Đầu.
Ngô Công Họat sinh Công Hội,Công Sau,Công Trước,Thị Trứ,Thị Sữa,Thị Lê.
Ngô Công Trị sinh Công Hiếu,Công Tịnh,Công Mào,Thị Dinh,Thị Trước,
Thị Sau,Thị Xin.
Ngô Công Y sinh Công Bờ,Công Phiên,Thị Nồi,Thị Hữu,Thị Thời,Thị Tứ.
Ngô Công Ngô sinh Công Liễu,Thị Thơ,Thị Tình.
Ngô Công Kiết sinh Công Nghị,Công Giảng,Công Khiết,Công Cung,Công Kiếu,
Công Thự,Thị Ân,Thị ThuộT.
Ngô Công Thức sinh Công Phương,Thị Tỵ.
Ngô Công Luận sinh Công Sâm,Công Bành,Công Đỉnh,Thị Chuyển,Thị Chèo,
Thị Lợi,Thị Ruộng,Thị Nhỏ.
Ngô Công Chí sinh Công Chấn,Công Ất,Công Mén,Công Giới,Công Kẽm,
Công Mèo,Công Đã,Thị Tiền.
Ngô Công Hài sinh Công Cào,Thị Chấu,Thị Đế.
Ngô Công Bến sinh Công Mậu,Thị Dần,Thị Tỵ,Thị Tứ,Công Phiên.
Ngô Công Trí sinh Công Lực,Công Phòng,Công Dõ.
Ngô Công Niên sinh Thị Phòng,Thị Loan,Thị Quyến,Thị Tuyển,Thị Thơm,
Công Vinh,Công Chiểu,Công Mang.
Ngô Công Cảnh sinh Công Lự,Công Mỹ,Công Ám,Công Lúa,Thị Điển,Thị Diện.
Ngô Công Dậu sinh Thị Chút,Thị Chi,Thị Nghĩa,Thị Tỵ,Thị Quảng,Thị Ký,
Thị Nhơn.
Ngô Công Mót sinh Thị Xuy,Thị Liên,Công Sâm,Thị Quả,Thị Mậu,Thị Đức,
Công Cào,Công Xé.
Ngô Công Bị sinh Công Tống.
Ngô Công Đạo sinh Công Chương,Công Liêm,Công Hung,Công Mạnh,
Thị Của,Thị Sữa,Thị Rân.
Ngô Công Điển sinh Công Tuyết,Công Tân,Thị Đốc.
Ngô Công Bàng sinh Thị Mai.
Ngô Công Tọai sinh Công Phương,Công Tấn,Công Huân,Công Lọ,
Công Nồi,Thị ÚT.
Ngô Công Thắng sinh Thị Kỹ,Thị Luật,Thị Đa,Công Tấn,Công Chút,
Công Lễ,Công Nghi,Thị TháT.
Ngô Công Sỹ sinh Công Khum,Công Huân,Công Dụ,Công Hồi,
Công Cáo,Thị Đạt,Thị Luận.
Ngô Công Sơn sinh Thị Quý.
Ngô Công Tứ sinh Công Địch,Công Đài,Thị Quyên,Thị Thai,Thị Nhỏ,
Thị Đỉnh.
Ngô Công Hòe sinh Công Chút,Thị Dõng.
Ngô Công Biện sinh Công Giá,Công Đỉnh,Thị Thìn.
Ngô Công Tuất sinh Công Điển,Công Thu,Công Dầu,Thị Nhiên,Thị Ngân,Thị Lự.

Đời thứ 47

47 Ngô Văn Sỏi sinh Văn Quyền,Văn Khôi,Văn Kỳ,Văn Tri,Văn Hương,
Văn Thanh và sáu nữ
Ngô Công Tịnh sinh Công An,Công Thi,Công Viết,Công Tài
Ngô Công Mào sinh Công Vàng và ba nữ
Ngô Công Liễu sinh Công Tri và bốn nữ
Ngô Công Nghị sinh Công Thổ,Công Nghiễm,Công Sông,Công Kiều,
Công Thư,Công Sanh,Ngô Đài,Công Phụng,Công Nhã,
Công Cừ,Công Tố và ba nữ
Ngô Công Giảng sinh Công Xuân,Công Dõan,thi Yến
Ngô Công Kiếu sinh Thị Huyến,Công Đề
Ngô Công Cung sinh Công Khuôn, Thị Xề, Thị Khế, Thị Thục, Thị Dứt,
Thị Niếu, Thị Sữa
Ngô Công Sâm sinh Công Lượng,Công Uẩn,Công Thuận,Công Phiến
Thị Yến, Thị Cân, Thị Tạ, Thị Món, Thị Lang
Ngô Công Bành sinh Công Túc, Công Nhuận, Công Bằng, Thị Thiếp,
Thị Mẹo
Ngô Công Đĩnh sinh Công Đĩnh, Thị Tý, Thị Ngọ, Thị Quàn
Ngô Công Chấn sinh Công Phấn, Công Ngoan, Công Tề, Công Phát, Thị
Thanh, Công Khương, Thị Thường, Thị Xụn
Ngô Công Ất sinh Công Cúc,Công Tình,Công Chuột,Công Tý,Công
Thứ, Thị Đoi, Thị Đó
Ngô Công Giới sinh Công Thơm, Thị Giò
Ngô Công Kẽm sinh Công Chuẩn, Thị Uẩn
Ngô Công Cào sinh Công Cáo, công Út, Thị Mãn
Ngô Công Mậu sinh Công Đàm, Thị Chung, Thị Liệu
Ngô Công Bè sinh Thị Nguyên
Ngô Công Phiên sinh Công Liên, Công Lạc
Ngô Công Lư sinh Công Miêu, Công Thanh, Thị Côn, Thị Loan, Thị Tiếu
Ngô Công Mỹ sinh Công Xuyên, Công Chút, Công Chờ, Thị Mỹ
Ngô Công Lúa sinh Công Lạc, Công Bờ, Công Giáp
Ngô Công Xé sinh Văn Hiến
Ngô Công Vinh sinh Công Vinh, Công Hiển, Công Xứng, Văn Hiến
Ngô Công Lự sinh Thị Lự, Thị Sang,Thị Sanh
Ngô Công Liên sinh Công Diệu,Công Hoạt,Công Hôi, Công Ghi, Thị Thông,
Thị Vân, Thị Hoàng, Thị Mai, Thị Quá, Thị Chạo, T.Chút, T.Điển
Ngô Công Mạnh sinh Công Chút,Công Tiểu,Công Phụ,Công Hoan, Thị Tải
Ngô Công Tân sinh Công Địch, Công Thìn, Công Vừu, Thị Lan, Thị Nhị,
Thị Trang, Thị Hiếu, Thị Được, Công Tư
Ngô Công Liêm sinh Công Khương, Thị Huân, Thị Đó, Thị Khả
Ngô Công Lọ sinh Thị Nghẹ
Ngô Công Nồi sinh Công Hạng, Thị Thị
Ngô Công Tấn sinh Thị Chỉ, Thị Khôi, Ngô Cường, Công Thí
Ngô Công Chút sinh Công Ban, Ngô Đích, Thị Tro
Ngô Công Lễ sinh Thị Kỳ
Ngô Công Địch sinh Công Vạn, Công Quyên, Thị Mày
Ngô Văn Giá sinh Văn Vững, Văn Đông, Thị Đó, Thị Mực
Ngô Văn Thử sinh Công Tại, Văn Em, Thị Cái, Thị Đời, Thị Nhí

Đời thứ 48

48 Ngô Công Vàng sinh Công Xuân, Thị Thuận, Thị Thảo, Thị Liên, Văn Thành,
Văn Thanh
Ngô Công Nghiểm sinh Công Vinh, Công Tường,Công Đaọ, Thị Quýt, C.Quát, T.Ẩn
Ngô Công Kiều sinh Thị Kiều
Ngô Đài sinh Công Đệ, Công Huyến, Công Quyên,Công Ngự, Thị Lai
Thị Yến, Thị Độ
Ngô Công Cừ sinhThị Ngọc,Thị Trai,Thị Chiến,Thị Hồ,Công Tụng,CôngChương
Công Liễn
Ngô Công Phụng sinh Thị Phụng, Thị Hương, Công Nhạn
Ngô Công Nhã sinh Thị Xuyến
Ngô Công Tố sinh Công Cần ,Công Ca,Công Thiệp,Công Soạn,
Công Thoan, Công Thân, Công Khởi, Công Diễm, Công
Tuyển, Thị Hoát, Thị Căn
Ngô Công Xuân sinh Công Khoan,Quý Đỉnh,Công Hoằng,Công Miễn, Thị
Thiết, Thị Chì, Thị Vẽ
Ngô Công Doãn sinh Thị Hiếu, Thị Nữ, Thị Tây, Thị Tiến, Thị Nhi, Công Tống,
Ngô Lệ, Ngô Hành
Ngô Công Khuôn sinh Công Khuôn,Công Thủ,Công Phò,Công Nhữ,Công Bỉnh
Thị Chanh, Công Trang,Ngô Tánh,Công Nhượng, Công Minh,
Văn Tình, Thị Phòng, Thị Thành
Ngô Công Uẩn sinh Công Tấn, Phú Chí (con nuôi)
Ngô Công Nhuận sinh Thị Quảng, Công Bường, Công Đó, Công Đăng
Ngô Công Khương sinh Công Bằng, Thị Ninh, Thị Đương, Thị Giấy, Thị Mực
Ngô Công Phấn sinh Công Cần, Công Cửu, Công Hoành
Ngô Công Thơm sinh Thị Đào, Công Nhi, Công Ní, Thị Kích, Công Thích
Ngô Công Cáo sinh Văn Cáo,Công Đáo,Công Chức,Công Được, Thị Diên, Thị
Quảng,Công Hòang, Công Nhàn, C.Huệ, C.Trí, C.Tri, Thị Út
Ngô Công Đàm sinh Công Cảnh, Công Xuân, Công Vui
Ngô Công Miêu sinh Văn Tuỳ, Thị Chi, Thị Tuyên, Thị Em Nhỏ, em Lớn,
Công Hân, Công Ngoan
Ngô Công Thanh sinh Công Uynh, Văn Chước, Thị Thanh
Ngô Công Hiển sinh Văn Lãng, Công Được, Thị Bòng, Thị Có, Thị Xí
Ngô Công Lạc sinh Thị Minh, Công Dinh, Công Việt, Công Bi
Ngô Công Gíap sinh Công Được, Công Thời, Công Hoà, Thị Xin, Thị Thân, Thị
Thuận, Thị Tâm
Ngô Công Diệu sinh Công Đề, Thị Thì, Thị Em
Ngô Công Chút sinh Thị Định, Công Xuyên, Công Khai
Ngô Công Phụ sinh Công Nam, Văn Đối, Công Em
Ngô Cường sinh Thị Mực,Thị Nhí, Thị Mãi,Công Nhân,Công Trí,Công Hiệu
Công Hương, Công Chính, Công Bộ
Ngô Đích sinh Thị Thảo, Thị Hoà, Công Thuận, Công Lý, Thị Hoa, Văn Bảy
Thị Nở, Thị Cúc, Văn Thanh
Ngô Công Vạn sinh Công Trương,Công Thành,Công Luỹ,Công Ân, Công
Hạnh, Thị Hồng
Ngô Công Tại sinh Công Cả, Công Hiền, Công Trí, Công Thức, Công Thông
Công Minh, Thị Nhân, Thị Nghĩa

Đời thứ 49

49 Ngô Công Tường sinh Công Thức,Công Tâm,Công Đại,Công Ý, Công Dậu, Thị
Chi, Thị Năng
Ngô Công Quát sinh Công Hoạt, Công Trì,Công Đồi, Thị Trấn, T.Điếm, Thị Nghi
Thị Hơn, Thị Lan, Thị Huệ, Công Cúc
Ngô Công Đệ sinh Thị Sỹ, Thị Hoặc
Ngô Công Đạo sinh Công Ngôn, Công Đỗ, Thị Hưu, Thị Hộ
Ngô Công Huyến sinh Công Đực, Công Tựu, Công An, Công Bụi, Thị Sách
Ngô Công Tụng sinh Thị Lưu
Ngô Công Chương sinh Thị Lưu
Ngô Công Cần sinh Thị Rế
Ngô Công Soạn sinh Thị Thanh,Thị Thoả, Thị Tình, Thị Tứ,Công Thỏa,Công Hoà
Ngô Công Thiệp sinh Công Mão,C.Đức,C.Dân,C.Lang,C.Hưng, Thị Quý
Ngô Công Thoan sinh Công Trác, Công Nựa
Ngô Quý Đỉnh sinh Thị Thăng
Ngô Công Hoằng sinh Thị Quyên, Thị Mẫu, Thị Sào
Ngô Công Miễn sinh Tấn Hữu, Ngô Hương, Tấn Trinh, Thị Lũ, Thị Ngọ, T.Đản,
Thị Lan, Thị Út
Ngô Hành sinh Ngô Nhiên, Ngô Lễ, Ngô Lộc, Ngô Giao, Ngô Thắng,
Thị Lợi
Ngô Lệ sinh Thị Trình, Thị Lự, Thị Bảo, Ngô Hộ, Ngô Lý, Ngô Luật
Ngô Công Thủ sinh Công Thủ, Thị Huỳnh, Thị Long, Thị Thôi
Ngô Công Bỉnh sinh Văn Mưu, Văn Thân, Thị Yến, Thị Tầm
Ngô Tánh sinh Việt Tương,Việt Hồng, Việt Toàn,Việt Quang, Thị Lai, Thị
Lạc, Thị Hoằng
Ngô Công Nhượng sinh Công Nhân, Công Thảo, Thị Ba
Ngô Công Minh sinh Công Sơn, Công Khê, Văn Hiền, Thị Lang, Thị Hà
Ngô Công Tấn sinh Văn Thanh, Kim Hùng, Công Dũng, Văn Hoà, Thị Trà,
Thị Nhung
Ngô Công Bường sinh Thị Bộ, Văn Tam, Văn Tứ
Ngô Công Đó sinh Thị Bé, Thị Hiền, Văn Hậu
Ngô Công Hoành sinh Thị Tâm
Ngô Công Nhi sinh Công Nhựt,Công Cương,Công Dũng,Công Bảy, Thị Tình
Ngô Công Ní sinh Công Ly,Công Ninh, Công Hùng,Công Tàu, Công Lâu
Công Long, Công Gấm, Thị Nguyên
Ngô Công Thích sinh Công Hoàng, Công Quân,Công Sự, Thị Kim Phượng, Thị
Vân, Thị Lang, Thị Loan, Thanh Hào
Ngô Công Hoành sinh Công Trước,Công Ninh,Công Khương, Công Bé, Công
Khanh, C.Đen, Thị Nhí, T.Cường, T.Dương, T.Thanh, T.Nghĩa
Ngô Công Chức sinh Công Sơn, Văn Chung,Văn Thành, Thị Hường, Thị Ly, Lý
Ngô Công Hoàng sinh Thị Nghi, Thị Nghĩa, Thị Thọ, Công Toàn, Công Lễ, Tấn Lộc
Tấn Khoa
Ngô Công Nhàn sinh Tấn Long, Mai Hoàng, Văn Châu, Thị Hoà
Ngô Công Trí sinh văn Cầm, công Hiệp, văn Hùng, công Tùng, tấn Vinh, Lài
Ngô Công Hân sinh Công Nghĩa, Công Đức, Công Ái, Công Thông, Công Minh,
Thị Lý, Thị Được, Thị Nhí
Ngô Công Ngoan sinh Công Sự, Thị Trử, Thị Thành
Ngô Công Uynh sinh Thị Tiến,Công Thắng,Văn Phước,Công Công ,Công Thành,
Công Ngọc, Thị Hoa, Thị Lợi
Ngô Công Được sinh Thị Tiến, Tấn Tài
Ngô Công Thời sinh Văn Quang
Ngô Công Khai sinh Thị Kiết,Thị Khoá, Thị Nhí, Thị Thi, Thị Tài,Công Thông, Công
Minh
Ngô Văn Đối sinh Công Xử, Công Xong, Công Luận, Công Lý
Ngô Công Em sinh Công Duy, Thị Khánh, Thị Thu, Thị Vân, Văn Công
Ngô Công Trí sinh Văn Điền, Văn Thiên, Thị Liên
Ngô Công Nhân sinh Thị Diệp, Văn Tạo, Văn Nên
Ngô Công Hiệu sinh Thị Hiệp
Ngô Công Thuận sinh Thị Trực
Ngô Công Lý sinh Văn Lịch, Văn Long
Ngô Công Trương sinh Công Thuật,Công Trang,Công Triết, Thị Thanh Thuỷ
Ngô Công Thành sinh Công Thái, Công Hường, Công Tâm, Thị Mỹ Liên
Ngô Công Luỹ sinh Thị Mỹ Lệ, Công Dũng
Ngô Công Trí sinh Văn Triều

Đời thứ 50

50 Ngô Công Thức sinh Thị Phước, Thị Lịch, Thị Phong, Thị Võ, Thị Trạch,Thị Á
Công Thái, Công Âu, Công Quý
Ngô Công Ý sinh Thị Yến, Thị Diệp, Thị Sâm, Quốc Thông,Quốc Bảo Ks
Ngô Công Đồi sinh Công Hường,Công Mai,C.Được, C.Sự, Thị Liễu, T.Dung
Ngô Công Đỗ sinh Công Trọng, Công Thành, Công Thọ
Ngô Công Bụi sinh Văn Lý, Văn Tuấn, Thị Luân, Thị Hồng
Ngô Công Thoả sinh Văn Cảnh, Văn Nga, Thị Ninh, Thị Bình, Thị Nguyệt, T.Nữ
Ngô Công Hoà sinh Thị Bích, Văn Tương, Văn Văn
Ngô Công Mão sinh Công Cường, Công Huy
Ngô Công Trác sinh Công Trác,Thị Tha, Huy Tùng,Huy Kiến,Văn Nhĩ,Thị Thái,
Thị Nhi
Ngô Tấn Hữu sinh Công Song, Công Hỷ,C.Đồng,C.Thông,C.Thành,Thị Thảo,
Thị Thanh, Thị Minh, Thị Liên
Ngô Tấn Hương sinh Công Lực,Công Ứớc,Công Diện,Công Diệp, Thị Tư, Thị
Trình, Thị Hậu, Thị Cơ, Thị Phòng
Ngô Công Nhiên sinh Thị Nghĩa, Thị Thuận, Thị Vân, Thị Thu, T.Đây, T.Tiên,
Đức Dũng, Văn Anh, Văn Hùng
Ngô Công Lễ sinh Văn Hoà, Văn Vĩnh, Văn Viễn, Văn Toàn, Văn Bình, Thị
Cúc, Thị Hoa
Ngô Công Lộc sinh Đức Tâm,Đức Cầu,Đức Vinh,Đức Quang, Thị Trúc, Thêm
Ngô Công Giao sinh Thị Thanh, Thị Thuỷ, thu Hồng, Văn Sơn
Ngô Công Thắng sinh Thanh Huy,Thanh Hoàng, Thị Huyền Trang, diễm Chi
Ngô Công Hộ sinh Thị Phúc, Thị Diệu, Tuấn Hải, Ca Tin
Ngô Công Dự sinh Thị Thái, Thị Hà, Văn Sơn
Ngô Công Mưu sinh Thị Mai, Thị Thu, T.Đông,Văn Long,Văn Y,Văn Ca, V.Liên
Ngô Công Thân sinh Thị Cẩm,Thị Bán, Thị Hoa, Thị Sen,Văn Lộc,Văn Dũng,Văn
Ứớc, Văn Hùng, Văn Thị nh
Ngô Công Tương sinh Anh Tuấn, Thị Mỹ Linh, Mỹ Thu, Mỹ Tâm
Ngô Công Hậu sinh Thị Diệu Thảo
Ngô Công Sơn sinh Đình Trọng
Ngô Công Dũng sinh Thanh Sơn, Thanh Nga, Thị Thanh Minh, Thị Thanh Hải
Thị Thanh Thuý
Ngô Công Gấm sinh Đức Lụa
Ngô Công Quân sinh Đức Tuấn
Ngô Công Khiết sinh Văn Tiến, Văn Tư, Văn Tuấn, Thị Hoà, Thị Hương
Ngô Công Kẽm sinh Văn Nga,Văn Mỹ,Văn Pháp,Văn Hùng,Văn Luật
Ngô Công Toàn sinh Thị Xuân, Thị Thuỷ, Thị Nguyệt, Văn Phúc
Ngô Văn Sơn sinh Văn Dũng
Ngô Công Lễ sinh Tấn Thành, Tấn Danh
Ngô Công Đức sinh Văn Tường,Văn Tài,Văn Phúc,Văn Thanh,Văn Nhàn,Văn
Phương, Thị Liên
Ngô Công Nghĩa sinhVăn Hà,Văn Nhựt,Văn Tùng,Văn Thị ,Thị Hồng, Thị Vân
Thị Hằng
Ngô Công Thông sinh Thị Luận, Thị Mến, Văn Tín,Văn Tuấn, Văn Đương
Ngô Văn Sự sinh Ngọc Linh, Ngọc Lân,Ngọc Lãnh,Ngọc Lễ,Ngọc Liều
Ngọc Lĩnh, Thị Liễu, Thị Lệ
Ngô Công Minh sinh Văn Hồng, Văn Thượng, Thị Sương
Ngô Công Thắng sinh Thị Bệ, Thị Hà, Thị Trang, Thị Hường,Hoà Hiệp,Văn Trí
Ngô Công Phước sinh Thị Nga, Văn Thức, Văn Cu
Ngô Công Thành sinh Văn Sơn, Văn Cường, Kim Hùng
Ngô Công Công sinh Công Tuấn, Thị Bé
Ngô Công Ngọc sinh Thị Liên, Thị Minh
Ngô Công Thông sinh Văn Thái
Ngô Công Minh sinh Văn Hải
Ngô Công Duy sinh Văn Thanh, Văn Việt
Họ Ngô Thổ Quan
Quận Đống Đa thành phố Hà Nội

Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu con trai thứ 7 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn dòng
Ngô Nước ở Trảo Nha tỉnh Hà Tĩnh,sinh hai con trai,con trưởng thiên cư Quảng Nam,
con thứ làm quan nhà Lê ở Thăng Long.Vài đời sau,khi vua Lê Chiêu Thống chạy theo
quân nhà Thanh, Ngô Phúc Thước về ở làng Quan Thổ,xã Thổ Quan,tổng Vĩnh An,huyện
Hoàn Long, trấn Sơn Tây,nay là phường Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội,
nay thành chi họ.

28 Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu, sinh Ngô Thuần Cẩm(con thứ).
29 Ngô Thuần Cẩm Thiên kỵ Thị vệ Kiệt trung hiệu lực Tướng quân, Bà Trần Thị
Chính sinh Phúc Lý
30 Ngô Phúc Lý Vệ uý Tráng tiết Tướng quân, Bà họ Đỗ sinh Phúc Thước
31 Ngô Phúc Thước Thước võ Bá, Thiên kỵ Thị vệ, sinh Phúc Hiển

-Bắt đầu định cư ở Thổ Quan-

32 Ngô Phúc Hiển Tuần phủ Bắc Ninh,bà Nguyễn Thị Bốn sinh Phúc Chính,Phúc Tư
Phúc Lục
33 Ngô Phúc Chính Bà họ Nguyễn, sinh Phúc Thẩm, Phúc Hy
34 Ngô Phúc Thẩm BàNguyễn Thị Nghiêm sinh Ngô Đáng,Ngô Vựng,Ngô Duy,Ngô
Tức, Ngô Tụ, Thị Sung, Thị Hoan
35 Ngô Đức Tụ Bà Mai Thị Lộ sinh Chu Phổ, Phúc Phương, Phúc Bàng

36 Ngô Phúc Phổ Bà Nghiêm Thị Ngọc sinh Phúc Hiệp, Phúc Hán, Phúc Hồ, cả
ba là tự vệ Cây Quéo Sài Gòn hy sinh tại Lái Thiêu- Phúc Du biệt
động Sài Gòn bị bắt tại bót Catina 1951 và bị xử bắn 1952

36 Ngô Phúc Phương Bà Nguyễn Thị Huệ sinh Phúc Nguyên, Thị Yến
37 Ngô Phúc Nguyên Bà Nguyễn Thị Lợi sinh Quang Phong, Thanh Thuỷ Ks., Thị Mai
Tất Vũ, Thị Hoa
38 Ngô Quang Phong Ks,Bà Vũ Thị Hằng sinh Anh Thư

36 Ngô Phúc Bàng sinh Phúc Hoạt, Tiến Nghĩa,Thành Dũng,Thị Quy,Thị Hồng,Tuyết
37 Ngô Phúc Hoạt Bà Phạm Thị Tuân sinh Quốc Minh,Quốc Tuấn, Thị Nga, Thị Hoa
Thị Mai
38 Ngô Quốc Minh Bà Nguyễn Thị Thảo sinh Quốc Trung

37 Ngô Tiến Nghĩa Bà Nguyễn Thị Yên sinh Tiến Trung,Tiến Quang,Quốc Chiến,
Quốc Thắng
38 Ngô Quốc Chiến Bà Nguyễn Thị Tuyết sinh Quốc Hiếu

37 Ngô Thành Dũng Bà Nguyễn Thị Tần sinh Thành Đạt, Thị Vân Anh, Thị Bích Hằng

35 Ngô Vựng Bà Nguyễn Thị Sâm sinh Ngô Kiên, Ngô Toàn, Thị Tề, Thị Xây
Thị Tiêm, Thị Thính
36 Ngô Kiên Bà Đặng Thị Hải sinh Ngô Vọng, Ngô Trọng

36 Ngô Toàn Bà Nguyễn Thị Thiên sinh Ngô Nhã, Thị Nền, Thị Mỹ, Thị Nhiên
37 Ngô Nhã Bà Vũ Thị Miến sinh Tính Huynh,Công Tính, Thị Kính, T.Chinh
Thị Bình, Thị Yến
38 Ngô Tính Huynh Bà Đinh Thị Huyền sinh Thanh Tùng, Thị Nhung, Thị Ánh
38 Ngô Công Tính Bà Phạm Thị Vót sinh Mạnh Tiến, Thị Thanh

35 Ngô Duy Bà Hoàng Thị Thoán sinh Ngô Kha, Thị Cư, Thị Lượng, Thị Điểm
Thị Viêm, Thị Soạn
36 Ngô Kha Bà Nguyễn Thị Xây sinh Ngô Tình, Ngô Khánh, Văn Khương,
Quang Khải, Quang Khanh, Quang Khôi, Quang Khiêm, Thị Hoà
Thị Lượng, Thị Khuê, Thị Thoa

37 Ngô Tình Bà Nguyễn Thị Mùi sinh Tùng Sơn, Thị Thu Hương
37 Ngô Khánh Bà Nguyễn Thị Thu sinh Thị Thanh Thuỷ, Quang Trung, Q.Thành
37 Ngô Văn Khương Đh,Bà Trương Thị Thu Hồng sinh Thị Hồng Nga, Tùng Bách
37 Ngô Quang Khải Bà Đặng Thị Kim sinh Phi Hiền , Thị Kim Thanh
37 Ngô Quang Khiêm Ks,Bà Nguyễn Thị Dần sinh Thanh Trầm, Đức Thọ
37 Ngô Quang Khanh Bà Đinh Thị Bình sinh Quốc Thắng
37 Ngô Quang Khôi Bà Đào Thị Hồng sinh Thanh Tùng, Thị Hồng Điệp, thu Trang

33 Ngô Phúc Tư Bà Vũ Thị Hợp sinh Đức Lai, Ngô Trác, Ngô Tĩnh
34 Ngô Đức Lai Bà Lê Thị Can sinh Văn Phú
35 Ngô Văn Phú Bà Đặng Thị Hiên sinh Ngô Thân, Thị Thanh, Thị Giữa
36 Ngô Thân Bà Nguyễn Thị Thông, sinh Thị Nhung, Ngô Nhinh, Ngô Nhâm,
Ngô Văn Tư, Ngô Văn Hồi,Thị Ế

37 Ngô Nhinh Bà Nguyễn Thị Ngọc sinh Quốc Cường,
Thị Bích Liên,Bích Vân, Bích Thuỷ
37 Ngô Nhâm Bà Tạ Thị Lý sinh Nhị Hà, Nhị Hồng,
Thành Công
37 Ngô Văn Hồi Bà Trần thanh Hằng sinh Chí Hoàng,
Bích Thaỏ
37 Ngô Văn Tư Bà Lê Thị Minh sinh Kiên Trung, Tùng Linh

34 Ngô Trác Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Ngô Vỹ
35 Ngô Vỹ Bà Nguyễn Thị Trang sinh Ngô Trấn
36 Ngô Trấn Bà Nguyễn Thị Cẩm sinh Thế Chí,
Quốc ĐộQuốc Tế, Thị Vịnh, Ngô Tĩnh, Bỉ Đắc
37 Ngô Thế Chí Bà Nguyễn Thị Sữa sinh Đức Khương,
Anh Tuấn, Thanh Bình,Thị An
38 Ngô Đức Khương Bà Nguyễn Thị Hương sinh Đức Thành,
Thị Phương
38 Ngọ Anh Tuấn Bà Vũ Ngọc Liên sinh Anh Tiến, Thị Thuỷ

37 Ngô Quốc Độ Bà Nghiêm Thị Chi sinh Quốc Hùng,
Quốc Quân, Quốc Dân
Thị Thục Hiền, Thu Hà
38 Ngô Quốc Quân Bà Vũ Thị Liên sinh Ngô Kiên

37 Ngô Bỉ Đắc Bà Bùi Thị Phượng sinh Văn Tân, Tuấn Anh,
Thị Mỹ
37 Ngô Tĩnh Bà Phùng Thị Mịch sinh Ngô Đạt (vt)

33 Ngô Phúc Lục Bà Phùng Thị Sáu sinh Ngô Vinh, Ngô Dự,
Thị Bích
34 Ngô Vinh Bà Nguyễn Thị Bé sinh Ngô Đạo (vt)

34 Ngô Dự sinh Ngô Hưng
35 Ngô Hưng Bà Bùi Thị My sinh Thị Đuông, Thị Thức,
Đức Vượng, Đức Long, Đức Kế
36 Ngô Đức Long Bà Ngô Thị Thực,
Bà thứ Phạm Thị Quỳ sinh Đức Thắng,Đức Lợi
Thị Dực, Thị Phơn, Thị Hoà, Thị Hoàn,
Thị Bích, Thị Liên, T.Loan
37 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Phi Hùng, Phi Nga
Thúy Ngân, Thị Ngần
37 Ngô Đức Lợi Bà Nguyễn Thị Lâm sinh Đức Hải, Thị
Bảo Yến

34 Ngô Phúc Hy Bà Vũ Thị Thị nh sinh Ngô Ích
35 Ngô Ích sinh Ngô Hương, Ngô Bái,( biệt quán)

CHI VIII Vân lĩnh Hầu Ngô Phúc Phổ
Làng Vĩnh Ba, xã Hòa Đông, huyệnTuy Hoà, tỉnh Phú Yên

28Ngô Phúc Phổ Vân lĩnh Hầu ,lúc nhỏ có tên là Bạc, con trai thứ 8 Tào Quận công,
phả cũ chép thất truyền,mấy năm gần đây chi họ Ngô chợ Rạng huyện
Thanh Chương về nhận tổ,chưa có thế thứ .
Gần đây lại có họ Ngô Văn ở huyện Tuy Hoà tỉnh Phú Yên nhận là dòng
Ngô Phúc Phổ.
Hiện chưa thể khẳng định được, về niên đại thế thứ và tương truyền
cần nghiên cứu thêm. Tuy còn là tồn nghi, nhưng thể theo lòng thành
của cả họ nên chép vào đây để sưu tầm xác định sau.

29 Ngô Văn ….. sinh Ngô Văn Mẫn
30 Ngô Văn Mẫn sinh Ngô Văn Nguyệt
31 Ngô Văn Nguyệt sinh Văn Thạch, Văn Phân, Văn Đôn, Thị Chuẩn, Thị Chủ, T.Kéo

32 Ngô Văn Đôn Bà Trần Thị Dư sinh Văn Thận, Văn Miền, Văn Nhu,
Thị Tịch,Thị Lần
33 Ngô Văn Nhu Bà Nguyễn Thị Quyến sinhVăn Sỹ,Văn Khánh,Văn Tàu,Văn Sơn
Văn Thôn, Thị Dụng, Thị Thọ

34 Ngô Văn Sỹ Ba Hà Thị Trí,Bà thứ Đặng Thị Hiên sinh Văn Cư,Văn Thu,V.Đậu
Văn Bình, Thị Ở, T.Để, T.Huệ
35 Ngô Văn Bình Bà Nguyễn Thị Thảo sinh V. Thấu,V.Đâu,V.Oai,V.Chấn,V.Hậu
V.Hân, V.Thuyền, Thị Cứng, Thị Cảnh, Thị Mười, Thị Cúc
36 Ngô Văn Thấu Bà Nguyễn Thị Hường sinh Văn Quảng,Văn Xá,Văn Thưởng,
Văn Tuôi, Thị Lại, Thị Liệu, Thị Điểm, Thị Diễn, Thị Nhiễu

37 Ngô Văn Quảng sinh Thị Nghiã
37 Ngô Văn Xá Bà Lê Thị Riềng, Bà thứ Nguyễn Thị Dẹt sinh Ngô Cần,Văn Mịn,
Ngô Tân, Thị Ân, Thị Mĩn, Thị Đào

38 Ngô Cần Bà Đào Thị Hấp sinh Thị Xanh, Thị Linh, Thị Kiểm
38 Ngô Tân Bà Trần Thị Gành sinh Ngô Long,Lâm Tòng, Thị Ẩn,Văn Thắng,
Thị Thư

39 Ngô Long Bà Nguyễn Thị Yến sinh Tất Thắng,Văn Công,Văn Năm,
Thị Sương, Thị Sót
39 Ngô Lâm Tòng Bà Nguyễn Thị Câu

37 Ngô Văn Thưởng Bà Nguyễn Thị Chao sinh Thị Sum, Thị Quả, Thị Chinh, Thị Bình,
Ngô Dễ, Văn Nhơn, Văn Quẹo, Ngô Cản
38 Ngô Dễ sinh Thị Nhuận, Thị Thìn, Thị Phê

37 Ngô Văn Tuôi Bà Phạm Thị Rớt sinh Thị Diện

36 Ngô Văn Oai Bà Nguyễn Thị Nhi sinh Văn Tuân, Văn Nhã, Ngô Ngưng, Ngô
Tuân, Thị Y, Thị Ơn, Thị Tiểu
37 Ngô Văn Tuân Bà Nguyễn Thị Chẻ sinh Thị Chỉnh, Thị Oanh, T.Phần, T.Xang,
Ngô Chẩn, Ngô Kỉnh, Ngô Đàm
38 Ngô Chẩn Bà Đào Thị Phương, Bà thứ Trần Thị Chuông sinh Thị Khiết,
T.Đính, T.Bính, Thị Ba, Thị Thanh, T.Thuỷ, Ngô Nông, Ngô Vân,
Văn Trọng
39 Ngô Nông Bà Lê Thị Nhân sinh Thị Phương, Hồng Phong, Hồng Linh,
Hồng Ân
39 Ngô Vân Bà Lê Thị Bé sinh Thị Lê, Thị Liên, Thị Hiệp, Thời Nhiệm,
Văn Trường

38 Ngô Kỉnh Bà Lương Thị Thừa sinh Ngọc Sức,Ngọc Thử, Ngọc Thức,Ngọc
Xem, Thị Kế, Thị Sang
39 Ngô Ngọc Thử Bà Nguyễn Thị Niệm,Bà thứ Nguyễn Thị Lan sinh Ngọc Thảo, Ngọc Toàn, Ngọc Dân, Thị Cẩn, Thị Loan
39 Ngô Ngọc Thức Bà Đỗ Thị Chiêm sinh Ngọc Ca, Ngọc Đỏ, Thị Chi, Thị Ly

37 Ngô Văn Nhã Bà Trần Thị Mạch, Bà thứ Trần Thị Ngộ sinh Ngô Dã, Thị Chĩn
Thị Xua, Thị Lộc, Thị Nổi

37 Ngô Ngưng Bà Cao Thị Đinh sinh Ngô Tầm,Thái Giám,NgôĐạm,Xuân Bàng,
Ngô Hồng, Thị Hoa
38 Ngô Tầm Bà Dương Thị Kẽm sinh Ngô Xuân, Ngô Hà,Văn Sáu, Thị Lam,
Thị Bảy, Thị Tám, Thị Chín, Thị Mười, T.Thừa, T.Thu
39 Ngô Xuân Bà Lê Thị Hãnh sinh Thị Lài, Thị Lai, Thị Gái
39 Ngô Hà Bà Nguyễn Thị Mận sinh Thị Dương, Thị Diêm, Thị Hộp
Ngọc Dung, Ngọc Dân, Ngọc Hạ

38 Ngô Thái Giám Bà Lê Thị Đón sinh Tấn Hạnh, Thị Yến, Thị Sang, Thị Nhạn
39 Ngô Tấn Hạnh sinh Thị Lệ Minh, bích Thảo, bích Hải, Đức Trí

38 Ngô Đạm Bà Nguyễn Thị Xích sinh Thị Xanh, Xuân Miến, Văn Liên,Văn
Thắng, Thị Tiến
39 Ngô Xuân Miến Bà Phạm Thị Hương sinh Quốc Huy, Quốc Vũ

38 Ngô Hồng Bà Võ Thị Khanh
38 Ngô Xuân Bằng Bà Mai Thị Diệp sinh Thị Diện, Thị Nhàn, Thị Đởn, Thị Kiều,
Ngọc Bích, Xuân Ninh, Xuân Vinh

37 Ngô Tuân Bà Nguyễn Thị Mỏi sinh Xuân Bang, Xuân Lộc, Xuân Tấn,
Xuân Thơm, Thị Sớm, Thị Trưa
38 Ngô Xuân Bang sinh Thị Diệm, Thị Tú

38 Ngô Xuân Lộc Bà Dương Thị Tin sinh Xuân Yên, X.Được,Xuân Sử,X.Đồng,
Thị Phán, Thị Diệp, Thị Ý, Thị Vân
39 Ngô Xuân Yên Bà Nguyễn Thị Luyến sinh Xuân Tâm, Xuân Trung, Xuân Việt
39 Ngô Xuân Được Bà Lê Thị Sa sinh Thị Phương, Xuân Quý

38 Ngô Xuân Tấn Bà Tạ Thị Bàn sinh Xuân Bảo, Xuân Lâm
39 Ngô Xuân Baỏ Bà Nguyễn Thị Điều sinh Thị Nga, Xuân Quốc

38 Ngô Xuân Thơm Bà Võ Thị Sang sinh Thị Hương,Thị Sớt,Thị Huệ,Thị Liễu,T.Đào,
Xuân Công, Xuân Nhân

36 Ngô Xuân Chấn Bà Huỳnh Thị Cân sinh Thị Lụa

36 Ngô Xuân Hậu Bà Trương Thị Đạt,bà thứ Nguyễn Thị Bịp và Nguyễn Thị Liêu
Sinh Thị Dấu,Thị Bẻo,Thị Nấu,Thị May,Văn Quang,Ngô Nhặm
37 Ngô Văn Quang Bà Nguyễn Thị Nơi sinh Ngô Tú, Ngô Dài, Ngô Xếp, Văn Lốn,
Thị Chốn, Thị Bể

38 Ngô Tú Bà Lê Thị Bốn sinh Văn Sâm,Thị Nhung, Thị Nhân,Thị Chúng, Thị Sáu, Thị Phụ, Thị Thừa,Văn Nam, Như Trạch
39 Ngô Văn Sâm Bà Cao Thị Trang sinh Văn Nhựt, Văn Tam,Văn Tứ, Thị Nhị
39 Ngô Văn Nam Bà Nguyễn Thị Nhàn sinh Văn Giang

38 Ngô Dài Bà Hà Thị Ao sinh Văn Thường,Văn Bằng, Thị Thọt, Thị Yên
Thị Tâm, Thị Hiệp
39 Ngô Văn Thường Bà Phạm Thị Điểm sinh Thị Nhanh
39 Ngô Văn Bằng Bà Nguyễn Thị Hường sinh Xuân Phước,XuânSang,Xuân Thắng,
Xuân Vinh, Thị Sương, Thị Kiều

38 Ngô Xếp Bà Nguyễn Thị Sở, Bà thứ Trần Thị Thanh sinh Thị Hương, Thị
Vân, Xuân Hoàng, Xuân Hạnh, Đình Phúc
39 Ngô Xuân Hoàng Bà Nguyễn Thị Trang sinh Thị Loan, Thị Liễu,Đình Luận,Đ.Lập

37 Ngô Nhặm Bà Hà Thị Biền sinh Ngô Diệp, Ngô Cuộc, Ngô Cút, Thị Kỳ
Thị Kít, Thị Kịt, Thị Kim

34 Ngô Văn Khánh Bà Võ Thị Ngữ, Bà thứ Võ Thị Thơ sinh Văn Tuyên,Văn Toàn
Văn Thái, Văn Hồi,Văn Hứa,Văn Sum,Văn Thức, Thị Cầm,
Thị Quyền, Thị Quyết, Thị Tập
35 Ngô Văn Tuyên Bà Nguyễn Thị Hân sinh Văn Thuần,Văn Kiêm,Văn Khuôn,Văn
Viên,Văn Tây, V.Đạo, Văn Nữa, Thị Thuộc, Thị Kỹ, T.Đợi
36 Ngô Văn Thuần Bà Đào Thị Lại sinh Văn Phẩm,Văn Ngộ,Văn Huyện, Thị Hoa
Thị Vỵ, Thị Tỳ, Thị Tục, Thị Cửu, Thị Kiết
37 Ngô Văn Ngộ Bà Nguyễn Thị Hết sinh Ngô Nghĩnh,Ngô Đặng, Ngô Đắc,
Thị Liễu
38 Ngô Nghĩnh Bà Đoàn Thị Sen,Bà thứ Trần Thị Cấn sinh Ngô Đó, Ngô Mầu,
Kim Quý, Văn Câu, Thị Ơn, Thị Cành
39 Ngô Đó Bà Cao Thị The sinh Văn Thạch, Thị Phấn, Thị Thơm, Thị Tho,
Thị Thư, Thị Hạnh
39 Ngô Mầu Bà Lê Thị Đào sinh Kim Học, Thị Hiền,Kim Hoài,Kim Huy, Thị
Bũm, Thị Oanh
39 Ngô Kim Quý Bà Lê Thị Nhi sinh Thị Trúc, Thị Liến, Ngọc Thân, Ngọc Dân,
Ngọc Ninh
39 Ngô Văn Câu Bà Nguyễn Thị Thiện sinhTấn Lục,Ngọc Linh,Tấn Lợi,Ngọc
Lâm , Văn Lượng, Thị Lam

38 Ngô Đặng Bà Nguyễn Thị Bửng sinh Kim Hùng, Kim Lưng, Kim Lẫy,Kim
Cườm, Thị Xuyến, Thị Kim
39 Ngô Kim Lưng Bà Nguyễn Thị Thọ sinh Thành Nam, Thành Việt, Thị Miêu
39 Ngô Kim Lẫy Bà Đào Thị Hánh sinh Thị Hằng, Thị Chi

38 Ngô Đắc Bà Lê Thị Sữa sinh Ngọc Dung,Đức Thắng,Minh Long,
Đức Trình, Thị Loan, Thị Liên
39 Ngô Đức Thắng Bà Lê Thị Lan sinh Quốc Việt

37 Ngô Can Bà Đào Thị Hay,Bà thứ Trần Thị Thương sinh Ngô Phùng, Ngô
Trực,Văn Kiển, V.Đây, Kim Sang,Thị Đay,Thị Cho,Thị Tho
38 Ngô Phùng Bà Nguyễn Thị Riêu sinh Ngô Chinh , Ngô Bốn, Ngô Năm, Ngô
Sáu, Thị Thành, Thị Thổi
39 Ngô Năm Bà Huỳnh Thị Lùng sinh Thị Thương, Đình Luân
39 Ngô Sáu Bà Đinh Thị Sâm sinh Thị Sim,Thị Sương, ThịSinh,Thị Sơn,
Thị Sợ, Quốc Sư, Quốc Sự, Tú Siền, Thành Siên

37 Ngô Cương Bà Nguyễn Thị Nhiễu sinh Ngô Hào,Tố Hữu,Trực Minh,Văn
Bằng, Ngô Tự, Thị Phú, Thị Nhị, Thị Cúc
38 Ngô Tự Bà Nguyễn Thị Nghi sinh Đình Khoa,Văn Nhông,Văn Ánh,
Thị Thi
39 Ngô Văn Nhông Bà Lê Thị Minh sinh Rô Ben
39 Ngô Văn Ánh Bà Phan Thị Lan sinh Chí Hoà, Chí Hiệp

37 Ngô Cương Bà Lê Thị Chẩm sinh Thị Rô, Thị Rãnh, Thị Mươn, Thị Liên, Ngô
Chính
38 Ngô Chính Bà Võ Thị Thuỵ sinh Thị Dương,Thị Phụng, Thị Phương, T.Nhanh,
Thị Tám, Ngô Tiền,Văn Ngọc,Văn Minh, Văn Tiến

37 Ngô Nhượng Bà Phùng Thị Tịch, Bà thứ Huỳnh Thị Lê sinh Thị Mích,Thị Mịch
Thị Xịch, Hà Thanh, Ngô Liêm, Ngô Cát, Ngô Đài
38 Ngô Hà Thanh Bà An Thị Maõ sinh 4 con không rõ tên
38 Ngô Liêm Bà Nguyễn Thị Hoa sinh Thị Lọc, Thị Kỹ, Ngô Diệm, Ngô Nhiên Ngô Thắng, Ngô Nhất
39 Ngô Diệm sinh Thị Sen

38 Ngô Đài Bà Phạm Thị Hạnh sinh Văn Đàm , Thị Diễn, Thị Diễm, Thị Diên,
Văn Bình

37 Ngô Tương Bà Lê Thị Bim sinh Ngô Như,Văn Khuê,Văn Cấp,Văn Cư,Văn
Canh, Văn Nhuệ, Thị Nhẫn, Thị Nhị
38 Ngô Văn Cư Bà Lê Thị Tám sinh Hùng Hoan,Văn Thạch, Thị Thuý, Thị Bích
Thị Thuỷ
38 Ngô Văn Canh Bà Phan Thị Sang sinh Thạch Cẩn,Văn Hạ,Văn Hồi, Thị Văn

36 Ngô Văn Viên Bà Võ Thị Đeo sinh Ngô Nắng, Ngô Niều, Ngô Đó, Ngô Mão,
Văn Rỏn, Thị Diển, Thị Rèn
37 Ngô Nắng Bà Thị Cút sinh Văn Soi, Thị Suối
37 Ngô Niều Bà Hồ Thị Cộ sinh Ngô Tre, Thị Liền, Thị Ngọc, Ngô Quang,
Thị Ngào
38 Ngô Tre Bà Đặng Thị Quyên sinh Ngô Trước, Văn Trúc, Văn Trách,
Thị Sâm, Thị Giót
39 Ngô Văn Trúc Bà Trần Thị Đẹp sinh Thanh Bình,Thanh Hùng, Thị Yến, T.Luyến
39 Ngô Trách Bà Phan Thị Nhạn sinh Văn Việt, Minh Tâm, Thị Tùng, Thị Kết,
Thị Giá

38 Ngô Quang Bà Trần Thị Rung sinh Thị ảnh, Thị Lan, Thị Liễu, Thị Lệ

37 Ngô Đó Bà Võ Thị Xuồng sinh Ngô Như, Ngô Chạy, Thị Mà, Thị Mậu.
38 Ngô Như BàLê Thị Đậy,Bà thứ Nguyễn Thị Cửa sinh Ngô Lư,Ngô
Hương, Ngô Trúc, Ngô Sáu, Thị Năm, Thị Tám, Thị Chín
39 Ngô Lư Bà Phạm Thị Chín sinh Văn Sang,Văn Giáo,Văn Cao, Thị Thư,
Thị Kim, Thị Lam, Thị Chín
39 Ngô Hương Bà Trần Thị Bảy sinh Văn Hoà, Văn Hiếu, Văn Diệu, Văn Thoại,
Thị Thảo, Thị Hiền.
39 Ngô Trúc Bà Lương Thị Căn sinh Văn Trạng, Văn Quỳnh, Văn Quý,
Thị Trang, Thị Bé
39 Ngô Văn Sáu Bà Hà Thị Sương sinh Văn Tiến, Văn Tùng, Thị Liên, Thị Liêu.

38 Ngô Chạy Bà Nguyễn Thị Liệu sinh Ngô Đức , Ngô Thắng.

37 Ngô Mão Bà Võ Thị Cân sinh Thị Xê,Thị Chửng,Thị Khế, Thị Ẩn,
Văn Vững.
38 Ngô Văn Vững Bà Lê Thị Nhị sinh Thị Liên, Thị Liêm, Thị Lĩnh, Thị Liều,
Thành Lăng, Thành Liễn.
39 Ngô Thành Liễn Bà Trần Thị Năm sinh Hoàng Vũ

37 Ngô Văn Rỏn sinh Thị Phép, Văn Khương, Thị Băng
38 Ngô Văn Khương sinh Thị Điền, Thị Năm, Thị Sáu, Thị Tám

36 Ngô Văn Tây Bà Đinh Thị Chuột sinh Thị Dệt, Thị Dùng, Thị Lắc, Thị Lúp.

35 Ngô Văn Hồi Bà Lê Thị Nghĩa sinh Văn Luân,Văn Niên,Văn Thư, Thị Sang.
36 Ngô Văn Luân Bà Huỳnh Thị Dện sinh Thị Kỷ, Thị Dần, Thị Tròn, Thị Dành,
Thị Tuồng.
36 Ngô Văn Niên` Bà Lê Thị Miệt sinh Văn Tùng, Thị Trường, Văn Duy.
37 Ngô Văn Tùng Bà Nguyễn Thị Thập , Bà thứ Lê Thị Muốn sinh Ngô Châu, Thìn.
38 Ngô Châu Bà Lê Thị Cạnh sinh Thị Nhi, Thị Phi, Thị Nhung
38 Ngô Thìn Bà Nguyễn Thị Bích sinh Văn Tỵ, Thị Nhị,Văn Mậu, Ngô Năng,
Ngô Hanh.

39 Ngô Văn Tỵ sinh Thái Tĩnh, Thị Tuyên, Thị Tâm.
39 Ngô Văn Mậu Bà Trương Thị Kim sinh Trường Huề,Trường Hoan,Khải Hoàng,
Thị Hoàng Anh, Thị Hoàng.
39 Ngô Năng Bà Trần Thị Xuân sinh Trường Ninh.

35 Ngô Văn Hứa Bà Lê Thị Thắm sinh Văn Lược,Văn Lại, Thị Khuy, Thị Lâu,
Thị Chim, Thị Cu, Thị Cò, Thị Lợi, Thị Sen, Thị Thừa, Văn
Hoàn,Văn Quốc, Văn Khải, Thị Khiểng.

36 Ngô Văn Quốc sinh Văn Chí
36 Ngô Văn Khải Bà Huỳnh Thị Thôi sinh Ngô Trữ, Ngô Dược, Ngô Nhung, Ngô
Luận, Ngô Tại, Thị Liên, Thị Tiếp.
37 Ngô Trữ Bà Tạ Thị Xo sinh Đình Trọng, Kim Anh, Thị Hãn
38 Ngô Đình Trọng Bà Hà Thị Kính sinh Thị Hiệp, Thị Diệp, Thị Trọng, Thị Thảo,
Đình Nam, Đình Tèo, Đình Hân.
38 Ngô Kim Anh Bà Nguyễn Thị Nhị sinh Kim ảnh, Thị Thuấn, Thị Ánh, Thị Hoa,
Phước Hưng, Phước Lợi, Phước Hào, Phước Cương

37 Ngô Nhung Bà Lê Thị Gần sinh Thị Niềm, Thị Kiểm, Thị Điểm, Thị Cẩm, Thị
Trẩm, Thị Nhánh, Thị Quyên, Đình Phước,Đình Thiện, Đ.Hiền.
38 Ngô Đình Phước Bà Trần Thị Nhanh sinh Thị Sương, Thị Huệ, Thị Huê,
Thị Hương,Thị Ơn, Trung Hoàng
39 Ngô Trung Hoàng sinh Trung Hội, Trung Huy, Trung Hoài, Thị Hạnh, Thị Hơn,
Thị Hợp

38 Ngô Đình Thiện Bà Nguyễn Thị Sữa sinh Thị Thuý, Thị Thuỳ, Thị Trang, Thị
Quang, Thị Trương, Đình Trung, Văn Bình
38 Ngô Đình Hiền Bà Hồ Thị Hiền sinh Thị Ất, Thị Thảo, Văn Nguyên.

37 Ngô Được Bà Dương Thị Nhỏ sinh Tấn Lực, Tấn Quyền, Ngọc Quyện.
38 Ngô Tấn Quyền Bà Nguyễn Thị Hương sinh Thị Lệ, Thị Thuỷ, Thị Mỳ, Thị Bê,
Tấn Bi.
38 Ngô Ngọc Quyện Bà Trần Thị Thắm sinh Thị Quỳnh,Thị Gấm,Thị Gương,Tấn Quân

37 Ngô Kim Để Bà Nguyễn Thị Gọi sinh Đình Thám, Ngọc Diệm,Văn Duy, Thị
Sang, Thị Hương.
38 Ngô Ngọc Diệm Bà Nguyễn Thị Chẻo sinh Ngọc Diệp,Ngọc Dương, Thị Dâng,
Ngọc Du, Ngọc Dang.
38 Ngô Văn Duy Bà Lê Thị Xị sinh Thị Chi, Văn Thiêm,Văn Dem, Văn DúT.

37 Ngô Luận Bà Nguyễn Thị Mân sinh Thị Hoà, Thị Thanh, Thị Can, Thị Trà,
Tấn Tài
38 Ngô Tấn Tài Bà Lê Thị Trực sinh Tấn Toàn, Tấn Tuấn, Tấn Thí, Thị Thúc.

37 Ngô Tại Bà Trần Thị Huề ,Bà thứ Trần Thị Xuyến và Trần Thị Liễu
sinh Thị Nhẫn, Thị Nhịn, Thị Mươn, Thị Nhan, Thị Neo, Thị
Vương Thị Rít,Văn Chúng,Văn Thuỷ, Kim Lùng, Kim Hữu.

35 Ngô Văn Thức Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Văn Nô,Văn Thử,Văn Cường,Văn Hiếu,
Thị Danh, Thị Diễn, Thị Nhặt, Thị Ý
36 Ngô Văn Thử Bà Trần Thị Dường sinh Văn Sáng, Thị Ngẫu, Thị Kỹ.
37 Ngô Văn Sáng Bà Nguyễn Thị Đậy sinh Văn Lý, Thị Hường.
38 Ngô Văn Lý Bà Nguyễn Thị Lại sinh Văn Hương, Văn Ân, Văn Hân, Thị Sen.
39 Ngô Văn Hương Bà Huỳnh Thị Ngọc sinh Thị Loan, Thị Thảo, Đại Nghĩa, Minh
Đức, Minh Dũng.

36 Ngô Văn Cường Bà Lê Thị Quý,Bà thứ Lê Thị Tài,Phạm Thị Đặng và Huỳnh Thị Lệ
sinh Trọng Cảnh, Trọng Kiểm, Thị Cải.
37 Ngô Trọng Cảnh Bà Lê Thị Thuỵ,Bà thứ Lê Thị Khẳm sinh Thạch Ủng,Thạch Lộc,
Thị Lê, Thị Lam, Thị Sương.
38 Ngô Thạch Ủng Bà Trần Thị Khiểm sinh Thạch Phổ, Thị Phiểng, Thị Phương, Thị
Thoa, Thị Phi, Thị Vỵ, Thạch Doãn, Thạch Diễm, Thạch Dĩnh
38 Ngô Thạch Lộc Bà Huỳnh Thị Liên sinh Đình Dũng, Đình Duy,Đình Duyên, Thị
Diệu, Thị Diệp, Thị Dâng.

37 Ngô Trọng Kiểm Bà Trần Thị Hồng sinh Trọng Hạnh, Trọng Bình, Trọng Thành,
Trọng Bác, Trọng Cư, Thị Nhung, Thị Dung, Thị Anh.

38 Ngô Trọng Hạnh Bà Lê Thị Hương sinh Lệ Huyền, Thị Hoa,Thị Huệ, Trọng Hội.
38 Ngô Trọng Bình Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ sinh Trọng Tĩnh, Thị Thuý, Thị Thi,
Thị Thơ.
38 Ngô Trọng Thành Bà Lê Thị Phước sinh Viết Phú, Thanh Nghi, Thị Ngà.

34 Ngô Văn Tàu Bà Nguyễn Thị Tồn,Bà thứ Nguyễn Thị Kích sinh Văn Hải,V.Hồ,
V.Chất, V.Chí, V.Phát, Thị Huống, Thị Đa.
35 Ngô Văn Hải Bà Đặng Thị Nhũ sinh Thị Nhùng,Thị Huỳnh,Thị Tương,Thị Kinh,Thị Úc, Thị Chỉ, Thị Thêm,Văn Phương,Văn Chiểu,Văn Lan.
36 Ngô Văn Phương Bà Trần Thị Kén,Bà thứ Lê Thị Dụng sinh Văn Hoé, Phụng Trì,
Văn Ngọ, Văn Xíu, Thị Hối, Thị Chi, Thị Hán.
37 Ngô Phụng Trì Bà Nguyễn Thị Vụ sinh Xuân Hường,Xuân Hàm,Thị xuân Hương
38 Ngô Xuân Hường Bà Nguyễn Thị Chi sinh Đình Du,Xuân Đổng,Xuân Đào,Xuân
Sắc, Thị Đốc, Thị Tràng.
39 Ngô Đình Du Bà Nguyễn Thị Đàn sinh Đình Diêm,Đình Diên,Đình Dũng,
Thị Diệu, Thị Diêu, Thị Dùng, Thị Dằng
39 Ngô Xuân Đổng Bà Nguyễn Thị Rác sinh Thị Dung,Dung Mỹ,Thị Hồng,Xuân
Phong.
39 Ngô Xuân Sắc Bà Bùi Thị Giải sinh Xuân Sinh, Xuân Sang, Xuân Sạn, Thị Sen,
Thị Gái, Thị Út
38 Ngô Xuân Hàm Bà Lê Thị Năm sinh Xuân Thâm

36 Ngô Văn Lan Bà Nguyễn Thị Liễu sinh Văn Đầm, Thị Soạn, Thượng Viện .
37 Ngô Thượng Viện Bà Trần Thị Vy,Bà thứ Trần Thị Uyển và Lê Thị Tốn sinh Thượng
Bộ,Thượng Đảm,Thượng Ẩn,Thượng Đản,Thượng Khiết,Thượng
Anh, Thị Ngang, Thị Nghi, Thị Miên, Thị Diễn, Thị Phú, Thị Thư,
Thị Hào, Thị Mỹ, Thị Thang, Thị Nguyên.
38 Ngô Thượng Đảm Bà Phan Thị Phúc sinh Phan Lưu, Phan Ty, Thị Phan Xuân, Thị
Phan Thân, Thị Phan NguyệT.
39 Ngô Phan Lưu Bà Đỗ Thị Phượng sinh Mạnh Kha, Mạnh Doãn, Mạnh Quỳnh,
Thị Hoa Nguyên, Thị Thanh Nhã.
39 Ngô Phan Ty Bà Mã Thị Bích Loan sinh Tầm Nguyên,Tây Nguyên,Trung
Nguyên, Đình Nguyên.

38 Ngô Thượng Ẩn Bà Nguyễn Thị Mai Lan sinh Thị Kim Liên, Thị Thu Trang,Việt
Trung, Phương Nam.
39 Ngô Việt Trung Bà Trần Thị Thu Hiền sinh Thị Thảo Ly

38 Ngô Thượng Anh Bà Nguyễn Thị Thạo sinh Thượng Bi, Thượng Tin, Thị Nguyệt,
Thị Phi, Thị Lam, Thị Hiền, Thị Nương, Thị Út

35 Ngô Văn Chí sinh Văn Tuyển,Văn Tuy,Thị Đích,Thị Trọn,Thị Huyện,Thị Huẫn,
Thị Mậu.
36 Ngô Văn Tuy sinh Văn Hôi, Văn Hoi, Văn Móc, Văn Chạm.
37 Ngô Văn Hôi Bà Đào Thị Dơi sinh Ngọc Dận, Ngọc Dã, Ngọc Thời.
38 Ngô Ngọc Thời Bà Lê Thị Thà sinh Ngọc Phú, Ngọc Tài, Văn Sáu, Thị Hồng
39 Ngô Ngọc Phú sinh Tấn Hữu, Tấn Ích, Thị Bé, Thị Thu, Thị Anh
39 Ngô Ngọc Tài sinh Tấn Thọ, Thanh Tràng, Văn Kin, Thị Hương
39 Ngô Văn Sáu Bà Bùi Thị Sa, Bà thứ Lê Thị Hạnh sinh Đình Năng,Đình Phúc,
Đình Phích, Đình Khởi, Thị Kiều, Thị Diễm

38 Ngô Dã Bà Nguyễn Thị Miền sinh Ngô Luận, Văn Hưng, Thị Sáu, Thị
Thị Dưng, Thị Nhưng, Thị Nhi
39 Ngô Luận Bà Lương Thị Ánh sinh Minh Diệu, Minh Điện, Minh Tịnh, Thị
Liên, Thị Thu Vịnh,Thị Thu Hạ

37 Ngô Văn Moi Bà Huỳnh Thị Đậm sinh Ngô Gái, Ngô Khải, Ngô Khai, Thị Cào,
Thị Trai
38 Ngô Gái Bà Trần Thị Ý sinh Ngô Kham, Ngô Mạnh, Ngô Khảm, Thị Tảo
39 Ngô Khảm Bà Đặng Thị Cúc sinh Ngô Lực,Kim Hùng,Văn Hiền, Thị Thanh,
Thị Thuỷ, Thị Thành

38 Ngô Khái Bà Cao Thị Lúc sinh Ngô Quốc, Ngô Hánh, Ngô Hề, Ngô Hấn
39 Ngô Quốc Bà Đặng Thị Hành sinh Quang Tịnh,Văn Sơn,Văn Tý, Thị Xuân,
Thị Vàn, Thị Mười, Thị Dư
39 Ngô Hề Bà Nguyễn Thị Thiệt sinh Thị Tiến, Thị Thơm, Thị Cúc,
Thanh Trường

38 Ngô Khai Bà Đào Thị Lục sinh Văn Ngưu, Ngô Nam, Ngô Dương, Ngô
Thành, Thị Sáu, văn Hiền

37 Ngô Móc Bà Huỳnh Thị Điệp sinh Thị Níu, Thị Thiết
34 Ngô Văn Sơn Bà Nguyễn Thị Thân, Bà thứ Thị Trúc sinh Văn Thi, Văn Thiệu,
Văn Chỏi, V.Điều, Thị Nhì, Thị Diệu, Thị Như, T.Điêu, Thị Trác,
Thị Giàu, Thị Chức, Thi Đồng, Thị Lý
35 Ngô Văn Thi Bà Trần Thị Tìm sinh Văn Chư, Văn Nghị, Văn Hối, Văn Hấp,
Thị Dự, Thị Khiếu, Thị Chánh, Thị Thuỳ
36 Ngô Văn Chư Bà Nguyễn Thị Thương, Bà thứ Lê Thị Hồi sinh Văn Chi,Văn My
Thị Ơn
37 Ngô Văn My Bà Phạm Thị Tu, Bà thứ Huỳnh Thị Chơn sinh Xuân Chư,Quang
Môn, Văn Lượn, Thị Gầy, Thị Xuân, Thị Hồng, Thị Hưng, Thị Mận
Thị Thiền, Thị Tần
38 Ngô Xuân Chư Bà Trương Thị Hoà sinh Xuân Quang, Xuân Lai, Xuân Phi
39 Ngô Xuân Quang Bà Lê Thị Lệ sinh Thị Xuân Nhạn

38 Ngô Quang Môn Bà Phạm Thị Chín sinh Quang Trương,Quang Siêu, Quang Pháp,
Thị Diễm, Thị Diệu, Thị Dược

36 Ngô Văn Nghị Bà Thị Quế, bà thứ Nguyễn Thị Thao sinh Văn Xu, Văn Căn,
Văn Xuất, Văn Khịn, Thị Thành, Thị Thót
37 Ngô Văn Xu Bà Võ Thị Kính, bà thứ Hồ Thị May sinh Ngô Ngọc,Ngô Phú,
Văn Nhơn, Văn Tám, Văn Chín, Thị Mười, Thị Cúc
38 Ngô Phú Bà Trần Thị Mai sinh Đình Tài, Đình Tiến, Thị Thảo, Thị Lệ, Thị
Tiền, Thị Lý, Thị Diềm
38 Ngô Văn Nhơn sinh Xuân Danh
38 Ngô Văn Tám sinh Xuân Tùng

36 Ngô Văn Hối Bà Trần Thị Quý sinh Văn Hấp, Thị Vận, T.Đất, Thị Cảo, T.Đan,
Văn Kình, Tấn Cương
37 Ngô Tấn Cương Bà Lê Thị Kiển sinh Tấn Nông, Thị Út, Tấn Công
38 Ngô Tấn Nông sinh Thị Bích Hiệp,Thị Bích Hạnh

35 Ngô Văn Chỏi Bà Ôn Thị Dung sinh Văn Môn, Văn Sang, Văn Đăng
36 Ngô Văn Đăng Bà Lưu Thị Ngai sinh Văn Đón, Văn Đưa, Văn Trì, Văn Tâm,
Văn Thiết, Ngô Du
37 Ngô Văn Trì Bà Lê Thị Bợ sinh Văn Khế, Thị Huế
38 Ngô Văn Khế Bà Cao Thị Lưu, bà thứ Phạm Thị Sẻ sinh Văn Sí, Văn Sung,
Văn Sang, Văn Luân, Thị Hân, Thị Nhành, Thị Mai, Thị Thảo,
Thị Sê, Thị Huyền
39 Ngô Văn Sí Bà Lê Thị Phát sinh Thị Hồng

37 Ngô Du Bà Nguyễn Thị Khen sinh Ngọc Lành, Ngọc Ảnh, Thị Ngọc
34 Ngô Văn Thôn Bà Trương Thị Ban sinh Thị Đèo,Thị Muôn.
Chi IX Tỏan võ Hầu Ngô Phúc Trị

28 Ngô Phúc Trị Toản võ Hầu con trai thứ 9 Tào Quận công,
khi mới 10 tuổi bố đã từ trần,
(1643-…) quân Chúa Nguyễn lấn chiếm đất Nghệ An đến bờ sông Lam, trong cơn
binh hoả lạc mẹ được bà bảo mẫu nhận làm con đem về nuôi ở xã Ngọc
Sơn, sau ngày ổn định trở về quê ở làng Phù Việt lấy vợ. Thị võ ở phủ,
trúng cách ra làm Quản quân, dòng dõi quân thần được phong tước Hầu,
làm Lực sĩ Ty lực sỹ Hiệu uý, sau được thăng Đô chỉ huy sứ ty Chỉ huy
Đồng tri, Thượng Trụ quốc, sinh Ngô Phúc Bình.
29 Ngô Phúc Bình Dật võ Hầu, có hai Bà, sinh Phúc Tân, Phúc Lạng, Phúc Sùng,
Phúc Lâm

30 Ngô Phúc Tân sinh Phúc Tiệm

31 Ngô Phúc Tiệm sinh Phúc Duyện

32 Ngô Phúc Duyện tước Bá, theo nho học trúng Tam trường.
Năm 1786 quân Tây Sơn ra bắc,Ông đang làm Trấn thủ Nghệ An,
cùng Võ Tá Giao tập hợp lực lượng dự định đánh chặn đường về
của quân Tây Sơn.Nhưng quân Tây Sơn rút quá sớm, lực lượng
của Ông còn mỏng nên bị đánh tan.
Phả cũ ghi: “Trong vụ này cha con ông bị sa cơ”.
Ông quay về tập hợp trai tráng trong làng giữ an ninh trật tự trong
vùng,tiếp Chiếu Cần vương của Lê Chiêu Thống. Ông dẫn một
đội quân ra Thăng Long nhận chức Quản đội Đinh tả, đi đánh dẹp các
vùng Chương Đức,Mỹ Lương. Sau khi Nguyễn Hữu Chỉnh ra bắc , Ông về quê, sinh ba con Phúc Chinh và hai người khác vô tự.

33 Ngô Phúc Chinh sinh Phúc Tân
34 Ngô Phúc Tân sinh Ngô Đài, Ngô Cam, Ngô Tam
35 Ngô Cam sinh Đức Liệu (Ls.)
35 Ngô Đức Tam sinh Đức Vấn, Ngô Đáp, Ngô Hiếu

36 Ngô Đức Liệu sinh Đức Hùng, Đức Khang
36 Ngô Đáp sinh Đức Hương và sáu con gái
36 Ngô Hiếu sinh Đức Nghi, Đức Chung và sáu con gái.

30 Ngô Phúc Sùng Tư lộc Hầu,con trai thứ ba của Dật trung Hầu, sinh Phúc Động,
Phúc Nghiêm
31 Ngô Phúc Động sinh Phúc Khang
32 Ngô Phúc Khang sinh Phúc Trạch
33 Ngô Phúc Trạch cha mất sớm ,được ông bà ngoại nuôi, sinh :
Phúc Trạm, phái Cố Bằng ở Trảo Nha và ở Tiến Lộc,
Phúc Hoằng ,phái Cố Bồi ở Tiến Lộc,
Phúc Trực, phái Cố Nghinh ở Tiến Lộc,
Phúc Hào, phái Cố Bản ở Tiến Lộc
Phúc Truỵ, phái Cố Cù ở Tiến Lộc.

34 Ngô Phúc Trạm có bốn Bà,sinh Phúc Chu,Phúc Cưu,Đức Dị,Cảnh Giới, Thị Nhỏ

35 Ngô Phúc Chu Bà Lê Thị Hường, Bà thứ Lê Thị Hiêu sinh Phúc Lưu,Phúc Dinh
Đức Hiên, Đức Dư, Thị Bưu, Thị Ngưu, Thị Năm, Thị Bảy
36 Ngô Phúc Lưu Bà Nguyễn Thị Nhiễu, sinh Đức Luật,Đức Lập,Đức Canh,
Xuân Sóc,Xuân Sách, Thị Lệ, Thị Sáu

37 Ngô Đức Luật (Ls.) sinh Xuân Thoan, Thị Nghéc, Thị Tư
38 Ngô Xuân Thoan Bà Nguyễn Thị Lịch, sinh Văn Thuân,Văn Thắng, Thị Hiền.

37 Ngô Đức Lập hai Bà, sinh Đức Lợi, Thị Phước
38 Ngô Đức Lợi Bà Trần Thị Mai sinh Chung Hoàn , Thị Thuỷ, Thị Khuyên.

37 Ngô Đức Canh Bà Nguyễn Thị Nậy, sinh Đức Chí, Đức Quyền, Đức Thìn,
Đức Phú, Đức Quý
38 Ngô Đức Quý Bà Phạm Thị Nhân sinh Đức Thanh,Đức Lâm,Đức Long
38 Ngô Đức Thìn Bà Trần Thị Hoa sinh Thị Như Quỳnh,Thị Quỳnh Trang

37 Ngô Xuân Sóc Bà Lê Thị Sáu, sinh Đức Dụng, Thị Hoa
38 Ngô Đức Dụng Bà Bùi Thị Sáu, sinh Đức Trung, Thị Hương

37 Ngô Xuân Sách Bà Nguyễn Thị Nghiêm, sinh Xuân Thanh, Xuân Sơn, Thị Liên,
` Thị Lam, Thị Hồng

36 Ngô Đức Hiên Bà Trần Thị Cần, sinh Viết Lương, Đức Năm, Xuân Sáu, Thị
Mực,Thị Mậu

37 Ngô Viết Lương Bà Phạm Thị Anh, sinh Đức Quyền,Đức Mại,Đức Hoàng,Đức
Hải, Thị Huyền, Thị Hương
38 Ngô Đức Quyền Bà Phan Thị Tứ, sinh Thị Hoà Phương
38 Ngô Đức Hoàng Bà họ Bùi, sinh một trai, một gái
38 Ngô Đức Hải Bà Bùi Thị Mai sinh Kiều Anh

37 Ngô Đức Năm Bà Lê T.Đường, sinh Mạnh Tần,Sỹ Liên,Mạnh Tuấn, Thị Hương
38 Ngô Mạnh Tần Bà Võ Thị Hà, sinh Mạnh Dung,Mạnh Hoà, Thị Thuý, Thị Oanh
38 Ngô Sỹ Liên Bà Nguyễn Thị Luận, sinh Kim Dung
38 Ngô Mạnh Tuấn Bà Nguyễn Thị Hằng ,sinh Thị Hạnh

37 Ngô Xuân Sáu Bà Đoàn Thị Tuyết, sinh Xuân Hùng, Xuân Dinh,Đức Dung,
Thị Vân, Thị Thuý, Thị Mai
38 Ngô Xuân Hùng Bà Nguyễn Thị An, sinh Bảo Giang, Hoà Giang
38 Ngô Đức Dung Bà Nguyễn Thị Phúc, sinh Đức Long, Đức Linh

36 Ngô Phúc Dinh Bà Nguyễn Thị Mai, sinh Đức Khánh
37 Ngô Đức Khánh Bà Trần Thị Niên, sinh Đức Châu, Thị Chắt
38 Ngô Đức Châu Bà Lê Thị Diến, sinh Đức Văn

36 Ngô Đức Dư Bà Từ Thị Em, sinh Xuân Thực,Xuân Tâm,Xuân Cát, Thị Cháu,
Thị Hai, Thị Minh
37 Ngô Xuân Thực (Bs) Bà Trần Thị Ba, sinh Xuân Ngân, Xuân Nguyên, Xuân Lợi,Xuân
Quyền, Xuân Chương, Thị Liên
38 Ngô Xuân Ngân Bà Nguyễn T.Đinh, sinh Xuân Dũng, Xuân Hùng, Xuân Nguyên
Thị Hương
38 Ngô Xuân Quyền Bà Nguyễn Thị Thanh, sinh Đức Hải, Thị Thuý
38 Ngô Xuân Nguyên Bà Nguyễn Thị Hường sinh Đức Hoàn
38 Ngô Xuân Lợi Bà Nguyễn Thị Vân, sinh Thị Huyền, Đức …

37 Ngô Xuân Tâm Bà Lương Thị Cảnh ,sinh Đức Toàn, Đức Minh,Chinh Đức,
Thị Loan, Thị Khai, Thị Nguyệt, Thị Anh
38 Ngô Đức Toàn Bà Nguyễn Thị Hè, sinh Đức Hoàng,Đức Nam

37 Ngô Xuân Cát Bà Đinh Thị Miền, sinh Đức Tuấn, Thị Lan, Thị Hương, Thị Lam,
Thị Thuận

35 Ngô Phúc Cưu (1863-1945)có hai bà,sinh Đức Quý,Đức Thi,Đức Cầm,Đức Tín,
Đức Huấn,Đức Cửu,Đức Thập,Đức Toàn,Đức Du, Thị Trương,
Thị San, Thị Tuấn, Thị Em
36 Ngô Đức Quý sinh 1917,Bà Nguyễn Thị Lưu, sinh Thị Mai,Đức Tùng,Đức Bách
Đức Lý (cả gia đình di cư Thái Lan).

37 Ngô Đức Tùng Bà Đào Thị Thuý, sinh Trọng Tài,Thu Thanh,Thị Thìn,Thị Thu
Thoa,Quang Toàn, Bạch Tuyết(Ks)
38 Ngô Trọng Tài Ks,Ls ,Bà Trần Thị Thu, sinh Trọng Tuấn, Thị Ngọc Oanh,V.Diệp
38 Ngô Quang Toàn Ks, Bà Đinh Thị Phương Hoà, sinh Chi Lan

37 Ngô Đức Lý Bà Nguyễn Thị Nghiêm ,sinh Thị Nguyệt, Thị Đào

37 Ngô Đức Bách sinh Ngô Lý, Ngô Hy, Đức Loan

36 Ngô Đức Thi Bà Võ Thị Dinh,sinh Đức Anh,Đức Chế,Đức Quốc Ls,Đức
Quang, Thị Trâm, Thị Oanh, Thị Thông, Thị Độ

37 Ngô Đức Anh Bà Ly Thị Hỷ, sinh Đức Sơn, Thị Thuỷ, Thị Hà
38 Ngô Đức Sơn Bà Lê Thị Bắc, sinh Đức Trường, Đức Giang, Đức Quyền

37 Ngô Đức Chế Bà Võ Thị Hoan,sinh Đức Linh,Đức Lượng,Đức Tường,
Đức Túc, Thị Hương, Thị Tý
38 Ngô Đức Linh Bà Nguyễn Thị Liễu, sinh Đức Phú

37 Ngô Đức Quốc Bà Nguyễn Thị Lục, sinh Đức Hưng,Đức Hoà, Đ.Hải,Đ.Hiền

37 Ngô Đức Quang Bà Trần Thị Chắt, sinh Đức Thanh, Thị Minh

36 Ngô Đức Tín Bà Nguyễn Thị Dị ,sinh một trai hai gái,di cư Thái Lan

36 Ngô Đức Huấn Bà Nguyễn Thị Uyển,sinh Đức Hồ (Ls.),Đức Việt,Đức Nam,
Đức Đàn,Thị Sơn, Thị Phương

37 Ngô Đức Việt Bà Nguyễn Thị Nghiêm, sinh Đức Bắc, Đức Trung, Đức Vinh,
Đức Quang, Thị Liên
38 Ngô Đức Bắc (Ls.) bà Trần Thị Hồng, sinh Xuân Lam
38 Ngô Đức Trung Bà Nguyễn Thị Lan, sinh Đức Sơn
38 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Nga, sinh Đức Hùng

37 Ngô Đức Nam Bà Vang Thị Thi,Bà thứ Nguyễn Thị My,sinh Đức Tâm,Thị Oanh,
và hai con gái
37 Ngô Đức Đàn Bà Nguyễn Thị Dung ,sinh Đức Thọ, Đức Thắng, Đức Thông,
Đức Thành
38 Ngô Đức Thọ sinh Quang Huy
36 Ngô Đức Cửu Bà Nguyễn Thị Cum,sinh Đức Huynh,Thị Tứ, Thị Tam,
Thị Nhượng,Thị Minh, Thị Thành, Thị Dung
37 Ngô Đức Huynh Bà Trần Thị Hạp sinh Đức Hồng,Đức Lam,Đức Sơn, Thị Lan,
Thị Vân, Thị Tuyết, Thị Thuỷ
38 Ngô Đức Sơn Bà Trần Thị Tuyền, sinh Phúc Trương, Thị Hoài

36 Ngô Đức Thập Bà Hà Thị Nậy,sinh Đức Duẩn,Đức Quân,Đức Nguyên, Thị Lý,
Thị Thuyết
37 Ngô Đức Tác Bà Nguyễn Thị Hoạt, sinh Đức Phúc,Đức Dương,Đức Tuấn,
Đức Hải
37 Ngô Đức Hoạch Bà Võ Thị Nhân, sinh Thị Dung, Thị Hương, Thị Trang

36 Ngô Đức Toàn Bà Nguyễn Thị Tuệ, sinh Đức Vinh, Đức Quang
37 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Đôi, sinh Đức Quyết, Đức Thắng, Thị Hoa
37 Ngô Đức Quang Bà Võ Thị Khương, sinh Đức Phú, Đức Quý

36 Ngô Đức Du Bà Trần Thị Tuý, sinh Đức Hoàn, Thị Xoan, Thị Huệ, Thị Thường
37 Ngô Đức Hoan Bà Nguyễn Thị Nhật, sinh Đức Thanh, Đức Đạt

35 Ngô Đức Dị Bà Nguyễn Thị Thanh, sinh Đức Đoan
36 Ngô Đức Đoan Bà Nguyễn Thị Đích, sinh Thị Đoan

35 Ngô Cảnh Giới Bà Võ Thị Thảo, sinh Đức Điểu, Thị Kỳ, Thị Nhỏ, Thị Yên,
Thị Năm,Thị Sáu
36 Ngô Đức Điểu sinh Đức Cưu, Thị Cháu, Thị Bình
37 Ngô Đức Cưu Bà Trần Thị Quang, sinh Đức Hồng,Đức Thắng,Đức Thái,Đức
Thìn, Thị Minh
38 Ngô Đức Hồng Bà Lê Thị Hồng, sinh Đức Sơn, Thị Lan
Phái 2 Chi IX
Phái Đa Phúc,
xã Nghi Công, huyện Nghi Lộc,tỉnh Nghệ An
( Mới về nhận họ năm 1995)

30 Ngô Phúc Lạng sinh Phúc Nhu, Phúc Tư, Phúc Thâm
Phúc Tư họ Thương bình huyện La Sơn (Hương Khê),
Phúc Thâm ở quê gốc .

31 Ngô Phúc Nhu tự Ngô TứTăng, quê gốc ở thôn Bằng Khang xã Cổ Liêu sau dời
về xã Hảo Hiệp huyện Chân Lộc.Khoảng năm 1740 dời về Kẻ
Mươi tức thôn Đa Phúc,tổng Hải Đô,phủ Hưng Nguyên nay là xã
Nghi Công huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An
Bà Nguyễn Thị Thành ,sinh Tứ Liên,Trọng Đương.

32 Ngô Trọng Đương sinh Trọng Hài, Trọng Hoà, Trọng Hợp, Thị Bàn
Trọng Hoà chỉ truyền được 4 đời

33 Ngô Trọng Hài Bà cả và bà thứ sinh Trọng Cẩn, Trọng Khôi, Trọng Lăng
(Trọng Lăng chỉ truyền được 3 đời)

34 Ngô Trọng Cẩn sinh Trọng Chí, Trọng Cần, Duy Doãn và ba gái

35 Ngô Trọng Chí sinh Thị Khai, Thị Đoan, Trọng Lang (vt), Trọng Huệ
36 Ngô Trọng Huệ sinh Trọng Tín (vt), Trọng Giá
37 Ngô Trọng Giá sinh Trọng Lới
38 Ngô Trọng Lới sau đổi Ngô Đức Sinh, sinh Đức Minh
39 Ngô Đức Minh sinh Đức Phương, Thị Hường, Thị Nhung, Thị Vượng, Đức Lượng

35 Ngô Trọng Cần (1797- 1859) Bà cả sinh Trọng Trân, Thị Đố, Thị Xạ, Thị Tiên,
Thị Nghiên, bà thứ sinh Thị Biên, Thị Ngạo, Thị Nhưng, Thị Bạn,
Trọng Du ( mất tích)
36 Ngô Trọng Trân (1829- 1906) sinh Thị Phát, Trọng Quát, Trọng Thân, Trọng Bốn
37 Ngô Trọng Quát tự Ngô đại Cơ, sinh Thị Phương, Thị Vân, Thị Chương,
Trọng Khiêm, Thị Triệm, Đức Toàn, Đức Hồ, Đức Lưu
38 Ngô Trọng Khiêm (ông Thiều) tự Ngô Minh Châu, sinh Thị Thiều
38 Ngô Đức Toàn huý Ngô trọng Tốn, sinh Đức Uyên, Thị Nhiên, Đức Bàng,
Đức Bường.

39 Ngô Đức Uyên (1925-1991) sinh Thị Ngọc Anh (Đh)

39 Ngô Đức Bàng Ks,sinh Đức Chương, Thị Lan, Thị Tâm, Đức Dũng
40 Ngô Đức Chương sinh Thị Tuyết Mai, Thị Hồng Ngọc, Đức Tuấn

39 Ngô Đức Bường Bs,sinh Thị Giang, Thị Thanh, Đức Bình

38 Ngô Đức Hồ sinh Thị Hiên,Đức Dô, Thị Diêu,Đức Tiêu, Thị Đào,Đức Dào Ls,
Thị Giáo
39 Ngô Đức Dô sinh Thị Dơn, Thị Bôn, Đức Sơn, Đức Hà, Thị Hương, Thị Hoan,
Đức Quỳnh, Thị Phượng

39 Ngô Đức Tiêu sinh Đức Hải (Ls.), Đức Nhật, Đức Nguyệt, Đức Nga, Thị Ngạn,
Đức Đàn, Đức Đồng, Thị Thị nh

38 Ngô Đức Lưu sinh Đức Tao, Đức Tuynh (Ls.)
39 Ngô Đức Tao sinh Thị Thảo,Đức Tuyên,Đức Tân,Thị Song,Thị Hồng, Đức Phồn

37 Ngô Trọng Bốn sinh Đức Tuỳnh, Thị Tiềm, Thị Khôi, Thị Huy
38 Ngô Đức Tuỳnh huý Ngô trọng Tời, sinh Ngô Đức Kỳ, Đức Sam, Đức Siêm

39 Ngô Đức Kỳ sinh Đức Kỳ(Ls.), Đức Cường
39 Ngô Đức Sam sinh Đức Nam,Đức Luyên,Đức Tuyền, Thị Tứ, Thị Ngụ,Đức Lục,
Đức Trí, Thị Vị
39 Ngô Đức Siêm sinh Đức Vinh,Đức Lương,Đức Khương,Đức Khang,Đức Thái,
Thị Bình, Thị Minh, Thị Mai, Đức Hồng, Đức Lĩnh

34 Ngô Trọng Khôi sinh Trọng Tuế (vt), Trọng Xứ, Thị Thăng
35 Ngô Trọng Xứ sinh Thị Trí, Văn Chí , Văn Hàn , Văn Mặc, Thị Như,
Thị Nhưng, Văn Quý
36 Ngô Văn Mặc sinh Thị Gon, Trọng Tuỳ, Văn Huề, Văn Câu, Thị Diệu
37 Ngô Trọng Tuỳ sinh Đức Xong, Đức Trường
38 Ngô Đức Xong sinh Thị Châu, Đức Phong, Thị Phương
39 Ngô Đức Phong sinh Đức Giáp, Thị Hồng, Đức Trinh, Đức Chuyên, Thị Thêm

38 Ngô Đức Trường sinh Đức Trường
39 Ngô Đức Trường sinh Thị Hường,Thị Đường,Đức Dương,Đức Cảnh,Đức Khanh,
Thị Thu

37 Ngô Văn Huề tức Ngô Đức Đường sinh Văn Tuề, Thị Phúc ,Đức Lộc,
Đức Hùng
38 Ngô Đức Lộc sinh Đức Yên, Thị Tịnh,Đức Song,Đức Hào,Đức Thao,ĐứcBằng
38 Ngô Đức Hùng sinh Đức Dũng, Thị Thanh

37 Ngô Văn Câu tức Ngô Đức Tài, sinh Thị Tài, Thị Em

36 Ngô Văn Quý sinh Thị Dạnh,Đức Tiến,Đức Tửu,Đức Phướng,Đức Dịnh
37 Ngô Đức Tiến sinh Đức Tiến , Đức Hoá
38 Ngô Đức Hoá Bà cả sinh Đức Cung, bà thứ sinh Thị Hạnh, Thị Khánh, T.Thành
39 Ngô Đức Cung sinh Thị Hải, Thị Lý, Thị Thuyết, Đức Thắng, Đức Lợi, Đức Hoài

33 Ngô Trọng Hợp sinh Trọng Các, Trọng Thích

34 Ngô Trọng Các sinh Trọng Lôi, Trọng Bảo (vt)
35 Ngô Trọng Lôi sinh Trọng Tào, Trọng Thước
36 Ngô Trọng Tào sinh Trọng Giác, Trọng Tiếu, Trọng Kiêu, Thị Xen

37 Ngô Trọng Giác sinh Đức Xuốn, Đức Xuôn

38 Ngô Đức Xuốn sinh Đức Hoè, Thị Em, Thị Thực
39 Ngô Đức Hoè sinh Đức Hoà,Thị Thuận, Đức Cảnh, Thị Thanh, Thị Danh,
Thị Canh,Đức Cung, Thị Kính

38 Ngô Đức Xuôn sinh Thị Liên (Ls.), Thị Tuyết, Thị Hà

37 Ngô Trọng Tiếu sinh Đức Nuôi, Đức Ba, Đức Nghĩa

38 Ngô Đức Nuôi sinh Thị Xuân, Thị Xuyên, Đức Quyến, Thị Nhâm, Thị Nhuyên
39 Ngô Đức Quyến sinh Thị Soa, Thị Mai, Thị Thái, Thị Thương, Thị Thật

38 Ngô Đức Ba sinh Đức Châu, Thị Lựu,Đức Thạch,Đức Quang,Đức Vinh,
Thị Thị nh, Thị Bình, Đức Công

39 Ngô Đức Châu sinh Thị Niềm,Thị Thắng, Thị Thanh,Đức Hùng, Đức Cường
39 Ngô Đức Thạch sinh Thị Thắm, Thị Tình, Thị Duyên, Đức Trọng, Thị Thêm
39 Ngô Đức Quang sinh Thị Hoa,Đức Đại, Thị Thoả, Thị Bé
39 Ngô Đức Vinh sinh Đức Linh, Đức Nghiêm, Thị Trang

38 Ngô Đức Nghĩa sinh Đức Sỹ,Thị Nhị,Đức Đường,Thị Luyện, Thị Khuyên, Thị Liên,Thị Hồng, Đức Hoan, Đức Mười, Đức Khanh, Thị Hiền

39 Ngô Đức Sỹ sinh Thị Sen, Thị Soa, Đức Khoa
39 Ngô Đức Đường sinh bốn gái
39 Ngô Đức Hoan sinh Đức Hải, Đức Hưng

37 Ngô Trọng Kiêu tức ông Cháu Chíp, sinh Thị Cháu, Đức Hai, Đức Ba, Thị Tư, Thị
Địu, Đức Năm

38 Ngô Đức Hai sinh Đức Duyện, Đức Biên, Thị Diên, Thị Doan,Đức Loan,
Đức Hồng, Thị Hương

39 Ngô Đức Duyện sinh Đức Sơn,Đức Giang,Đức Dung,Thị Diệu,Đức Hiếu, T.Huyền
39 Ngô Đức Biên sinh Đức Tuấn, Thị Oanh, Thị Hiệp, Đức Hiến
39 Ngô Đức Loan sinh Thị Phượng, Đức Hùng, Thị Ngân, Đức Trung
39 Ngô Đức Hồng sinh Thị Trinh

38 Ngô Đức Ba sinh Đức Nhung (Ls.), Thị Trầm, Đức Ngọc, Thị Hường
39 Ngô Đức Ngọc sinh Thị Nguyệt, Đức Chiến, Thị Phương, Thị Lan, Đức Thắng

38 Ngô Đức Năm sinh Thị Hoa, Thị Hồng, Đức Long, Đức Châu, Thị Thanh, Thị
Chương, Thị Hào, Đức Lương, Thị Đào

39 Ngô Đức Châu sinh Đức Vinh,Thị Phương Thị Bình,Thị Minh,Đức Thắng,ĐứcLợi
39 Ngô Đức Lương sinh Thị Liên, Thị Lan

36 Ngô Trọng Thước sinh Đức Xí
37 Ngô Đức Xí sinh Thị Hoe, Thị Lý, Đức Nguyên, Đức Tý

38 Ngô Đức Nguyên sinh Đức Hiếu, Thị Thảo, Đức Tuấn
38 Ngô Đức Tý sinh Thị Thuý, Đức Sơn, Thị Bình, Đức An, Đức Toàn
34 Ngô Trọng Thích sinh Trọng Ngân
35 Ngô Trọng Ngân sinh Trọng Ất, Trọng Thính
36 Ngô Trọng Ất sinh Đức Lành,Đức Thiu,Thị Nhờn,Thị Thư,Thị Enh,Trọng Kinh

37 Ngô Đức Lành sinh Thị Cháu, Đức Lường
38 Ngô Đức Lường sinh Đức Cương, Thị Nhì, Thị Cúc, Thị Sáu, Đức Biên, Thị Diệu

39 Ngô Đức Cương sinh Đức Tùng, Thị Nết, Đức Năng, Đức Hội, Đức Lý
39 Ngô Đức Biên sinh Đức Tuấn, Thị Mai

37 Ngô Đức Thiu sinh Đức Thao, Thị Em
38 Ngô Đức Thao sinh Đức Thảo

37 Ngô Trọng Kinh sinh Đức Bường, Thị Yêm
38 Ngô Đức Bường Ls,sinh Đức Cường, Thị Liên, Thị Hương
39 Ngô Đức Cường sinh Đức Dũng, Đức Sỹ

Phái 3 Tiểu phái 2 Chi IX

34 Ngô Phúc Hồi Bà Võ Thị Tài, sinh Đức Phải, Đức Liên, Đức Phú, Đức Thắng,
(Hoằng) Đức Thấu, Thị Bồ, Thị Kỷ

35 Ngô Đức Phải Bà Nguyễn Thị Thuật, sinh Đức Kỵ, Đức Thường, Đức Son, Thị
Toan, Thị Khôi

36 Ngô Đức Kỵ Bà Võ T.Đông, bà thứ Phạm Thị Chuỳ và Hà Thị Sương, sinh Đức
Chước, Thị Phước, Đức Ba, Đức Bốn
37 Ngô Đức Chước Bà Phạm Thị Khuê sinh Đức Hiền,Đức Hựu, Đức Diễm,
Đức Thùy,Đức Lục, Thị Gọn, Thị Em

38 Ngô Đức Hựu Ls,Bà Phạm Thị Xuân, sinh Đức Ái, Đức Vân, Thị Thân
39 Ngô Đức Ái Bà Phạm Thị Lệ,sinh Đức Nghĩa Đức Quân, ĐứcTạo, Thị Nhân

38 Ngô Đức Thuỳ Bà Lê Thị Liên, sinhĐức Liên,Đức Hải,Đức Trung(Đh), Thị Mai,
Thị Huệ, Thị Thảo
38 Ngô Đức Lục Ls,Bà Võ Thị Em, sinh Đức Tâm

37 Ngô Đức Ba Bà Võ Thị Lựu ,sinh Thị Biện, Đức Vọng
38 Ngô Đức Vọng Bà Võ Thị Thỉ, sinh Đức Mạo,Đức Tý,Đức Luận, Thị Xuân, Thị
Khanh, Thị Hanh, Thị Bình, Thị Nghĩa

39 Ngô Đức Mạo Bà Phạm Thị Hân, sinh Đức Đạo,Đức Công,Đức Hảo, Thị Hồng
39 Ngô Đức Tý Đh,Bà Nguyễn Thị Luân, sinh Đức Bá, Thị Nguyệt

37 Ngô Đức Bốn Bà Nguyễn Thị Tư, sinh Đức Đoài,Đức Lập,Đức Việt,Đức Cư,
Đức Thuận, Đức Bút, Thị Huệ, Thị Lan

38 Ngô Đức Đoài Bà Phạm Thị Em,sinh Đức Duyên,Đức Khoa,Thị Cháu,Đức Linh,
Đức Minh, Thị Huyên

39 Ngô Đức Linh Bà Phạm Thị Hoa, sinh Đức Trung, Thị Thuý, Thị Thanh, T.Thảo
39 Ngô Đức Duyên Bà Phạm Thị Bình, sinh Đức Hiếu, Đức Hoà, Thị Hoài

38 Ngô Đức Lập Bà Nguyễn Thị Cháu, sinh Đức Tiến, Đức Bảo, Đức Bích,
Đức Xuân, Đức Ngân
39 Ngô Đức Tiến Bà Nguyễn Thị Huyền, sinh Đức Quý

38 Ngô Đức Việt Bà Nguyễn Thị Chiu,sinh Đức Hoà,Đức Dương,Thị Việt,Thị Hải,
Thị Thuỷ

36 Ngô Đức Son Bà Nguyễn Thị Sỹ, sinh Đức Thước, Thị Em
37 Ngô Đức Thước sinh Đức Thông, Đức Trâm, Đức Diệu, Thị Cảnh

38 Ngô Đức Thông Bà Phan Thị Vân,bà thứ Võ Thị Em, sinh Đức Chất,Đức Thảo, Thị
Sen, Thị Tâm, Thị Tứ, Thị Hiền, Đức Cần , Thị Thường
39 Ngô Đức Thảo Bà Võ Thị Thuỷ, sinh Đức Thành, Thị Thuý

38 Ngô Đức Trâm Bà Võ Thị Nuôi, sinh Đức Tâm,Đức Minh,Đức Anh,Đức Hùng,
Đức Liệu, Thị Thanh, Thị Vân

39 Ngô Đức Tâm Bà Trần Thị Bông, sinh Ngô Bính, Đức Quế, Thị Huệ, Thị Nhâm
39 Ngô Đức Minh Bà Võ Thị Tý, sinh Thị An, Thị Linh
39 Ngô Đức Anh Bà Bùi Thị Thanh ,sinh Thị Kim
39 Ngô Đức Liệu Bà Võ Thị Hòa sinh Đức Vinh,Đức Danh,Đức Huân

38 Ngô Đức Diệu Bà Nguyễn Thị Huyền, sinh Đức Chiến, Đức Thắng, Đức Lợi,
Đức Lộc, Đức Tới, Đức Thống, Đức Xanh
39 Ngô Đức Chiến Bà Phạm Thị Nuôi, sinh Đức Hiệp, Đức Định, Thị Huế
39 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Hường, sinh Đức Đại, Thị Lý

36 Ngô Đức Thường Bà Phạm Thị Cơ, sinh Đức Nhị, Đức Mục, Thị Ba, Thị Út
37 Ngô Đức Nhị Bà Võ Thị Viện, sinh Đức Lược, Đức Lịch, Thị Cháu, Thị Thích

38 Ngô Đức Lược Bà Nguyễn Thị Nhỏ, bà thứ Đặng Thị Em, sinh Đức Quang,Đức
Thanh, Thị Bình, Thị Hiển, Thị Thìn, Thị Xuân, Thị Thu

38 Ngô Đức Lịch Bà Lê Thị Lạc, sinh Đức Hồng, Đức Hoan, Đức Tịnh,Đức Vinh,
Thị Hà, Thị Vân

39 Ngô Đức Hoan Bà Hà Thị Dung, sinh Đức Hùng, Đức Hảo, Thị Huyền
39 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Hậu, sinh Đức Bảo

37 Ngô Đức Mục Bà Võ Thị Nhỏ, sinh Đức Sức (Ls.), Thị Ngoéc
35 Ngô Đức Liên Bà Lê Thị Vơn ,sinh Đức Phúc,Đức Trạo,Đức Đoan,Đức Vi,
Thị Thước, Thị Thiển, Thị Giăng

35 Ngô Đức Phú Bà Võ Thị Thu, bà thứ Võ Thị Chín, sinh Thị Đửu, Thị Bốn,
Đức Chức
36 Ngô Đức Chức Bà Phạm Thị Ngoé, sinh Đức Thuyết, Đức Mỹ, Đức Xoan

Phái 3 Tiểu phái 3 Chi IX

34 Ngô Phúc Trực sinh Đức Nghinh, Đức Lương, Đức Thái

35 Ngô Đức Nghinh Bà Nguyễn Thị Trinh, bà Thứ Nguyễn Thị Thuận và Nguyễn Thị
Tiến, sinh Đức Nhật, Đức Thành, Đức Lạc

36 Ngô Đức Nhật Bà Thị Tại, sinh Đức Nhu, Thị Ba, Thị Bốn
37 Ngô Đức Nhu Bà Võ Thị Trinh, sinh Đức Lai, Đức Nghinh,Đức Thỉnh,Thị Tình,
Thị Tiêu

38 Ngô Đức Nghinh Bà Nguyễn Thị Em, bà thứ Bùi Thị Tam ,sinh Đức Tý, Đức Thìn,
Đức Kỷ, Thị Trịnh

39 Ngô Đức Tý Bà Phạm Thị Nhân, sinh Thị Ngân
39 Ngô Đức Thìn Bà Trần Thị Chín, sinh Thị Thương, Thị Thuận, Thị Hoà, Thị Huệ
39 Ngô Đức Kỷ Bà Phạm Thị Đức, sinh Thị Hương

38 Ngô Đức Thỉnh Bà Nguyễn Thị Khuây, sinh Đức Bảy, Đức Vị, Đức Thanh,
Thị Cháu, Thị Em, Thị Thêm, Thị Dần

39 Ngô Đức Bảy Bà Nguyễn Thị Bằng, sinh Đức Danh, Thị Thuý
39 Ngô Đức Vỵ Bà Phạm Thị Trinh, sinh Đức Hùng, Thị Hiến

38 Ngô Đức Lai Bà Võ Thị Duận, sinh Đức Mạnh, Đức Dánh, Thị Mùi
39 Ngô Đức Mạnh Bà Tràn Thị Hoa, sinh Đức Viết, Đức Tương,Thị Nguyệt, Thị Ái
39 Ngô Đức Dánh Bà Võ Thị Hoa, sinh Đức Ngọc

36 Ngô Đức Thành Bà Võ Thị Tư, bà thứ Lương Thị Trì ,sinh Đức Cường,Đức Thọ,
Đức Ích, Thị Dị, Thị Mực

37 Ngô Đức Thọ Bà Lương Thị Trì, sinh Đức Tín, Thị Mực (di cư Thái Lan)
38 Ngô Đức Tín Bà Võ Thị Tứ, sinh Đức Bá, Đức Ngọ (Ls.),Đức Đường,
Đức Quyền,Thị Tín, Thị Soa
39 Ngô Đức Đường Bà Võ Thị Liên, sinh Đức Hùng, Đức Hải, Đức Thắng
39 Ngô Đức Quyền Bà Võ Thị Vinh sinh Ngô Đức , Thị Huyền

37 Ngô Đức Ích Bà Nguyễn Thị Đệ, sinh Đức Tân, Đức Dân, Đức Minh, Thị Ích,
Thị Tan, Thị Ất
38 Ngô Đức Tân Ls,Bà Võ Thị Kính, sinh Đức Nhân, Thị Mão
38 Ngô Đức Dân hai bà, sinh Đức Tiết, Đức Giáp, Thị Diện, Thị Phương, Thị Loan,
Thị Liên
38 Ngô Đức Minh Bà Nguyễn Thị Thức, sinh Đức Hồng, Đức Lĩnh, Đức Biên

37 Ngô Đức Cường Bà Phạm Thị Nhỏ, sinh Đức Hiệu, Đức Thị nh, Đức Chân
38 Ngô Đức Hiệu Bà Võ Thị Xuân, sinh Đức Vấn, Đức Luyện,Đức Cầu,Đức Mận,
Thị Huấn
39 Ngô Đức Vấn Bà Lê Thị Linh, sinh Đức Xuyến

38 Ngô Đức Thịnh sinh Đức Nam, Đức Ninh, Đức Đê
38 Ngô Đức Chân Bà Phạm Thị Hương,sinh Đức Thiết,Thị Thái, Thị Thuỷ, Thị Thám
Thị Hương

36 Ngô Đức Lạc Bà Võ Thị Di, sinh Đức Biên, Đức Khánh
35 Ngô Đức Lương hai bà, sinh Đức Khanh, Đức Mân
36 Ngô Đức Khanh Bà Nguyễn Thị Phong, sinh Đức Đáng, Đức Dong, Thị Đình,
Thị Ngạc
37 Ngô Đức Đáng Bà Võ Thị Khởi, sinh Đức Tựa, Đức Nựa, Thị Dáng, Thị Dưu,
Thị Hựu
38 Ngô Đức Tựa Bà Phạm Thị Cháu, sinh Đức Chinh,Đức Nhàn,Đức Phương,Đức
Tám, Thị Châu, Thị Ninh, Thị Tuyết, Thị Thu
39 Ngô Đức Chinh Bà Nguyễn Thị Hiến,sinh Đức Anh, Đức Tường, Thị Hoa,Hương

38 Ngô Đức Nựa Bà Nguyễn Thị Xuân, sinh Đức Lam, Đức Khánh, Đức Phú,
Thị Tuấn, Thị Hồng

36 Ngô Đức Mân Bà Phạm Thị Ngơi, sinh Đức Phấn
37 Ngô Đức Phấn Bà Trần Thị Lâm, sinh Đức Toán, Thị Thoán, Thị Xoan, Thị Tỵ
38 Ngô Đức Toán Bà Thị Loan, sinh Đức Lập,Đức Sơn,Đức Tùng,Đức Dũng,Đức
Hoàn, Đức Hải, Thị Xoan, Thị Bé
35 Ngô Đức Thái Bà Vũ Thị Uyển, sinh Đức Viên, Đức Hiên, Đức Nguyên,
Đức Tuyên (vt).
36 Ngô Đức Viên Bà Võ Thị Hậu,sinh Đức Lương,Đức Đương (vt),Đức Chương,
Thị Em
37 Ngô Đức Lương ba bà Vương Thị Em,Nguyễn Thị Chín và Phạm Thị Tam,
sinh Đức Lương , Đức Vịnh, Đức Tịnh, Thị Thuần, Thị
Nhuần, Thị Hà
38 Ngô Đức Vịnh Bà Võ Thị Thanh, sinh Đức Trung, Thị Hà
38 Ngô Đức Tịnh Bà Phạm Thị Hương, sinh Đức An

37 Ngô Đức Chương Bà Lê Thị Miên, sinh Đức Trình, Đức Tích,Đức Thích, Thị Thu,
Thị Xuân
38 Ngô Đức Trình Bà Võ Thị Hiên, sinh Đức Quang, Đức Bảo, Thị Cúc, Thị Mai, Thị
Hoa, Thị Hiền, Thị Hồng, Thị Huy
39 Ngô Đức Quang Bà Võ Thị Hoa, sinh Đức Diệu, Thị Trang, Thị Thuỳ Dương

38 Ngô Đức Tích Bà Lê Thị Quýt, sinh Đức Ánh, Đức Thuỷ, Thị Thanh, Thị Cảnh,
Thị Nguyệt
39 Ngô Đức Thuỷ Bà Thị Hồng, sinh Đức Hoàn
36 Ngô Đức Nguyên Bà Võ Thị Nhiên,sinh Đức Vượng,Đức Hướng, Đức Phúc, T.Lai,
T.Đỉnh, T.Thỉnh
37 Ngô Đức Vượng sinh Đức Dũng (Ls.), Đức Hùng

37 Ngô Đức Hướng bà Võ Thị Nhỏ, sinh Đức Toạ, Đức Tịch,Đức Được,Đức Lục,
Đức Quế, Thị Loan, Thị Nhâm
38 Ngô Đức Toạ Bà Nguyễn Thị Tân và bà Thị Quý, sinh Đức Tiệp, Thị Liệu, T.Việt
Thị Tuyết
38 Ngô Đức Tịch Bà Nguyễn Thị Hạnh, sinh Đức Bắc, Đức Tài, Thị Thái
38 Ngô Đức Được Bà Lương Thị Khai, sinh Đức Trung, Thị Hằng, Thị Hiền
38 Ngô Đức Quế Bà Phạm Thị Thuỷ, sinh Thị Hoa

37 Ngô Đức Phúc hai bà, sinh Đức Anh,Đức Thạnh,Thị Lan,Thị Huệ,Thị Lý,Thị Hoa,
Thị Hường, Thị Như
38 Ngô Đức Anh Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh Đức Tuấn, Đức Quang, Thị Kìều
38 Ngô Đức Thạnh Bà Nguyễn Thị Lý, sinh Thị Ngân , Thị Nga, Thị Nguyệt

Phái 3 Tiểu phái 4 Chi IX

34 Ngô Phúc Hào Bà Nguyễn Thị Ven và Đào Thị Trành,sinh Đức Kham,
Đức Thiện,Thị Nền,Thị Nhàn,Thị Nghiêm,Thị Nghị,Đức Luận,
Thị Dị, Thị Út

35 Ngô Đức Kham sinh Thị Sum, Thị Hợp, Thị Do, Đức Ký, Thị Yển

35 Ngô Đức Thiện Bà Vũ Thị Hường, sinh Đức Dượng, Đức Yên, Đức Yển, Thị
Trưởng, Thị Mậu, Thị Chi
36 Ngô Đức Dượng Bà Phan Thị Nhị, sinh Đức Dục, Đức Thắng,Đức Chí,Đức Bình,
Thị Năm
37 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Lai, sinh Dức Bích, Thị Lợi ,Thị Tuất

37 Ngô Đức Chí Bà Phạm Thị Cháu, sinh Đức Đính, Đức Lịnh, Thị Tuyên ,Thị Đôi
Thị Huấn
38 Ngô Đức Đính Bà Võ Thị Nhân, sinh Đức Thăng, Thị Diện, Thị Liệu, Thị Nguyệt,
Thị Long, Thị Huế
38 Ngô Đức Lịnh Bà Võ Thị Lý, sinh Đức Tuân, Đức Tú, Đức Phú
37 Ngô Đức Bình Bà Dương Thị Thuận, sinh Đức Thảo, Thị Hiền, Thị Liêu, Thị
Thương, Đức Phước
36 Ngô Đức Yên Bà Nguyễn Thị Hiểu và bà Võ Thị Liên,sinh Đức Trinh,Đức
Chính,Đức Duyệt,Thị Bình,Đức Hán,Đức Đề,Đức Danh,Đức
Phòng,Thị Thiêm
37 Ngô Đức Trinh Bà Võ Thị Chính, sinh Đức Hiển,Đức Vinh,Đức Tùng, Thị Hiền,
Thị Mạo
38 Ngô Đức Vinh Bà Võ Thị Lam, sinh Đức Trà, Thị Quyên, Thị Huệ
38 Ngô Đức Tùng Bà Nguyễn Thị Hà, sinh Thị Canh, Thị Nga, Thị Mai, Đức Trung

37 Ngô Đức Duyệt Bà Phạm Thị Tịnh, sinh Đức Ngọc, Thị Cháu, Đức Hảo, Đức An
Đức Lự
38 Ngô Đức Ngọc Bà Thị Phương, sinh Đức Hùng, Đức Cường

37 Ngô Đức Đề Đh,Bà Đinh Thị Thuý (Đh), sinh Đức Đạt, Đức Đỉnh

37 Ngô Đức Phòng Bà Trần Thị Luân (Ls.), bà thứ Phạm Thị Dân, sinh Thị Nhung,Đức
Trung

35 Ngô Đức Luận Bà Võ Thị Di, sinh Đức Ngự, Đức Giăng,Đức Trữ, Thị Nữ
36 Ngô Đức Ngự Bà Phạm Thị Khuyên, sinh Đức Bá, Đức Quý, Đức Ngân,
Thị Phượng, Thị Lanh, Thị Vỹ
37 Ngô Đức Quý Bà Nguyễn Thị Tám ,sinh Đức Thuận, Đức Hảo, Thị Huyền

36 Ngô Đức Trữ Bà Võ Thị Tặng, sinh Đức Đạo, Đức Kiên, Đức Kiểu,
Thị Như,Thị Kiều
36 Ngô Đức Giăng Bà Nguyễn Thị Phương ,bà thứ Nguyễn Thị Tăng, sinh Đức Thân,
Đức Nhàn, Thị Thuyết, Thị Minh, Thị Tuyết, Thị Hồng

Phái 3 Tiểu phái 5 Chi IX

34 Ngô Phúc Truỵ Bà Võ Thị Đào, sinh Đức Phương,Đức Gia, Thị Cù, Thị Uông,
Thị Bốn
35 Ngô Đức Phương Bà Phạm Thị Hai, sinh Thị Xuân, Thị Lạc, Thị Hèo

35 Ngô Đức Gia Bà Phan Thị Hoà, sinh Đức Nhập, Đức Thành, Thị Nhỏ, Thị Em
36 Ngô Đức Nhập Bà Phạm Thị Tín, sinh Đức Nhân,Đức Trí, Minh Đức, Đức Tính,
Thị Thiệp, Thị Ngại, Thị Chức, Thị Chát
37 Ngô Đức Nhân Bà Nguyễn Thị Loan,sinh Đức Tiền,Đức Hàn,Đức Văn,Thị Tuyên

37 Ngô Đức Trí Bà Nguyễn Thị Nhường, sinh Đức Vỹ, Thị Tăng, Thị Lý, Thị Lan,
Thị Huệ
37 Ngô Minh Đức Bà Phan Thị Thu sinh Đức Kỷ, Thị Yến

37 Ngô Đức Tính Bà Võ Thị Thư, sinh Thị Thanh.
Phái 4 – Chi IX
30 Ngô Phúc Lâm Khiêm Quận công , tự Hồng Tích, hiệu Thuần Trai ,đỗ
(1724-1784) Tiến sĩ năm 1766.Ông là người biên soạn “Tân kỷ Hoan châu
Ngô thị truyền gia tập lục” còn lại đến ngày nay, làm Hiến sát
sứ Thanh Hóa, Tham chính Sơn Tây, Tri tả Bình phiên, chức Thị
lang. Năm 1778 lên Lạng Sơn cầm đầu phái bộ cùng Trung Quốc
giải quyết vấn đề biên giới. Khi về nhiễm bệnh vẫn phải
đi Thanh Hóa.Có chỉ xuống đi Tham trấn Thuận Hóa, bệnh trầm
trọng phải về kinh điều trị, từ trần, tặng Khiêm Quận công, mộ
táng ở cồn Thịnh Quang.
Ông có hai bà sinh Phúc Lương ( lúc còn trẻ cầm quân đi đánh
ở Rú Bầng tử trận chưa vợ ), Phúc Trường.

31 Ngô Phúc Trường sinh Phúc Chinh, Ngô Phùng

32 Ngô Phúc Chinh Cử nhân, làm Tri huyện Gia Bình, sinh Cố Nhu
33 Ngô.. .(cố Nhu) sinh Ngô Phái, Ngô Hồ, Ngô Tuân, Thị Nhu
34 Ngô Phái sinh Thị Ngoéc, Thị Tiếu, Thị Tính, Thị Tình
34 Ngô Tuân sinh Thị Quý, Thị Hợi, T.Đa,Đức Miện (Ls.),Đức Phú,Đức Tân
35 Ngô Đức Phú sinh Thị Quỳnh Anh,Thị Thu Trang, và một trai.

32 Ngô Phùng Cử nhân, Giáo thụ Bắc Ninh, Toản tu Quốc sử quán,thăng
(1805-1863) Quang Lộc tự Thiếu khanh(tòng tứ phẩm)
sinh : -Ngô Huệ Liên,
-bà cụ Quản, Lạc thiện sinh Lê Văn Luyện ,
-bà cụ Nguỵ ,Xuân Viên sinh Ngụy Hiếu Tích,
-bà cụ Bang Kiều ,sinh Võ Liêm Sơn ,
-bà Tú Nguỵ Giang, sinh Ngô Bồi,Ngô Tương.

33 Ngô Huệ Liên (1840-1912),Tham tri Bộ Lễ -Tòng nhị phẩm
Có ba bà, bà cả sinh Ngô Đức Kế, Ngô Đức Thiệu, Ngô Đức Vóc
(chết trẻ).
Bà hai sinh Ngô Đức Diễn, Thị Ninh;bà thứ ba Nguyễn thị Viễn
sinh Thị Viện
34 Ngô Đức Kế (1878-1929)Tiến sỹ Mậu tuất 1901,Việt Nam Chí sỹ, hiệu Tập Xuyên.
sinh Ngô Đức Trì, Thị Mẫn, Thị Khiêm
35 Ngô Đức Trì (1902- 1941) Bà Lê Thị Sáu sinh Thị Hằng, Ngô Đức Thọ
36 Ngô Đức Thọ PGS-Ts,Bà Nguyễn Thị Thọ, sinh Thị Kim Chi, Thị Mai Hương,
Đức Anh.

34 Ngô Đức Thiệu sinh Thị Chương, Ngô Đức Đệ, Ngô Đức Tốn (vt)
35 Ngô Đức Đệ sinh 1905,bà người Điện bàn
sinh Đức Trung (Ls.),Đức Hiếu, Đức Hoà, Thị Thảo, Thị Việt Lan
36 Ngô Đức Hiếu sinh Đức Dũng, Thị Bích Ngọc

33 Ngô Bồi Đỗ đầu xứ ,sinh Ngô Thiện
34 Ngô Thiện sinh Ngô Cơ
35 Ngô Cơ sinh Ngô Mưu, Ngô Đức Hảo

36 Ngô Mưu sinh Đức Hùng, Đức Dũng, Thị Trâm, Thị Oanh
37 Ngô Đức Dũng Bà Nguyễn Thị Hạnh ,sinh Đức….

36 Ngô Đức Hảo Bà Trần Thị Hà, sinh Đức Thanh, Đức Tịnh, Thị Nga, Thị Tuyết,
Thị Xuyến, Thị Sáu
33 Ngô Tương sinh Ngô Ảnh, Ngô Xán
34 Ngô Ảnh sinh Thị Chắt, Đức Quảng, Đức Tri, Đức Đường, Đức Tân Ks
35 Ngô Đức Quảng đông con cháu

34 Ngô Xán sinh Ngô Chân, Ngô Quang, Ngô Toàn
35 Ngô Chân sinh Đức Sơn, Đức Hồng, Đức Phúc, Thị Lý, Thị Cẩm
36 Ngô Đức Hồng Bà Thị An, sinh Đức Mậm

Chi X Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều
Huyện Lệ Thủy,tỉnh Quảng Bình

28 Ngô Phúc Triều Khanh tương Hầu ,con trai thứ 10 Tào Quận công ,Trấn thủ bến
Trọng Đồng Hới ,vợ con ở lại không về, sinh ba con , con trưởng
trở về Trảo Nha, truyền đến đời 33 Ngô Phúc Duyện.
Dòng Trưởng Chi X

33 Ngô Phúc Duyện sinh Ngô Viến,
34 Ngô Viến có vợ và con trai nhưng đã mất vào những năm 80.
Dòng thứ 2 Chi X

Dòng Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều về sau theo đạo Thiên chúa, truyền đến đời 33 là
Ngô Đình Khả, làm Thượng thư Phụ Đạo Đại Thần triều Đồng Khánh nhà Nguyễn. Sau ngày vua
Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt , phong trào Cần Vương Phan đình Phùng tan rã, thực dân
Pháp đưa ra hai bản án đày vua Hàm Nghi và quật mộ Phan đình Phùng. Ngô Đình Khả
trong triều đình Nam triều không ký bản án đày vua, Nguyễn Hữu Bài không ký bản án
quật mộ. Đương thời có câu “Đày vua không Khả- quật mả không Bài”.

DÒNG THỨ HAI CHI X

Dòng Khanh Tương Hầu Ngô Phúc Triều về sau theo đạo Thiên chúa, truyền đến đời 33

33  Ngô Đình Niệm               (có bản chép Ngô Đình Dinh), sinh Ngô Đình Khả

34    Ngô Đình Khả               (1857–1923),Thượng thư, Phụ Đạo đại thần triều Đồng Khánh,

Phụ chánh đại thần,sinh:

Ngô Đình Khôi (1885-1945),Tổng đốc Quảng Nam

Ngô Đình Thị Giao tức bà Thừa Tùng ,

Ngô Đình Thục (1897-1984),

Ngô Đình Diệm(1901-1963),

Ngô Đình Thị Hiệp (1903-2005) tức bà Nguyễn Văn Ấm thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận ,

Ngô Đình Thị Hoàng tức bà Cả Lễ (Nguyễn Văn Lễ),

Ngô Đình Nhu(1911-1963),

Ngô Đình Cẩn (1912-1964),

Ngô Đình Luyện (1914-1990).

Dòng thứ 3 Chi X
Dòng thứ 3 ở lại Lệ Thủy, truyền đến nay đời 36, trưởng phái là Ngô Thôn

36 Ngô Thôn sinh Ngô Khiêm là trưởng phái hiện nay ở Đội 4 hợp tác xã
Phổ Trạch xã Mỹ Thủy huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, cả phái có
trên 20 hộ .
Chưa có thế thứ.
NHÂN VẬT
Ngô Tử Án
Đại thần Tiền Lê,
Con Ngô Xương Sắc, cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều, quê quán Châu Ái,ngày sinh ngày mất không rõ, là tiên tổ 9 đời Hưng Quốc công Ngô Kinh.Ông là Đại thần nhà Tiền Lê,làm Châu mục dưới thời nhà Lý.
Vua Lê Đại Hành chuẩn bị cho cuộc hành quân đánh Chiêm Thành,thấy ông là người có tài về giao thông đường thuỷ,uỷ thác cho ông cầm ba vạn quân đào khúc sông nối liền sông Đáy với sông Hoát,để tránh cửa Thần Phù thường hay có bão tố nguy hiểm.Nạo vét khúc sông nối liền Yên Định với Tĩnh Gia, sông Kênh Son, Kênh Sắt (tục gọi là Kênh nhà Lê) tiếp đến khúc sông ở Hưng Nguyên, thành đường sông nối liền Hoa Lư với cửa biển Nam Giới (tức cửa Sót ở tỉnh Hà Tĩnh).
Lại tiếp lệnh mở con đường bộ từ cửa biển Nam Giới, vượt qua giải Hoành Sơn (Đèo Ngang) vào tận đất Chiêm Thành, tạo thành con đương thuỷ bộ hành quân bình Chiêm Thành.Di tích nạo vét Kênh Son, Kênh Sắt còn lưu lại ngày nay, là một ghế đá trong hang đá ở địa phận xã Quỳnh Lộc huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, gần bờ kênh, chổ tựa lưng có khắc ba chữ “Thuỷ thạch tiên”, trên vách đá có đề bài thơ,trong kháng chiến chống Mỹ, bị bom phá và vì khai thác đá, nên không tìm ra nữa.Các cụ già địa phương vẫn còn nhớ rõ là di tích của cụ Ngô Tử Án.
Sinh Ngô Tử Uy.

Ngô Thế Bang (…-1546)
Thái Bảo Dực Quốc công,
Thụy Chân Tâm,con trai Thanh Quốc Công Ngô Khế.
Tước phong trước niên hiệu Quang Thiệu triều Lê Chiêu Tông (trước năm 1516): Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự, Phụ quốc Thượng Trụ quốc,Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự,Thái Phó, gia Thái Bảo Dực Quốc công,tứ thụy Hiền Đức Thượng sỹ.
Mất 24 tháng 10 năm Bính Ngọ 1546,mộ táng tại xứ Mả Xám,làng Thung Thượng.
Đền thờ sắc phong Dực bảo Trung hưng Đoan Túc Tôn thần.
Họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông cùng các anh Ngô Văn Bính,Ngô Khắc Cung dẫn quân bản bộ về Thanh Hóa, chiếm cứ vùng Yên Định,cùng Lê Ý dấy nghĩa phù Lê. Lê Ý thất bại,ông gia nhập vào quân Nguyễn Kim ở Ai Lao,làm Đô tướng về đánh chiếm huyện Lôi Dương, Ông là người đã có dự kiến cử Ngô Lan đưa Hoàng tử Lê Duy Ninh sang dấu ở đất Lào,phòng sau này có người nối ngôi chính thống nhà Lê.
Bà Chính thất Quốc Phu nhân Lê Thị Ngọc Quyền hiệu Từ hòa Phu nhân,bà kế thất Nguyễn Thị Từ Ý,hiệu Ôn hòa Phu nhân.
Sinh:
Vũ Quận công Ngô Bạt tự Cảnh Cao,
Diễn giang Hầu Ngô Tùng,
Tây giang Hầu Ngô Chi tự Bình.
Ngô Phúc Bẩm
Họ Ngô Tam Đa huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh ,con trưởng Ngô Phúc Tông dòng Vỵ Quận công, đời thứ 31,họ Ngô Trảo Nha Thạch Hà,dòng Ngô Nước,có tám anh em trai và ba em gái.
Ngô Phúc Tông là con thứ Đô Chỉ huy sứ Ngô Phúc Cẩm,bốn anh em đều tước Hầu.
Ông Ngô Phúc Bẩm có ba con trai, con trưởng ở Tam Đa,con thứ Ngô Khải về ở Lộc Nguyên,thành Thuỷ tổ họ An Lộc huyện Can Lộc ngày nay.

Ngô Đức Bình (1824-1879)
Hòang giáp,
Có tên là Ngô Đức Tư lúc đi thi.Con trai Ngô Đức Hồng Cử nhân Tri huỵện Thọ Chân thuộc phái 4 chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha.Học giỏi nhưng thi hương mấy khóa không đỗ, ở nhà dạy học,tham gia “Bình Tây sát tả”. Năm 1865 triều đình vua Tự Đức mở Ân khoa Nhã sỹ, ai chưa đỗ cử nhân thi hương cũng được dự thí. Ông ứng thí thi hội đỗ, vào thi đình trúng Đệ nhị giáp Đồng tiến sỹ xuất thân ( Hoàng giáp ).Khoa Nhã sỹ này lấy năm người đỗ Nhã sỹ và Đồng Nhã sỹ xuất thân..
Lúc bấy giờ triều đình đang gặp nhiều khó khăn, khắp nơi mất mùa đói kém, dân nghèo nổi dậy tứ tung, ngoài thì quân Pháp vừa chiếm xong Đà Nẵng , đòi nhiều nhượng bộ mới. Đầu đề bài thi chính hỏi : Tình hình như thế nên hoà hay nên đánh. Bài thi của ông xoay quanh bốn chữ “Dương hoà Nhi chiến “(Giả hoà mà đánh ) hợp với chủ trương của đa số trong triều đình bấy giờ nên được đỗ cao. Khi vào diện kiến, vua Tự Đức thấy ông đã nhiều tuổi (lúc này ông đã 42 tuổi) lại có tên là Tư, bèn ra câu đối :
Thập khẩu tâm tư, tư thân tư gia tư phụ mẫu.
Ông ứng khẩu đối :
Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên tạ địa tạ quân vương.
Ý và nghĩa : Chữ thập, chữ khẩu, chữ tâm ba chữ ghép lại thành chữ tư,nghía là lo nhớ,
lo mình, lo nhà, lo cha mẹ.
Vế đối : Chữ thốn, chữ thân, chữ ngôn ghép ba chữ lại thành chữ tạ, nghĩa là tạ ơn,
tạ trời, tạ đất, tạ nhà vua.
Vua Tự Đức phê vào quyển bốn chữ ” Bác nhã lão thành “.
Ông làm quan Tế tửu Quốc tử giám mấy năm,sau đi làm Án sát tỉnh Quảng Bình. Năm Tự Đức kỷ mão1879,ông làm Phó chủ khảo trường thi hương Nam Định, khi trở về Quảng Bình nhiễm bệnh từ trần tại nhiệm sở. Thi hài được an táng tại quê nhà Trảo Nha.
Ông có bốn bà,sinh bảy con trai, bốn con gái, con cháu nội ngoại trai gái ngày nay có gần ngàn, có mấy chục Cử nhân, Kỹ sư, Bác sĩ, Giáo sư,Tiến sĩ. Đích Tằng tôn là Ngô Đức Mậu,nguyên Phó Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam.

Ngô Phúc Bình
Dật võ Hầu,
Con trưởng Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị, cháu nội Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,vào đời 29 chi 9 dòng Ngô Nước Trảo Nha, làm tướng cầm quân, đến thời Trịnh Doanh về nghỉ nghiên cứu đông y, trồng vườn thuốc đặt tên là Lạc thảo viên. Ông là thân sinh Tiến sĩ Khiêm Quận công Ngô Phúc Lâm,Tư lộc Hầu Ngô Phúc Sùng.

Ngô Phúc Bình
Thuỷ tổ họ Ngô Thụy Phương huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây (xưa là huyện Yên Sơn) gốc Trảo Nha dòng Ngô Nước, thiên cư sau ngày quân Tây Sơn vào Thăng Long,sau đổi sang họ Lê Ngô,sinh Lê Ngô Duệ là thân sinh Lê Ngô Cát.

Ngô Đăng Bính
Thuỷ tổ họ Ngô Loan Dã, huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, con thứ Ngô Đăng Khản họ Ngô Hà Linh, cháu nội Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu họ Trảo Nha, thiên cư về Loan Dã vào đời thứ 27.

Ngô Văn Bính (1473-1540 )
Thái Bảo Thuỵ Quận công,
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, quê quán xã Đồng Phang huyện Yên Định (nay là xã Định Hòa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).
Đại thần thời Lê Sơ, đề xướng công cuộc phù Lê diệt Mạc.Thời Lê sơ được phong Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần, Lưu thủ Đông Kinh, kiêm Đề lĩnh Tứ thành Thuỵ Quận công.
Lê Trang Tông lên ngôi (1533),phong Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự Thái Bảo Thuỵ Quận công, tứ thuỵ Trung Nghị Thượng sỹ.
Ông mất ngày 27 tháng 7 năm 1540,hưởng thọ 68 tuổi,mộ táng trên cồn Phác Cá.
Bà Lê Thị Hậu hiệu Từ Ân Quận Phu nhân,mộ táng ở xứ Mả Xý, bà thứ họ Nguyễn, bà thứ ba người Lào.
Sinh năm con trai:
Diễn đức Hầu Ngô Chiểu,
Thanh Quận công Ngô Khê,
An đức Hầu Ngô Thái,
Hoàng giáp Ngô Bật Lạng,
Vĩnh trung Hầu Ngô Hoán,
ngày nay thành nhiều dòng họ ở nhiều tỉnh.
Ngày đầu chuẩn bị công cuộc phò Lê diệt Mạc, trong buổi chuyện trò với Nguyễn Kim ông đã tỏ ra không tin lòng dạ Nguyễn Kim, đưa ra câu chuyện mộng Thiên Đình ” Diệt Mạc này sinh Mạc khác thì sao?”.
Con trai là Ngô Bật Lạng phải chạy trốn ra đất Mạc vì bị hiềm nghi ngoại thích, sau thi đỗ Hội nguyên (Hoàng giáp 1550) làm quan với nhà Mạc.

Ngô Văn Cang
Thuỷ tổ họ Ngô Kế Xuyên huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, con trai trưởng Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu, cháu nội Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, vào ở đây trong thời chiến tranh Trịnh Nguyễn.

Ngô Tử Canh
Đại thần nhà Tiền Lê,
Con trai Ngô Xương Sắc, cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều.
Thời Lê Đại Hành, cùng Từ Mục đi sứ Chiêm Thành bị giam giữ lại mấy năm, sau ngày Lê Đại Hành chiến thắng Chiêm Thành (năm 892) mới được trở về
Có nhiều công giúp nhà Tiền Lê xây dựng nền độc lập mới và mở mang văn hoá. Sau khi chết được lập đền thờ. Dòng dõi thất truyền.

Lê Ngô Cát
Họ Ngô Thụy Phương huyện Chương Mỹ Hà Tây.
Cử nhân mậu thân 1848,Án sát.
Vốn là họ Ngô đổi làm họ Lê Ngô, dòng Vỵ phái Hầu con Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ,vào đời 32.Cha là Lê Ngô Duệ, đỗ cử nhân.
Có bốn con trai và một con gái.

Ngô Phúc Cẩm
Thuận lộc Hầu,
Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ thời Lê trung hưng.
Con trai Diên Quận công,cháu Vỵ Quận công dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,vào đời 29.
Sinh Ngô Phúc Lới,Ngô Phúc Tổng, con cháu thiên cư về xã Quang Lộc cùng huyện, một chi về thôn Yên Lai huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa.
Ngô Phúc Chánh
Lãng phương Hầu,
Con Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Đẩu,cháu đích tôn Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,vào đời 31 họ Ngô Trảo Nha tỉnh Hà Tĩnh.
Quả cảm Tướng quân(Chánh Thất phẩm) Chánh Vệ úy.
Bà Mai Thị Vượng, sinh :
Ngô Phúc Phương Đại tư đồ Hoành Quận công ,
Ngô Phúc Bích,
Ngô Phúc Điền.

Ngô Chiểu
Diễn đức Hầu,
Con trưởng Ngô Phúc Trường, cháu nội Khiêm Quận công Ngô Phúc Lâm, đời thứ 32 chi 9,họ Ngô Trao nha Hà Tĩnh, làm Tri huyện huyện Gia Bình.

Vỵ Quận công
(Không rõ tên), con thứ Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh và bà Lê Thị Đệ .
Bà là Quận chúa họ Trịnh, sinh hai con trai:
Ngô Phúc Diên Diên Quận công,Thủy Tổ họ Ngô Tam Đa nay ở xã Quang Lộc huyện Can Lộc và
Đề đốc Lý Quận công (thất truyền).
Dòng Diên Quận công phân chi họ Ngô An Lộc và họ Ngô Yên Lai.

Ngô Phúc Cơ
Thủy Tổ dòng họ Ngô Thì,Ngô Gia Văn phái.Nguyên có tên là Ngô Sử Hậu (Nậu).
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,sau vụ án Lệ Chi Viên, là một trong sáu người con Ngô Khế phải đổi tên đi lánh ẩn,mà phả cũ gọi là “Cư biệt quán”.Ông về làng Tó xã Tả Thanh Oai ,cho đến nay đã gần 20 đời.

Ngô Khắc Cung (1452-1541)
Thái Phó Nam Quận công,
Con Thái Úy Thanh Quốc công Ngô Khế, quê Đồng Phang huyện Yên Định ( nay là xã Định Hóa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).
Ông sinh năm Nhâm Thân 1452, mất ngày 10 tháng giêng năm Tân Sửu 1541.
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu tham dự triều chính,gia thụ Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc Đại phu ,Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự, Thượng Trụ quốc,gia Thượng Trí,Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,Thái Phó Nam Quận công,thuỵ Sùng Nghị Thượng sỹ.
Làm tướng thời Lê sơ,khi Mạc cướp ngôi nhà Lê, anh em ông đưa quân bản bộ về quê Yên Định lo việc phù Lê diệt Mạc cùng Lê Ý được vài năm. Lê Ý thất bại, anh em ông cùng Nguyễn Kim xây dựng lực lượng phù Lê, sau ngày chiếm lại được huyện Lôi Dương,ông bị bệnh từ trần ngày 10 tháng giêng năm Tân Sửu 1541,thọ 90 tuổi.
Ông là người trung dũng trụ cột của vương triều, trong thì phò thiếu chúa, ngoài lo việc quân cơ, công nghiệp trung hưng anh em ông là người xướng lên trước.
Bà Thái Bình Trường quốc Công chúa Lê Thị Ngọc Phiến, hiệu Bà Dịch Quận Phu nhân. Bà người thôn Dựng Tú, con gái Sấm thọ Hầu Lê Đài (Lê Hùynh), mất ngày 24 tháng 9, mộ ở tang Đào Ao xã Sinh Dược huyện Gia Viễn, gần sơn lăng, có đền thờ trên đỉnh núi (do họ ngoại phụng tự) .
Sinh : Tham đốc Triều an Hầu Ngô Diệp,
Ngô Thị Ngọc Phỉ lấy Dũng Quận công,
Ngô Thị Ngọc Phương lấy Uy Quận công.

Ngô Thị Ngọc Dao (1420 -1496)
Quang thục Hoàng Thái Hậu,
Con gái Chương Khánh Công Ngô Từ, đời thứ 20, Tiệp dư,chị là Ngô Thị Ngọc Thung Cung phi,cả hai đều là vợ Lê Thái Tông.
Vào cung năm 1436, sinh Công chúa Hương Long (chết trẻ) và Lê Tư Thành tức Vua Lê Thánh Tông.
Kỵ ngày 26-3 ( nhuận ), mộ táng ở xã Phụng Công huyện Đức Quang.
Lê Thánh Tông dựng Thuần Mẫu đường thờ tiên tổ bên ngọai (họ Ngô), lại dựng Điện Thừa Hoa để Hoàng Thái Hậu thay áo,sau trở thành nơi thờ Bà, hàng năm hương khói.
Ngày nay đã được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa (tại xã Định Hòa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).

Ngô Đình Diệm (1901-1963)
Thượng thư,
Quê xã Đại Phong huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình.
Con trai Thượng thư Ngô Đình Khả một Đại thần các triều Đồng Khánh,Thành Thái,Duy Tân nhà Nguyễn.
Ngô Đình Khả vốn dòng họ Ngô gốc Trảo Nha (chi 10).Tiên tổ là Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều,con trai thứ 10 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, trấn thủ Bến Trọng ( Thời Lê Trịnh ) vợ con ở lại không về, lập nghiệp ở xã Phổ Trạch huyện Lệ Thủy. Bố Ngô Đình Khả theo Đạo thiên chúa, gặp lúc phong trào “Bình Tây sát tả” Thời vua Tự Đức, ở Phổ Trạch ít người công giáo, sợ bị tàn sát, ông chạy vào xã Đại Phong,nơi có cơ sở công giáo mạnh để được an toàn.
Thuở nhỏ bố làm quan, ông học ở Huế, tốt nghiệp Trường Hậu bổ năm 1920.Ra làm quan ở các tỉnh miền Trung (1923Tri huyện Quảng Điền Thừa Thiên,Tri phủ Hải Lăng Quảng Trị,Ninh Thuận). Năm 1930 lên đến chức Tuần phủ Bình Thuận (Tòng Nhị phẩm). Năm 1932 được cử làm Thượng thư Bộ lại trong Nội các Bảo Đại,Đại thần Viện Cơ mật. Năm 1934 từ chức vì tranh chấp với Phạm Quỳnh và mâu thuẫn với Pháp, gia nhập phe Cường Để. Sau cách mạng tháng 8 ở Đà Lạt cùng em trai là Ngô Đình Nhu. Năm 1950 sang Mỹ. Tháng 7 năm 1954 được Bảo Đại mời về làm Thủ tướng,thay Bửu Lộc. Năm 1955 lên làm Tổng thống Cộng hòa Việt Nam (miền nam Việt Nam).
Ngô Đình Diệm cùng Ngô Đình Nhu bị các thế lực khác do Mỹ dàn dựng chỉ đạo giết chết trong cuộc đảo chính quân sự ngày 1-11-1963.
Mộ phần của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu ở cạnh nhau tại nghĩa trang Lái Thiêu (nghĩa trang nhân dân số 6),không có tên mà chỉ có tên Thánh,và Huynh chỉ Ngô Đình Diệm,Đệ chỉ Ngô Đình Nhu.Mộ phần thân mẫu họ và Ngô Đình Cẩn cũng gần đó.
Ngô Đình Diệm không có vợ con.
Ngô Phúc Diên
Diên Quận công,
Con trai Vỵ Quận công,cháu Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh,đời thứ 28 dòng Ngô Nước Trảo Nha.
Bà là Quận chúa họ Trịnh,sinh :
Ngô Phúc Cẩm Thuận lộc Hầu,
Ngô Phúc Thuận Phó Trung úy Chân Lộc Hầu ,và
Tại bá Hầu Chánh Đội trưởng(không rõ tên).
Thủy Tổ dòng họ Tam Đa, An Lộc, Yên Lai.

Ngô Đức Diễn ( 1898-…)
Con trai Ngô Huệ Liên, em Tiến sỹ Ngô Đức Kế, dòng Ngô Nước Trảo Nha, đời thứ 34. Đỗ Diplome, dạy học ở trường Quốc học Vinh Nghệ An, đồng sáng lập viên Hội Phục Việt,sau đổi Tân Việt cách mệnh Đảng,rồi đổi Đảng Tân Việt,tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương,là Ủy viên Thường vụ, năm 1929 bị Pháp bắt tại Vinh, đưa vào giam ở nhà lao Phủ Thừa (Huế), bị tra tấn, lâm bệnh chết trong nhà tù ,chưa có vợ con.

Ngô Phúc Diễn
Diễn phái Bá,
Con trai Phái trung Hầu, cháu nội Thuyên phái Hầu, đời thứ 31 phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha, sinh Ngô Đức Hồng Cử nhân,có cháu là Hoàng giáp Ngô Đức Bình.

Ngô Phúc Diễn (1770-1838)
Diễn võ Bá,
Tự Pháp Nghĩa,con trai thứ 5 Hòanh Quận công Ngô Phúc Phương và bà Trương Thị
Từ Thiên Á Quận quân,tiểu phái 3 phái trưởng chi 5 đời 33 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh
dòng Ngô Nước, Thủy tổ phái nội thành Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Bốn,con gái Đại vương Nguyễn lang Linh Đường,
Sinh Ngô Phan,Ngô Đào,Ngô Dương,Ngô Uông(vt),Thị Lê,Thị Trần,Thị Ngoan.

Ngô Xuân Diệu (1916-1985)
Nhà thơ,
Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 (ngày 29 tháng Giêng Bính Thìn) ,tại Vạn Gò Bồi,xã Tùng Giản,huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định.Cha là Ngô Xuân Thụ đỗ Tú tài kép Hán học vào làm thầy dạy học ở Bình Định kết duyên với bà Nguyễn Thị Hiệp.
Quê ở Trảo Nha Thạch Hà/nay là huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Là nhà thơ,nhà lý luận và phê bình,con Tú tài Ngô Xuân Thụ, cháu nội Tú tài Ngô Phúc Bổn,vào đời 39, chi 5 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước.Đỗ Tham tá thương chính,từ 1940-1943 làm tại Sở Đoan Mỹ Tho(Tiền Giang)
Sau cách mạng tháng 8 là Đại biểu Quốc hội khoá 1 của tỉnh Hải Dương ( 1946-1960 ),UVBCH Hội Văn Nghệ Việt Nam 1948,UV BCH Hội nhà văn Việt Nam khóa I,II,III.,Viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm nghệ thuật CHDC Đức 1983.
Mất ngày 18-12-1985, không có vợ con.
Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996.
Tác phẩm: Thơ,thơ 1938
Gửi hương cho gió1945
Sáng 1953
Mẹ con 1954
Riêng chung 1960
Tôi giàu đôi mắt 1970
Thanh ca 1980.
v.vv…
Truyện ngắn Phấn thông vàng 1939
Nhiều bút ký,tiểu luận phê bình và dịch thơ nhiều nhà thơ nổi tiếng trên thế giới.

Ngô Nhật Dụ
Đại nho gia,
(Khoảng thế kỷ thứ 8, thời thuộc Đường),con Triệu tổ Ngô Nhật Đại, Tằng tổ Ngô Vương Quyền.
Đại nho gia đầu tiên của họ Ngô Việt Nam, làm Liêu tá trong Phủ Đô hộ thời thuộc Đường.

Lê Ngô Duệ
Họ Lê Ngô Thụy Phương, huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây. Nguyên họ Ngô dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,cháu Vỵ phái Hầu,thời Tây Sơn ra bắc, đổi họ Lê lánh nạn về làng Lang Điền huyện Yên Sơn trấn Sơn Nam,nay là xã Thụy Phương huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây ,thuộc phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha,vào đời 31,sinh Cử nhân Lê Ngô Cát.

Ngô Nhật Đại
Triệu Tổ họ Ngô Việt Nam.
Tiên tổ các đời trước phả cũ không ghi chép,có thể là vào thời kỳ chưa có phả.
Quán Ái Châu (vùng thuộc Thanh Hóa ngày nay), sống vào thời cuối Đường (Bắc thuộc thế kỷ thứ 8).Sinh con trai Ngô Nhật Dụ làm Liêu tá trong phủ Đô hộ, Cao Tổ của Ngô Vương Quyền.
Phả cũ chép:”Quán Ái Châu dĩ nông nghiệp khởi, sinh Ngô Nhật Dụ”.Con cháu dòng dõi đến nay (cuối thế kỷ 20) gần 50 thế hệ,trên 1300 năm, gồm hàng triệu người, hơn hai trăm chi họ lớn nhỏ cư trú trên khắp mọi miền đất nước Việt Nam, ở nước ngoài cũng có hàng vạn người.
Có một thuyết nói rằng: Cụ Ngô Nhật Đại vốn là một Hào trưởng vùng Cửa Sót, châu Phúc Lộc thời thuộc Đường, cùng quê với Mai Thúc Loan, giúp Mai Thúc Loan khởi nghĩa.Sau khi thất bại,Mai Thúc Loan rút vào động Khuất Liêu,Ngô Nhật Đại chạy ra châu Ái ẩn náu,sinh cơ lập nghiệp ở đó.

Ngô Đạm (1880-1953)
Họ Ngô Kế Xuyên xã Bình Trung huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam, vào đời thứ 42. Có tên Nghi Ngô. Con trai Ngô Văn Toản, dòng Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu thuộc chi VII ,gốc Trảo Nha Thạch Hà,tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1897 tham gia phong trào Đông du. Đỗ Tú tài khoa 1905. Năm 1905 tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa thục,1907 tham gia phong trào xin sưu ở Trung kỳ bị bắt,bị kết án tám tháng tù.Năm 1917 tham gia phong trào Duy tân do cụ Thái Phiên vận động, bị thực dân bắt lần thứ 2. Năm 1928-1938 ứng cử Hội đồng quản hạt Quảng Nam,Nghị viên Nghị viện Trung kỳ trong nhóm Phan Thanh chống thuế tỷ lệ, đòi ân xá chính trị phạm, thi hành luật lao động.
Sau Cách mạng tháng 8 làm Hội trưởng Liên Việt huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam.
Sinh Ngô Hoan.

Ngô Phúc Đang
Hàn Quận công,
Đồn trưởng đồn Bố Chính, mất tại nhiệm sở,con trai thứ hai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, Tiên tổ Chi II Thổ Sơn xã Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh (vào đời thứ 28).
Được phong tước Quận công năm Vĩnh Trị thứ 3(1678), phong cùng ngày với Đằng Quận công Ngô Phúc Hạp, Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ (ba anh em trai).
Sinh: Huân cơ Hầu Ngô Phúc Huân,
Trạc võ Hầu Ngô Phúc Kỳ,
Thuật võ Hầu (không rõ tên).

Ngô Phúc Đẩu 1668-1718
Nhuệ võ Hầu,
Con trưởng Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ vào đời 32, dòng trưởng Chi 5 họ Ngô Trảo Nha Thạch Hà ,dòng Ngô Nước.
Thân sinh Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh,ông nội Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương,

Ngô Phúc Điền
Thuỷ tổ họ Ngô Phú Điền xã Hưng Phú huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, con thứ Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hà,cháu Tổng binh Đồng tri Ngô Phúc Hải,dòng Ngô Nước Trảo Nha, ở quê mẹ ở Phú Điền ( vào đời thứ 24 ).

Ngô Phúc Điền
Diên Quận công,
Con Vỵ Quận công dòng Ngô Nước Trảo Nha ( đời thứ 28 ), con cháu thiên cư về làng Tam Đa, nay là xã An Lộc huyện Can Lộc,Thuỷ tổ họ Ngô Tam Đa, phân chi về An Lộc huyện Can Lộc Hà Tĩnh và Yên Lai huyện Nông Cống Thanh Hóa.

Ngô Phúc Điền
Kiêm lộc Hầu,
Cẩm y vệ Thự vệ,Chánh cai đội.
Con trai thứ sáu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn ( đời thứ 28 ), Thuỷ tổ họ Ngô Văn Cử ( Chi 6 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh ), xã Xuân Lộc huyện Can Lộc Hà Tĩnh.
Sinh Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm,Thụy tường Hầu Ngô Phúc Giang.

Ngô Phúc Điền
Chi 5 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh, vào đời thứ 32, con Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh,dòng Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ, thiên cư trở thành Thuỷ tổ họ Ngô làng Nguyệt Ao ( Lai Thạch ).

Ngô Độ
Tùng khê Hầu,
Tên cũ là Ngô Hữu Phái, có bản chép là Ngô Thế Thái.Thụy Trung Mẫn,Thủy Tổ họ Ngô An Mô huyện Triệu Hải tỉnh Quảng Trị,.
Con thứ 10 Thanh Quốc công Ngô Khế. Năm 1558 theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, đóng quân ở Ái Tử, về qua sông Thạch Hãn sinh cơ lập nghiệp, thành dòng họ Ngô An Mô, Tước Quận Công của Vua Lê phong trước khi đi theo giúp Nguyễn Hoàng.
Sinh :Ngô Văn Bài, Ngô Văn Sỹ.
Sau thành bốn chi :
Ngô Văn Cảnh-Ngô Văn Minh-Ngô Văn Lương-Ngô Văn Dũng.
Ngô Thị Ngọc Lâm là con gái dòng họ An Mô.
Có đền thờ,sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù Tôn thần.

Ngô Phúc Giám
Khoát võ Hầu,
Con thứ hai Hoành Quận công Ngô Phúc Phương, họ Trảo Nha thiên cư Yên Viên huyện
Gia Lâm Hà Nội ( quê vợ họ Đinh ) thành một phái của Chi 5 Trảo Nha dòng Ngô Nước.
Bà họ Đinh,hiệu Từ Cung,sinh:Ngô Phúc Long (tức Ông Cả Hiệu),Cụ Trung,Cụ Trùm,
Ngô Phúc Tấn (tức Ông Tú Lương),Cụ Tuần ở Vạn Phúc,Cụ Dơi ở Thanh Trì.

Ngô Phúc Giang
Thuỵ tường Hầu,
Con Kiêm lộc Hầu Ngô Phúc Điền, vào đời 29 chi 6 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước,
cháu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn.
Sinh Chính đạo Công (thất truyền), Pháp minh Công Ngô Phúc Minh.

Ngô Phúc Hải
Tổng binh Đồng tri,
Họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước.Tổng binh Đồng tri ,Trấn thủ trấn Thái Nguyên, con trai Quản Lĩnh Công Ngô Nước họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh, vào đời 22.Có sức khoẻ hơn người, 13 tuổi đã bắt được trộm cướp, hơn 20 tuổi đã đi Trấn thủ Thái Nguyên thời Lê sơ, khi chết được thiên táng, mộ ở chân rú Rum ( Mã Yên Sơn )cũng gọi là rú Thành, ở huyện Hưng Nguyên Nghệ An, đến nay vẫn còn. Con trai là Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hà, cháu là Ngô Phúc Thanh Vĩnh lộc Hầu Trấn thủ trấn Nghệ An và Ngô Phúc Điền Thủy tổ họ Ngô Phú Điền Hưng Nguyên Nghệ An.

Ngô Phúc Hạp
Đằng Quận công,
Con trai thứ ba Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,vào đời 28 họ họ Ngô Trảo Nha dòng
Ngô Nước.
Sau ngày Tào Quận công từ trần(1652),ông là Chân kỳ Hầu mới 25 tuổi,là tướng trẻ có tài,
được Chúa Trịnh giao cầm quân vào đất Chiêm Thành cũ,đánh sau lưng quân Chúa
Nguyễn.Đi quá sâu vào Châu Đốc,vợ con Ông ở lại đó không trở về quê củ Trảo Nha.
Nay thành Thủy tổ họ Ngô ở ấp Châu thới 2,Thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang.

Ngô Phúc Hiển
Tuần phủ Bắc Ninh.
Họ Ngô Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội.
Con trai Ngô Phúc Thước Thiên kỵ Thị vệ Thước võ Bá, cuối Lê trung hưng về ở làng Quan Thổ xã Thổ Quan, nay là phường Thổ Quan, quận Đống Đa Hà Nội.
Đời 32 dòng Ngô Nước Trảo Nha.

Ngô Cảnh Hoàn (1720-1786)
Thu lĩnh Hầu,
Thiên tướng quân thủy Quản lãnh đội Tiền trạch thời Lê Hiển Tôn, tử trận cùng hai con trai trên sông Hồng ở bến Thúy Ái trong khi chỉ huy chiến thuyền ngăn cuộc tiến quân của Nguyễn Huệ vào Thăng Long ( 1786 ). Vợ ba là bà Phan Thị Thuấn tử tiết theo chồng ,được phong Liệt nữ và biển vàng “Trung Liệt Nhất Gia “, có đền thờ ở Thúy Ái Hà Nội và Trảo Nha ,nay thuộc thị trấn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Ông là con trai Cảnh Quận công, cháu Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh.
Ông có ba bà.Bà thứ ba là Liệt nữ Phan Thị Thuấn.
Con trai là Trâm ngọc Hầu Ngô Lượng Lang,những người con trai khác đều chết trận.

Ngô Phúc Hoành
Hoành phố Hầu,
Con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu , vào đời thứ 26 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước , có nhiều con phân tán trở thành thuỷ tổ nhiều chi họ, dòng trưởng ở xã Chỉ Châu, nay là xã Thạch Trị huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Phúc Hộ (1634-1704)
Phượng Quận công,Đô đốc
Con trai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, tiên tổ chi 5 ở Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, phân chi Hà Nội, Hà Tây, Quảng Nam, Nghệ An, Phú Yên.
Năm Vĩnh Trị thứ 3 đời Lê Hy Tôn năm 1678, ba anh em được phong tước Quận công cùng ngày.
Đạo sắc phong nguyên văn chữ Hán, tạm dịch như sau:
“Thuận thiên thừa vận,
Hoàng thượng xuống chế rằng :
Trời sinh anh tài hào kiệt, cốt để phù vận nước,
Vua hiền cầm cân khen thưởng , cốt để chính công lao
Việc tốt nêu gương toả ra khắp cõi
Vũ huân tướng quân thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Phượng lân Hầu Ngô Phúc Hộ, trong ngạch bộ binh, kẻ sỹ vuốt nanh, người tài lỗi lạc,
Gặp lúc Càn Thống tiếm xưng vua, Tiên khảo nhà ngươi quyết tâm đuổi bắt, vừa ngày tang tóc sinh nội biến, Tiên khảo nhà ngươi phò giá tiến công,
Tướng môn tất sinh tướng tài, Võ công liền thăng võ trật
Luyện gang thép vượt khó lập công to,
Cầm cán cân đắn đo sao cho đúng
Vậy cứ công mà thăng quan tước, lấy đó mà sáng tỏ thù lao.
Hiến thân cho nước, chí trung, để dốc lòng làm tròn nghiệp lớn.
Cha ngươi trước đã có công tiềm để, nhà ngươi lại đã phụng thị lâu ngày, đã cầm quân đánh dẹp, nhiều lần lập công to,
Phụng Nguyên soái điển quốc chính,
Cung phụng Đại nguyên soái Chưởng quốc chính, Thượng sư đại phụ Minh khang Thái vương xuống chỉ ra ân, đã được đình thần kiểm nghị, xứng đáng phong tước Quận công,được là Phụ quốc Thượng tướng quân phụ quốc thượng trật Phượng Quận công,
Khâm thử!
Vĩnh Trị năm thứ 3 tháng 11 ngày 19 (1678)”
Ông sinh các con trai:
Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ (phái trưởng),
Tuấn đức Hầu (phái 2)ở phủ Quảng Trạch Quảng Bình,
Vỵ phái Hầu (phái 3) ở huyện Lang Điền, nay là xã Thụy Phương huyện Chương Mỹ Hà Tây,
Thuyên phái Hầu (phái 4) ở Trảo Nha,
Suyên cung Hầu thất truyền.

Ngô Hồng
Phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng Ngô Nước. Con trai Diễn phái Bá, đỗ Cử nhân làm Tri huyện huyện Thọ Chân dưới triều Thiệu Trị(1841-1847),đánh mất ấn, bị cách chức về làng dạy học, sinh Ngô Đức Bình đỗ Hoàng giáp.

Ngô Phúc Huân
Huân cơ Hầu,
Con trưởng Hàn Quận công Ngô Phúc Đang,cháu Thái bảo Tào Quận công
Ngô Phúc Vạn,đời 29 dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh,sinh Long võ Hầu,
Long võ Hầu sinh Thanh vân Hầu,Thanh vân Hầu sinh Đoan thọ Bá.(Đều không rõ tên)

Ngô Cảnh Hựu ( 1520-1596)
Thái bảo,Thế Quận công,
Có tên là Ngô Phúc Trừng (đổi tên vì kỵ huý vua Lê Lê Duy Hữu ), tự Minh Trứ, thuỵ Đôn Hậu phủ quân, con trai Vĩnh lộc Hầu Ngô Phúc Thanh, dòng Ngô Nước Trảo Nha, đời thứ 25. Xếp Nguyên công trong công cuộc Trung hưng nhà Lê .Được mở Quân doanh Bật nghĩa, vào hàng “Luỹ đại công thần dữ quốc đồng hưu”.
Năm quý tỵ 1593 có công trong lúc thu phục Kinh thành, thăng Thiếu bảo, phong Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc. Sau khi Kinh thành đã ổn định, Chúa sai bách quan rước xa giá vua Lê về ngự triều, đại xá thiên hạ, luận công khen thưởng, ông được thăng Thiếu bảo, dự vào hàng 11 người có công đầu,
Phụ Quốc công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thiếu bảo Thế Quận công,gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc Thượng tướng quân,Bật nghĩa Doanh .
Có ba bà:Từ Quang,Diệu Hằng,Trịnh Thị Diệu Minh.
Sinh: Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh,
Ngô Thị Ngọc Nguyên Thứ phi Bình An Vương Trịnh Tùng,
Hòanh phố Hầu Ngô Phúc Hòanh họ Chỉ Châu,
Khang trạch Hầu Ngô Phúc Mai họ Cổ Bái,
Câu kê Hầu họ Thạch Mỹ,
Ngô Đăng Khản họ Hà Linh,
Ngô thuận Tâm họ Trần Vỵ Xuyên.
Trên 70 tuổi, năm 1594, Ông xin về trí sĩ.
Ông mất ngày 25 tháng 5 năm bính thân 1596 thọ 77 tuổi,mộ ở thôn Chi lễ xã Thái Hà.

Ngô Đức Kế (1878-1929)
Tiến sỹ,
Việt Nam Chí sỹ, hiệu Tập Xuyên, con trai Tham tri Ngô Huệ Liên, cháu Cử nhân Ngô Phùng, anh Ngô Đức Diễn, thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha,dòng Ngô Nước.
Ông thông minh từ nhỏ,18 tuổi đỗ Cử nhân, 23 tuổi đỗ Tiến sỹ khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 1901, Ông không ra làm quan, cùng Đặng Nguyên Cẩn , Lê Văn Huân lập Triều dương Thương điếm ở Vinh , làm nơi liên lạc thân sỹ Bắc Trung Nam, vận động cách mạng chống thực dân Pháp, dành độc lập tự do cho đất nước.
Năm 1908 bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo , năm 1921 được trả tự do ,trở về tiếp tục hoạt động cách mạng (xem phần nhân vật đột xuất).
Năm 1929 nhiễm bệnh mất ở Bạch Mai (Hà Nội), mộ táng ở làng Phương Mai Hà Nội, nay đã được cải táng về quê ,đặt trên đồi Nghèn thuộc Thị trấn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Sinh con trai Ngô Đức Trì, con gái Ngô Thị Mận, Ngô Thị Khiêm,có cháu đích tôn là PGS Tiến sỹ Ngô Đức Thọ.

Ngô Khải
Thuỷ tổ họ Ngọ An Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, con trai Ngô Phúc Bẩm, dòng Diên Quận công,vào đời thứ 30. Gốc Trảo Nha dòng Ngô Nước.

Ngô Đăng Khản
Thuỷ tổ họ Ngô xã Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh.Thường gọi là Ngôn,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước. Gặp phải lúc quân Mạc Kính Điển đánh vào Nghệ An, chiếm đóng bờ nam sông Lam hai tháng, Ngô Cảnh Hựu còn cầm quân ở Thanh Hóa, con nhỏ phải chạy lánh nạn, nhân đó thiên cư luôn không trở về. Con cháu ngày nay cư trú khắp các vùng Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, Tuyên Hoá ,Quảng Trạch, Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.

Ngô Phúc Khê
Vinh thái Hầu,
Con thứ Khang trạch Hầu ở Cổ Bái, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, vô tự, có đền thờ ở hai thôn Gia Thiện và Hữu Phường ở Cửa Sót huỵện Thạch Hà Hà Tĩnh (Thờ chung với Phan Quận công), sắc phong Linh phù Tôn thần.

Ngô Khế (1426- 1514)
Thái úy Thanh Quốc công,
Hiệp mưu thuần tín tá lý đồng đức Hoàng tôn Công thần,thăng thụ Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu,gia thụ Đặc tiến khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu, Tham dự triều chính Cố mệnh Đại thần, Đông bình chương Quân quốc trọng sự, Tư đồ Thượng Trụ quốc,Thái uý, gia Thượng Trí, Thanh Quốc công, thuỵ Sùng Thịnh Thượng sỹ, lập đền thờ phong Trác vỹ Thượng đẳng Tôn thần.
Ông là con thứ Dụ vương Ngô Từ,em trai Quang thục Hòang Thái hậu mẹ vua Lê Thánh Tông.
Ngô Khế làm quan trải các triều: Thánh Tông 38 năm,Hiến Tông 7 năm, đến Túc Tông, đều làm Cố mệnh Đại thần. Phụ tá triều Quang Thuận,Hồng Đức,Cảnh Thống đến triều Đoan Khánh, tái tôn lập vua Hồng Thuận.
Ông sinh giờ dần, tháng 9 năm bính ngọ 1426,mất ngày 6 tháng 10 năm giáp tuất 1514.
Bà là Vũ Thị Ngọc Hoàn,hiệu Ôn thục, Thái trường Trường quốc Phu nhân, người xã Chân Trị huyện Chí Linh, mất ngày 6 tháng 10, mộ táng tại thôn Châu Trường xã Ngọc Trường tổng Hải Quật huyện Chí Linh.
Ông có 11 con trai,trở thành Thủy tổ của 11 dòng họ Ngô:
-Ngô Bá Dị, tự Hải Sơn,xã Tam Sơn huyện Đông Ngạn trấn Kinh
Bắc,nay là huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh;
-Ngô Sử Toàn, đổi là Ngô Nguyên, xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong trấn Kinh Bắc,nay thuộc xã Tam Giang,huyện Yên Phong,tỉnh Bắc Giang;-Ngô Sử Hậu, đổi Ngô Phúc Cơ, xã Tả Thanh Oai nay thuộc huyện Thanh Trì,Hà Nội;
-Ngô Công Tín, Tây Quận công, xã Bách Tính huyện Nam Chân Sơn Nam hạ,nay là xã Nam Hồng,huyện Nam Ninh,tỉnh Nam Định;
-Ngô Ngữ, xã Địch Lễ , nay là thôn Địch Lễ xã Nam Vân huyện Nam Ninh,Nam Định;
-Ngô Lợi, đổi tên Ngô Nước, xã Trảo Nha huyện Thạch Hà trấn Nghệ An,nay thuộc xã Đại Lộc và Thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh;
-Ngô Khắc Cung, Thái phó Nam Quận công ở nguyên quán Đồng Phang,nay là xã Định Hòa,huyện Thiệu Yên,tỉnh Thanh Hóa;
-Ngô Văn Bính, Thái bảo Thuỵ Quận công ở nguyên quán Đồng Phang;
-Ngô Thế Bang,Thái bảo Dực Quốc công ở nguyên quán Đồng Phang;
-Ngô Thế Thái, tức Ngô Hữu Phái,còn có tên là Ngô Độ và Ngô Quốc Trinh,Tùng khê Hầu,tước phong Quận công, thiên cư vào An Mô (đi theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa năm 1558);
-Ngô Ngọc Phác,Đốc dự Bá Đốc thiêm Hầu, đổi họ Hoa lấy tên Hoa Phúc Quảng, thuỷ tổ họ Ngô xã La Phù huyện Từ Liêm Hà Nội;
-Sáu người con gái trong đó có Kim hoa Nữ sỹ Ngô Chi Lan vợ Tiến sỹ Phù Thúc Hòanh ở Phù Gia Trang thuộc Phù Lỗ,còn lại đều cư biệt quán.

Lý Thường Kiệt (1019-1105)
Thái úy Việt Quốc công,
Tức Ngô Tuấn, con Ngô An Ngữ,cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều, anh Lý Thường Hiến (Ngô Chương), thuỵ Quang Châu, sinh ở phường Thái Hòa (quận Ba Đình ngày nay) .Giúp trải 3 triều nhà Lý,làm đến chức Thái Uý đứng đầu trăm quan, nhiều công lao an dân, bình Chiêm Thành, ngự Tống.
Suy thành hiệp mưu thủ chính tá lý dực đới Công thần,Thủ Thượng thư lệnh,Khai thủ Nghị đồng Tam ty,Nhập nội Nội Thị tỉnh đô Đô tri Kiểm hiệu,Thái uý kiêm Ngự sử Đại phu,Giao thụ Chư trấn Tiết độ sứ,đồng tráng thủ môn hạ,Bình chương Thượng trụ quốc,Thiên tử nghĩa đệ, Phụ quốc Thượng tướng quân, Việt Quốc công.
Thực ấp 10.000 hộ,thực phong 4000 hộ.
Hiện nay từ đường hương khói ở thôn Bắc Biên xã Ngọc Thuỵ huyện Gia Lâm Hà Nội, chi họ Ngô ở đó phụng tự. Nhân dân nhớ công ơn lập đền thờ ở nhiều nơi. (Xem nhân vật đột xuất ở phần trên).
Được suy tôn Anh hùng dân tộc.

Ngô Kinh (1350-1437)
Thái phó, Thượng Trí tự ,Hưng Quốc công,
Bảo chính Công thần Nhập nội Kiểm điểm Thượng tướng quân Kiến tường Hầu,thăng thụ Thái phó Thượng Trí tự Hưng Quốc công,thụy Dụ Khê Thượng sỹ,lại được ban thụy Trung Hiền Thượng sỹ,Công thần khai quốc triều Hậu Lê, con Ngô Tây và bà Trịnh Thị Kim hiệu Từ Đức Á Quận chúa phu nhân, người xã Đồng Phang huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên tỉnh Thanh Hóa,vị Tiên tổ khai phục dòng họ Ngô ở Thanh Hóa sau nhiều đời luân lạc (xem Nhân vật đột xuất).
Ông mất ngày 27 tháng 7 năm đinh tỵ 1437(Có bản chép 1433),gia phong Quang liệt Đại vương,mộ táng tại làng Thung Thượng,gần lăng Tổ,đông cận mộ Dụ Vương,tây cận đường lớn,nam cận xứ Hối Thị ,bắc cận ruộng dân.
Bà Lê Thị Mợi,húy Mười,còn có tên Quỳnh Hòan,hiệu Du Tâm Quý nương Thắng thiện,là cháu họ Lê Khóang,mất ngày 7 tháng 7 năm thìn,mộ táng ở xứ ngõ Miếu,xã Lâm Hạ huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc.
Ông bà sinh:
-Chương khánh Công Ngô Từ ,Thái úy Diên ý Dụ vương;
-Tả Tướng quân, Diên mỹ Công Ngô Đức ;
-Thận Quận công Ngô Khiêm;
-Đô đốc Thượng Tướng quân Ngô Đam
-và Ngô Thị Ngọc San là vợ Lương Quận công Nguyễn Tín(Thủy tổ dòng họ La Sơn Phu tử).

Ngô Phúc Kỳ
Trạc võ Hầu,
Con thứ Hàn Quận công Ngô Phúc Đang ,cháu Thái bảo Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, đời 29
dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh.
Tự Diên Khánh,Điện tiền Đô kiểm điểm ty Hữu Kiểm điểm,Đại tiến vụ Huân tướng quân Thự vệ sự.
Hai bà, sinh: -Ngô Phúc ở Trảo Nha,
-Dự võ Hầu (không rõ tên) ở Bảo Sơn

Ngô Lượng Lang
Trâm ngọc Hầu,
Con trưởng Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn, cháu Cảnh Quận công, chi 5 họ Ngô Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Ngô Cảnh Hoàn tử trận ở bến Thúy Ái, bà Phan Thị Thuấn tuẫn tiết, ông phân tán vợ con về Sơn Tây, đến Sơn Nam hạ cùng bạn hữu tổ chức lực lượng đánh Tây Sơn báo thù nhà trả nợ nước. Trong một trận đánh không ngang sức, ông bị quân Ngô Văn Sở tiêu diệt trên sông Hồng, ông cũng chết trên dòng sông .Triều Nguyễn ban biển vàng đề bốn chữ ” Trung liệt nhất gia”. Con cháu có nhiều vị phải đi ẩn náu, nên mất liên lạc.

Ngô Phúc Lâm (1722-1784)
Tiến sỹ,Khiêm Quận công,
Tự Hồng Tích, hiệu Thuần Trai,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước, cháu Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị, con Dật võ Hầu Ngô Phúc Bình.
45 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa bính tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27 triều Lê Hiển Tôn 1766, làm Giám sát Ngự sử Lạng Sơn, Đốc đồng Sơn Tây, Hiến sát sứ Thanh Hóa, về làm Tri tả Bình phiên chức Thị lang, rồi lại đi Tham chính Sơn Nam, Trưởng phái bộ đi Lạng Sơn giao thiệp với phái bộ Trung Quốc về việc biên giới, về bị ốm nhưng vẫn phải đi công cán Thanh Hóa. Ở Thanh Hóa được cử đi Thuận Hóa giữ chứcTham trấn, bệnh nặng phải về kinh điều trị, năm 1784 mất ở Thăng Long. Lý Trần Quán chọn đất táng ở cồn Thịnh Quang. Tặng Gia hành Đại phu, Công bộ Hữu Thị lang Khiêm Quận công.
Có hai bà sinh: -Phúc Lương ( lúc còn trẻ cầm quân đi đánh ở Rú Bầng tử trận chưa vợ ),
-Phúc Trường, sinh Ngô Phúc Chinh, Ngô Phùng.
Ông là người viết “Tân kỷ Hoan châu Ngô Thị truyền gia tập lục” vào năm Bính Dần 1746.
Ngô Phúc Lâm theo học Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm ở Tiên Điền (là thân sinh của Nguyễn Khản Tiến sĩ 1760,Nguyễn Du Đại thi hào),cùng học có La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Khi Ông thi đỗ Tiến sỹ, Nguyễn Thiếp làm bài thơ mừng, nguyên văn:

Hạ Thạch Hà Trảo Nha Ngô Tiến sỹ
Kỷ độ Hồng ngư lập tuyết đình
Kim bích lan khứu kiến giao tình
Kỉnh cuồng trợ ngã Kỳ lâm tịch
Tiên thủ vinh quân giáp đệ danh
Tây phủ luỵ truyền quang vũ phục
Nam phương bán bích lạng văn tinh
Giang hồ vị ngãi tiên ưu chí
Hảo tế thương sinh uỷ hưu sinh.
Tạm dịch:
Hồng ngư mấy độ mái tuyết đình
Thềm lan vách quế kết giao tình
Kinh cuồng giúp đệ rừng cài ẩn
Tiến thủ đưa huynh giáp đệ vinh
Tây môn vốn dĩ dòng võ tướng
Trời nam nửa bức rạng văn tinh
Giang hồ chưa thoả lòng ưu ái
Cứu khổn an dân cậy bạn hiền.

Ngô Huệ Liên (1840-1912)
Tham tri Lễ Bộ
Đỗ Cử nhân khoa quý dậu 1873 triều Tự Đức, làm Đốc học Quảng Ngãi, về làm Toản tu Quốc sử quán, 1895 Phó chủ khảo trường thi Hội khoa Ất Mùi Thành Thái 7 , 1900 thăng Quang Lộc tự Khanh,sau thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ , về hưu. Con Ngô Phùng, tằng tôn Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm, thân sinh Tiến sĩ Ngô Đức Kế, Ngô Đức Diễn.Khi Ngô Đức Kế bị thực dân Pháp bắt, ông đang làm quan ở Huế, sợ con mình không chịu nỗi đòn tra tấn, biên thơ khuyên nếu không đủ nghị lực chịu đựng, thì nên tự xử trước, đừng để ô danh tiên tổ. Ngô Đức Kế không nghe theo, cố sức chiu đựng đến cùng, cho đến khi thành án bị đày đi Côn Đảo.

Ngô Phúc Liêu
Hào mỹ Hầu,
Con trai thứ bảy Tào Quận công Ngô Phúc Vạn dòng Ngô Nước Trảo Nha,
Sinh hai con trai: trưởng Ngô Văn Cang thiên cư Quảng Nam, thành Thuỷ tổ họ Ngô Kế Xuyên huyện Thăng Bình ,
con thứ Ngô Phúc Cẩm, làm quan triều Lê, vài đời sau con cháu có người làm chức Thiên kỵ Thị vệ của Lê Chiêu Thống, về ở làng Quan Thổ xã Thổ Quan (nay là phường Thổ Quan quận Đống Đa, Hà Nội) thành thuỷ tổ dòng họ Ngô ở đó.

Ngô Pháp Lượng
Hạo Quận công,
Con thứ Vinh Quận công, cháu Phượng Quận công, chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha,vô tự. Dân hai thôn Nha Kỳ và Gia Lạc thờ ở đền Linh Nha trên núi Nghèn (hiện nay thuộc Thị trấn Can Lộc Hà Tĩnh) làm Phúc thần.

Ngô Phúc Lý
Lý Quận công,
Con Vỵ Quận công ,em Diên Quận công, dòng Ngô Nước Trảo Nha, thất truyền.

Ngô Phúc Mại
Một tên khác của Ngô Phúc Vạn ,Tào Quận công.( Xem Ngô Phúc Vạn).

Ngô Phúc Mại
Khang trạch Hầu,
Con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, dòng Ngô Nước Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô làng Cổ Bái xã Thạch Ngọc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Đình Mân
Tiên Tổ họ Ngô Việt Nam,
Thân sinh Ngô Vương Quyền, hậu duệ Triệu tổ Ngô Nhật Đại, con Hào trưởng Ngô Đình Thực, sinh quán châu Ái (nay là tỉnh Thanh Hóa), chưa rõ ở huyện xã nào.(Có thuyết nói ở Làng Mía tức Thịnh Mỹ huyện Thọ Xuân, nhưng không đủ cứ liệu.) Ông theo Nho học trở thành Đại nho gia, du học vào Cửa Sót, rồi đến quận Đường Lâm, Tiết độ sứ Khúc Thừa Hạo trao cho chức Mục Phong châu. Bà là Phùng Thị Tịnh Phong, con Phùng Hải ,cháu Bố cái Đại vương Phùng Hưng ,ở thôn Cam Lâm quận Đường Lâm, nay là thôn Cam Lâm xã Đường Lâm Thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây.
Sinh hai con trai : Ngô Quyền ( tức Lý Thường Kiệt),
Ngô Tịnh (tức Lý Thường Hiến).

Ngô Mậu
Con ông Ngô Lợi, em ông Ngô Soạn, họ Ngô xã Thạch Mỹ huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh,dòng Ngô Nước Trảo Nha.Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 20 vùng chợ Cồn đói kém, sưu cao thuế nặng , có trên 50 gia đình phải bỏ đất bỏ làng tha phương cầu thực. Gia đình ông Ngô Lợi lưu lạc qua các vùng chợ Chế Đức Thọ, định cư ở xóm Hưng Xá xã Phú Xá huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Ngô Mậu tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Phú Xá, năm 1931 gia nhập Đảng CSĐD. Năm 1941 bị thực dân Pháp bắt kết án 15 năm tù khổ sai đày đi Ban Mê Thuột. Sau Nhật đảo chính Pháp, trở về quê Hưng Nguyên hoạt động, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện, làm Chủ tịch Uỷ ban huyện Hưng Nguyên, Tỉnh uỷ viên Tỉnh đảng bộ Nghệ An. Năm 1951 làm Chủ tịch Uỷ ban tỉnh Hà Tĩnh, rồi đi công tác khác. Năm 1955 làm Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1960 về Bộ Ngoại giao, đi làm Đại sứ tại Mông Cổ, rồi Đại sứ tại Cu Ba, sau về làm Thường vụ Ban cán sự Đảng ngoài nước. Tuổi cao về hưu,mất ở Hà Nội. Bà họ Mạc là cán bộ phụ nữ, sinh Ngô Hoài Lam,Ngô Hồng Hạnh,Ngô Đức Hùng, Ngô Đức Cường đều là Kỹ sư hoặc Tiến sỹ.

Ngô Đức Mậu (1908-1987)
Đích Tằng tôn Hoàng giáp Ngô Đức Bình, con trai Ngô Đức Chánh, đời 36 chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tỉnh.Năm 1925 tốt nghiệp Tiểu học (Primảie), làm thầy giáo ở các huyện Thạch Thành, Hà Trung tỉnh Thanh Hóa, tham gia Tân Việt cách mệnh Đảng(1927) ,vào Đông dương Cộng sản Đảng năm 1930, làm Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa.
Năm 1931 bị thực dân Pháp bắt ở Thanh Hóa, kết án khổ sai chung thân đày đi nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị). Năm 1936 giảm án được trả tự do, về giúp việc các trường tư thục ở Vinh (trường Phan Kiêm Huy, trường Thăng Long). Gặp vụ đình công của công nhân nhà máy Trường Thi, bị Mật thám Pháp bắt lần thứ hai, nhưng không có đủ chứng cớ nên được thả.
Năm 1945 tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Can Lộc, làm Uỷ viên quân sự Uỷ ban lâm thời huyện. Tiếp đó liên tục làm công tác tuyên truyền báo chí ở Hà Tĩnh, ở Liên khu IV.
Sau ngày giải phóng, về Bộ Văn hoá làm Chủ nhiệm Báo ảnh, là Phó Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam.
Bà họ Hà thôn Vịnh Phong cùng xã, sinh Ngô Đức Bào Tiến sỹ, Ngô Đức Trà PGS Tiến sỹ, Ngô Đức Danh Kỹ sư, Ngô Thị Hồng Hà Kỹ sư.

Ngô Công Mênh
Thuỷ tổ chi họ Ngô Công giáo Thổ Hoàng. Lâu ngày thất truyền không biết rõ gốc, đến nay trên 10 đời.
Vốn biết hai anh em Ngô Mông, Ngô Mênh cùng nhau đến Thổ Hoàng thuộc huyện Hương Khê lập nghiệp phát triển dòng họ, ngày nay có phái ở Vũng Tàu Bà Rịa, đều theo công giáo.
Theo gia phả họ Thượng Bồng huyện Hương Sơn, vốn là một dòng con cháu Nghĩa võ Hầu, dòng Ngô Nước Trảo Nha thiên cư vào đời 28-29. Đến đời thứ 30 có bốn anh em trai sống chung với nhau, gặp lúc anh em bất hoà, người anh cả cõng người em út bỏ nhà ra đi cách đó vài xã làm ăn sinh sống ở đất Thổ Hoàng, về sau gia nhập đạo Thiên chúa cho đến nay nên ít đi lại về gốc tổ.
( Xem thế thứ họ Thượng Bồng và họ Thổ Hoàng .)

Ngô Đăng Minh
Án trung Hầu,
Thái giám, con Ngô Đăng Khản họ Hà Linh, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu ở Trảo Nha dòng Ngô Nước, vào đời 27. Năm Chính Hoà thứ 24(1685) có công đi đánh Bồn Man, phong Án trung Hầu. Sau khi chết dân làng Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh lập đền thờ làm Phúc thần, sắc phong Dực Bảo trung hưng Trung đẳng tôn thần. Năm 1995 đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.

Dương Văn Nga
Con gái Dương Tam Kha,cháu Dương Diên Nghệ, lấy Nam Tấn vương Ngô Xương Văn con Ngô Vương Quyền sinh Ngô Nhật Khánh Sứ quân Đường Lâm và một con gái lấy Đinh Liễn. Đinh Bộ Lĩnh bức hàng Nhật Khánh,lấy bà làm vợ phong làm Hoàng Hậu(một trong năm Hòang hậu của Đinh Tiên Hòang), sinh con trai Đinh Toàn(Vệ Vương Tòan).Sau khi Đinh Bộ Lĩnh và con là Đinh Liễn bị đầu độc chết,Đinh đế Toàn lên ngôi, bà là Hòang Thái hậu nhiếp chính,Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn làm Phó vương.Nhân một phiên chầu,Đại tướng quân Phạm Cự Lượng thay mặt ba quân suy tôn Lê Hoàn làm vua, Dương Văn Nga khoác áo Long Cổn vào vai Lê Hoàn, nhường ngôi vua. Lê Hoàn lên làm vua năm 980 lại lấy bà làm vợ, phong làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu ở Kinh đô Hoa Lư (một trong năm Hòang hậu của Lê Hòan-Đại Thắng Minh là tên hiệu trước đây của Đinh Tiên Hòang).Ngày nay còn có đền thờ chung Bà với Đinh Tiên Hoàng ở khu Di tích lịch sử Hoa Lư. Tương truyền cũng đã có thời người ta đưa tượng Bà sang thờ ở đền thờ Lê Đại Hành.

Ngô Phúc Ngạn
Ngạn trung Hầu,
Con thứ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương, thuộc chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng Ngô Nước.Tháng 11 năm 1786 Án Đô Vương Trịnh Bồng (triều vua Lê Chiêu Thống ) chống nhau với quân Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra,Ngạn trung Hầu và em là Thuần trung Hầu (con rế Trịnh Bồng) cùng tham chiến và tử trận,cả hai đều chưa có con.

Ngô Nước
Tên trước là Ngô Lợi, con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, một trong sáu người cư biệt quán đi lánh nạn sau vụ án Lệ Chi Viên. Ông lánh về xã Chỉ Châu, một thời gian sau dời ra ở thôn Thổ Sơn xã Đan Liên huyện Thạch Hà trấn Nghệ An, sau đổi là xã Trảo Nha, nay là xã Đại Lộc và thị trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Thuỷ tổ họ Ngô Trảo Nha, sinh Ngô Phúc Hải làm Tổng binh trấn thủ Thái Nguyên .Được phong tặng Nghệ An Quản lĩnh. Mộ hai ông bà táng ở Dăm nhà quan, thôn Thổ Sơn , ngày nay vẫn còn.
Dòng họ đến nay phát triển đến hàng vạn con cháu, trên 20 đời, Từ đường chính ở Thổ Sơn , nguyên là vườn cũ của ông bà ở nuôi lợn nấu rượu, đến nay đã trên 500 năm, vừa được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá năm 1993.

Ngô Phúc Phái
Phái trung Hầu,
Con Thuyên phái Hầu, sinh Nhiệm phái Hầu, Diễn phái Bá. Là 2 dòng chi 5 phái 4 họ Ngô Trảo Nha, 1 dòng ở Chương Mỹ Hà Tây ( xưa là xã Lang Điền huyện Yên Sơn ) có Lê Ngô Cát, một dòng ở Trảo Nha có cử nhân Ngô Hồng, Hoàng giáp Ngô Đức Bình ( Chú thích: Nhiệm phái Hầu hoặc Vỵ phái Hầu có thể lẫn lộn vì 2 chữ gần giống nhau, hơn nữa chữ Nhiệm kỵ huý viết bỏ nét sổ đứng nên càng giống chữ Vỵ ). Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép Vỵ phái Hầu, phả chi 5 Trảo Nha chép Nhiệm phái Hầu .

Ngô Phúc Phổ
Vân lĩnh Hầu,
Lúc nhỏ tên là Ngô Phúc Bạc, con trai thứ 8 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, vào đời thứ 28, thất truyền trong chiến tranh Trịnh -Nguyễn.Có phả ghi là Nghĩa võ Hầu ,có dòng dõi ngày nay ở huyện Hương Sơn Hà Tĩnh, Thanh Chương Nghệ An, tức là họ Ngô Thượng Bồng và họ Ngô chợ Rạng .
Gần đây lại có họ Ngô Văn ở huyện Tuy Hòa tỉnh Phú Yên nhận là dòng Ngô Phúc Phổ.
(Còn là tồn nghi ).

Ngô Phúc Phổ
Phổ Quận công,
Vào đời 30 dòng Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ họ Ngô Trảo Nha. Con thứ Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, anh Cảnh Quận công, bác Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn. Bà vợ người làng Canh Hoạch, chị ruột bà Dương Thị Hoan mẹ đẻ Trịnh Tông. Khi có người tố giác, vụ án Canh tý 1780 nổ ra, Trịnh Tông bị hạ ngục, hàng chục đại thần bị hại, ông cũng là một trong số đó. Sau ngày Trịnh Tông được Quân Tam phủ lập làm Chúa ( Đoan nam Vương Trịnh Khải 1782), ông được truy tặng tước Đại Vương. Ông chỉ có con gái.

Ngô Phùng(1805-1863)
Tự Nguyên Trọng, tường gọi cụ Thiếu,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha, con Ngô Phúc Trường, cháu Tiến sỹ Ngô Phúc Lâm, em Cử nhân Ngô Phúc Chinh, thân phụ Cử nhân Tham tri Ngô Huệ Liên, ông nội Chí sỹ Tiến sỹ Ngô Đức Kế.
Học giỏi nhưng đến năm 37 tuổi mới đậu Cử nhân khoa Thiệu Trị 1 (1841). Sau khi thi đỗ được ra làm Hậu bổ ở Hà Nội, lĩnh chức Đốc học Bắc Ninh rồi lại điều về Hà Nội. Năm Tự Đức 4 (1851) vua mở cuộc khảo hạch để chọn người sung chức Kinh diên giảng quan, Ngô Phùng được vua phê là “ sảo thông” (khá thông) được điều về kinh bổ chức nói trên. Năm 1853 thăng hàm Trước tác, lĩnh chức Thị độc ở Viện Tập Hiền, chuyên đọc duyệt các bài thơ vịnh sử của vua. Năm Tự Đức 9 (1856) vì hay đau ốm, lại ở quê còn có mẹ già, vua chuẩn cho về làm Giáo thụ ở đạo Hà Tĩnh.Năm thứ 15 (1862) lại có chiếu chỉ triệu về kinh bổ chức Thị độc, thăng hàm Quang lộc tự Thiếu khanh, sung Quốc sử quán Toản tu. Không bao lâu lại đau ốm phải xin nghỉ, rồi qua đời, thọ 59 tuổi .

Ngô Phúc Phương (1710-1804)
Đại tư đồ Hoành Quận công
Huý Túc, Đại tư đồ Hoành Quận công, con Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh, cháu Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Điền, tằng tôn Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, là trưởng chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng dõi sau này truởng là Nhà thơ Ngô Xuân Diệu. Là con rể Chúa Trịnh Cương, lấy Quận chúa Phương Huệ, tặng Ôn dung Công chúa, sinh ra có dị tướng có 36 cái răng, miệng rộng đút lọt nắm tay, 20 tuổi ra Quản quân , 30 tuổi thi võ đỗ Tạo sỹ, là một tướng có tài, nhưng cũng gặp không ít trở lực, bị các nhà Chúa thành kiến.Suốt cả cuộc đời tận tuỵ phụng sự Chúa Trịnh, Chúa chạy chạy với Chúa, Chúa này chết tôn lập Chúa khác, đem cả nhà ra chống Nguyễn Hữu Chỉnh, để mưu bảo vệ ngôi của Chúa,hai con trai là Tướng mang tước Hầu bỏ mình trên chiến trận.
Ngô Văn Sở, Tổng trấn Bắc Thành sai người bảo ông đem gia phả ra đối chiếu nhận họ, ông nói :” Ta với vua tôi người ấy là không đội trời chung “, thoái thác là phả đã bị cháy trong cơn binh lửa. Ngô Văn Sở đành chịu, phải đối chiếu với phả ở Trảo Nha.
Sau khi Trịnh Tông (tức Trịnh Khải )được lập làm Đoan Nam Vương năm 1782,ông được trọng dụng giữ chức Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự,quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội ,năm sau (1783)nhận thêm chức Mật điện Nội sát kiêm Phụ dực Nội điện,con trai là Ngô Phúc Trọng ra quản Tiên ưu đội.
Chiêu Thống triệu,ông không ra giúp chỉ phò một Chúa Trịnh. Ông có năm con trai, hai trai tử trận vô tự, nay còn ba dòng lớn, ở Hà Nội hai và ở quê Trảo Nha một .Mộ táng ở Dăm cửa làng Tôn Tổ ( nay là Tuân ) thuộc huyện Thanh Oai,nay thuộc huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây,hiện đang được tôn tạo thêm sau gần một trăm năm hoang phế.

Ngô Vương Quyền ( 897-944 )
Tiền Ngô Vương
Sinh ở Đường Lâm ngày 12 tháng 3 năm đinh tỵ 897, mất ở Cổ Loa ngày 18 tháng 1 năm giáp thìn 944. Mộ táng trên đồi thôn Cam Lâm quận Đường Lâm nay là xã Đường Lâm Thị xã Sơn Tây, tiền lăng hậu miếu.
Hai cụ thân sinh là Phong châu Mục Ngô Đình Mân và Phùng Thị Tịnh Phong con Phùng Hải, cháu Bố cái Đại vương Phùng Hưng , ông nội là Hào trưởng Ngô Đình Thực ở Ái Châu .
Ngô Quyền là vị Tổ dựng nước Trung đại, mở nền độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam mãi muôn đời về sau, được suy tôn Anh hùng dân tộc. Là một vị tướng tài được chủ tướng Dương Diên Nghệ nhận làm con nuôi, rồi gả con gái Dương Thị Như Ngọc.Đã cùng Dương Diên Nghệ đánh bại quân Nam Hán xâm lược lần thứ nhất (930-931),được bố vợ uỷ quyền trông coi châu Ái.
Năm đinh dậu (937), Kiều Công Tiễn phản bội ,đầu độc chết Dương Diên Nghệ, rồi cấu kết với Nam Hán. Ông dấy binh từ châu Ái ,giết Công Tiễn,đánh bại quân xâm lược Nam Hán do Thái Tử Hoằng Tháo thống lĩnh sang xâm lược lần thứ 2, trên sông Bạch Đằng.
Năm Kỷ Hợi (939) ông xưng Vương, đặt nền móng độc lập tự chủ cho đất nước, định đô ở Cổ Loa , ở ngôi được 6 năm , bị bệnh từ trần, truyền ngôi cho con trưởng Ngô Xương Ngập có cậu là Dương Tam Kha phụ chính.
Phụ lời uỷ thác, Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu, tiếm xưng Bình Vương ( 945-950 ).Năm 950, Ngô Xương Văn lật đổ Bình Vương ,phế làm Trương dương Công, đón anh Xương Ngập về cùng coi việc nước. Các nhà sử học xưa chia kỷ nhà Ngô thành triều đại Tiền Ngô Vương và Hậu Ngô Vương (Thiên sách Vương ,Nam tấn Vương ).
Theo sử và phả ghi chép thì vợ Ông là bà Dương Thị Như Ngọc .Theo thần tích ở đền làngỴên Nhân huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, thờ Bà Dương Phương Lan, nói rằng:Năm 20 tuổi Ngô Quyền kết thành vợ chồng với người con gái huyện Thượng phúc ( nay là Thường Tín ) tên là Dương Phương Lan. Đền làng Ninh xá xã Lệ ninh huyện Kinh môn nay thuộc thành phố Hải Phòng, thờ Vua Bà Càn Lương phu nhân , nói rằng ở đây bà đã đóng trại quân thời tham gia trận đánh Bạch Đằng Giang.
Ngô Vương Quyền có bốn con trai,Ngô Xương Ngập,Ngô Xương Văn do bà Dương Thị Như Ngọc sinh ra, Càn Hưng , Nam Hưng ( thất truyền ) chưa rõ con bà nào.
Tất cả các chi họ Ngô Việt Nam ngày nay đã liên lạc với nhau ( ngoài số chi họ Ngô từ Trung Quốc sang gọi là gốc Trung Quốc, và một số họ Ngô từ họ khác lấy họ Ngô , cải làm họ Ngô vì hoàn cảnh nào đó ) đều là cùng chung huyết thống thuộc dòng dõi Ngô Vương Quyền. Đến nay (1996) đã liên lạc được trên 200 chi họ cư trú trên tất cả các tỉnh thành từ Bắc đến Nam. Phần lớn đã được đưa vào ” Hệ Phả ” họ Ngô Việt Nam, nhân khẩu hàng triệu
người nam và nữ.

Ngô Văn Sở
Đại Tư mã Chấn Quận công,
Danh tướng nhà Tây Sơn, người gốc Trảo Nha, con cháu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, cha ông thiên cư vào Bình Định, trong phả ông có tên là Ngô Văn Tàng,khi ký giấy tờ bang giao lấy tên là Ngô Hồng Chấn.Ông nội là Ngô Mãnh,Đô Thống chế thời Chúa Nguyễn. Ông theo giúp Tây Sơn lập rất nhiều chiến công,lừng danh trong trận đánh đuổi quân Thanh năm Kỷ dậu 1789.
Năm 1787 được cử làm Tham tán Quân vụ cùng Tiết chế Vũ Văn Nhậm ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, đánh chiếm Thăng Long.Khi Vũ Văn Nhậm sinh lòng phản trắc bị Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ giết, Ngô Văn Sở được cử làm Đại tư mã Tổng trấn Bắc thành.
Tháng 11 năm mậu thân 1788, trước sức tấn công của 20 vạn quân Thanh do Tôn Sỹ Nghị thống lãnh tràn sang xâm lược nước ta dưới chiêu bài giúp Lê chiêu Thống, ông nghe theo kế sách của Ngô Thì Nhiệm rút quân về trấn giữ ở núi Tam Điệp, cấp cáo về Phú Xuân. Bắc Bình Vương làm lễ đăng quang lấy niên hiệu Quang Trung năm thứ 1, giao cho ông và Phan Văn Lân đi tiên phong đạo quân chủ lực dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Quang Trung tiến đánh quân Thanh,thắng trận Hạ Hồi, Ngọc Hồi,tiến vào Thăng Long, sau đó tiếp tục trấn thủ Bắc Hà.
Năm canh tuất 1790 phụng mạng cầm đầu phái đoàn 100 người đưa Vua Quang Trung (giả) sang Yên kinh dự lễ Bát tuần Đại thọ vua Thanh Càn Long, khi về được phong Thuỷ sư Đô đốc. Năm 1792 vua Cảnh Thị nh lên ngôi tấn phong chức Đại Đổng lý, tước Chấn Quận công, coi sóc cả việc quân và dân ở Bắc thành ( Tổng trấn Bắc thành kiêm Quản binh dân tài phú).
Lúc bấy giờ ở Phú Xuân Thái sư Bùi Đắc Tuyên lộng quyền,nội chính nHà Tây Sơn rối loạn.Vũ Văn Dũng nghe theo lời Trần Văn Kỷ, phối hợp với Đô đốc Hoà bắt cha con Bùi Đắc Tuyên giam vào ngục,sợ Ngô Văn Sở đem quân về hỏi tội, sai Đô đốc Hải giả chiếu Quang Toản ra Thăng Long sai Bắc thành Hoàng Đệ Nguyễn Quang Thuỳ lừa bắt Ngô Văn Sở đưa về Phú Xuân,thêu dệt thành tội trạng làm phản, bỏ vào cũi dìm xuống sông Hương cho chết (1795).Từ đó con cháu thất tán đổi họ tên, nay chưa liên lạc được.

Ngô Văn Sự
Thuỷ tổ họ Ngô Tây vịnh xã Thạch vịnh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh, dòng Hoành Quận công Ngô Phúc Phương chi 5 họ Ngô Trảo Nha, đến nay 7,8 đời.

Ngô Phúc Tại
Diên Quận công,
Tại bá Hầu, Diên Quận công, cháu Tứ Quận công, con Vy Quận công, sinh ba con trai:Ngô Phúc Cẩm Đô Chỉ huy sứ dòng họ Tam Đa,Ngô Phúc Thuận Phó trung uý Chân Lộc Hầu thất truyền,Ngô Phúc Tại Chánh Đội trưởng Tại bá Hầu cũng thất truyền, chưa rõ con cháu ở đâu, vào đời thứ 29, cuối thế kỷ 17.

Ngô Thụân Tâm
Quê làng Cổ Bái huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh, con Thế Quận công ,em Khang trạch Hầu, sinh Ngô Tất Thắng ra ở thừa tự hai bà cô là Quỳnh Hoa và Quế Hoa Công chúa ở hai thái ấp Vị Xuyên, Cầu Gia huyện Mỹ Lộc Nam Định, nay đã cải làm họ Trần.Hai ông bà sống ở Cổ Bái, mộ táng tại Cổ Bái .Họ Vỵ Xuyên thờ làm Thuỷ tổ.

Ngô Phúc Tân
Đáng Quận công
Con thứ tư Tào Quận côngNgô Phúc Vạn.
Đang tước Khiêm cung Hầu,mới tuổi trên 20,ông cầm quân vào đánh Điện bàn thuộc
trấn Quảng Nam. Bị sa cơ trong chiến đấu,không trở về được,phải ở lại huyện Phù ly,sau chia
thành hai huyện là Phù Mỹ và Phù cáT.Trở thành Thủy tổ chi 4 Bình Định.
Tước Quận công là tước phong tặng sau này.

Ngô Thanh (1911-1969)
Người họ Ngô xã Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh dòng Ngô Nước Trảo Nha, Đảng viên ĐDCSĐ 1930-1931, bị thực dân Pháp bắt đày đi Kon tum với bản án khổ sai chung thân. Sau Nhật đảo chính Pháp,về Hương Khê tham gia lãnh đaọ Tổng khởi nghĩa ở Hương Khê, sau đó vào quân đội.Sau hòa bình chuyển ngành làm Giám đốc Sở lương thực Hà Nội, Thành uỷ viên Đảng bộ Hà Nội.Mất ở Hà Nội năm 1969.

Ngô Phúc Thanh
Thái bảo Vĩnh lộc Hầu ,
Thuỵ Trung Túc phủ quân.Con Thuần trung HầuNgô Phúc Hà , cháu Tổng binhNgô Phúc Hải, tằng tôn Quản Lĩnh công Ngô Nước ,thân sinh Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, vào đời thứ 24 họ Ngô Trảo Nha. Ông làm Trấn thủ trấn Nghệ An 10 năm được mệnh danh “Nam diện Trường thành”
Nghệ An xứ Đô Tổng binh sứ ty Đô tổng binh sứ, tặng phong Thái Bảo.
Mất trước ngày họ Mạc cướp ngôi vua Lê. Mộ táng trên núi Ngũ lão huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Ông sinh Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu.

Ngô Phúc Thạnh
Dự võ Hầu,
Con thứ Trạc võ HầuNgô Phúc Kỳ, cháu nội Hàn Quận côngNgô Phúc Đang, vào đời thứ 29 dòng Ngô Nước Trảo Nha, thuỷ tổ hai chi Bảo Sơn và Tiên lương huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Trung Thận (Tên tự)
Cảnh Quận công,
Con Vinh Quận công, thân sinh Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn vàNgô Phúc Thiện, chi 5 họ Trảo Nha dòng Ngô Nước.

Ngô Bá Thi
Thuỷ tổ họ Ngô Mông lãnh huyện Quế sơn tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, con Khuông lễ BáNgô Phúc Thiện, cháu nội Cảnh Quận công ,thuộc chi 5 Trảo Nha dòng Ngô Nước thiên cư vào thời Tây Sơn ra Bắc.

Ngô Phúc Thiêm (1628-1662)
Nhuận Quận công,
Con trưởng Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, vào đời 28 dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, tự Chân Thể, thuỵ Thận Ý phủ quân.
Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tham đốc thần vũ Tứ vệ, tặng Nam quân Đô
đốc phủ Đô đốc Thiểm sự Nhuận Quận công, Thượng Trụ quốc.
Ông là một tướng kiêu dũng, đã đánh là thắng, không thua trận nào.Năm 13 tuổi được phong tước Nham Quận công,15 tuổi thi trận pháp đỗ đầu thí sinh cả nước, 17 tuổi cầm quân đánh Mạc ở Cao Bằng, 18 tuổi tham gia dẹp nội biến Trịnh Lạc, Trịnh Khâm được phong Đô đốc Phủ Đề đốc.Chúa Trịnh Tráng cho đổi họ Trịnh, thành Trịnh Phúc Thiêm và gả Quận chúa cho.Năm 22 tuổi ly dị Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Mai ,bị biếm, lại bị vu oan tư thông cung phi nên bị hạ ngục,đổi sang họ Phạm, thành Phạm Phúc Thiêm, tước quyền thừa kế hương hoả họ Ngô.
Gặp khi quân Chúa Nguyễn ra đánh và chiếm đóng từ bờ nam sông Lam trở vào sáu bảy năm, Chúa Trịnh Tạc phải xoá tội, điều vào Nghệ An cầm quân dưới trướng Tô Quốc doanh Trịnh Căn.
Ông đem hết mọi hùng tài thao lược ra thi thố, chỉ qua vài trận kịch chiến, đánh tan Quận Hùng, Quận Nhuệ ở núi Ngưu sơn (Nghi xuân), tiến đánh phá quân Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đóng ở Mai sơn (Can Lộc), truy kich quân Chúa Nguyễn đến tận bờ sông Nhật Lễ,thu phục toàn bộ đất đai bị chiếm đóng gần 7 năm.
Sau khi chiến thắng, triều đình luận công,ông được công đầu ,phong Nhuận Quận công ,chức Đề đốc, đóng quân ở huyện nhà, trấn giữ phía nam, lại cho phục hồi họ Ngô, trả lại quyền thừa kế hương hoả.Chưa đầy một năm ông bị bệnh từ trần.
Bà cả là Quận chúa Ngọc Mai,ông ly dị khi chưa có con,bà thứ Lê Thị Điều,tục gọi là
Bà Thượng cũng không có con.
Trong thời kỳ bị biếm ở Thăng Long,ông có bà thiếp họ Nguyễn sinh một con trai.
Bà đã đem con trai về Hải Dương, sinh con đẻ cháu thành chi họ Ngô ở xã Chi Lăng Bắc,
huyện Ninh thanh Hải Hưng (thuộc trấn Hải Dương cũ).
Sau ngày chiến thắng ở bờ nam sông Lam được phục hồi chức tước đóng quân tại huyện
nhà,ông có lấy thêm bà thiếp họ Mai,người làng Hàm Anh (nay thuộc xã Tân Lộc huyện Can Lộc).
Vừa lúc ông từ trần,bà sinh một con trai,sinh sống tại quê Hàm Anh.
Người con trai ấy trở thành Thủy tổ chi họ Ngô Tân Lộc ngày nay.
Dân làng Nghiện hùng, xã Trảo Nha, huyện Can Lộc Hà Tĩnh trọng tài của ông thờ làm Phúc thần.Sắc phong Dực bảo Trung hưng Trung đẳng Tôn thần.

Ngô Phúc Thiện
Khuông lễ Bá
Con trai thứ Cảnh Quận công ,em Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn, chi 5 họ Ngô Trảo Nha. Sa cơ trong khi đánh quân Tây Sơn, rút vào Phú Xuân, cha con bị bắt đưa vào Quảng Nam. Sau con ở lại Mông lãnh Quế sơn, cha trở về quê Trảo Nha.

Ngô Phúc Thụ (1650-1724)
Vinh Quận công,
Con trưởng Phượng Quận côngNgô Phúc Hộ chi 5 họ Ngô Trảo Nha, sinh Nhuệ võ Hầu, Phổ Quận công,Hạo Quận công, Cảnh Quận công, có cháu tằng tôn là Đại tư đồ Hoành Quận công, con cháu ngày nay vào đời thứ 40.

Ngô Phúc Thuần
Thuần trung Hầu,
Con trai Đại tư đồ Hoành Quận công, con rể Án đô Vương Trịnh Bồng, tử trận khi đánh chặn quân Nguyễn Hữu Chỉnh, không có con.

Phan Thị Thuấn
Tiết liệt Phu nhân,
Người làng Nha Kỳ xã Trảo Nha huyện Can Lộc,vợ thứ ba Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn ,tử tiết theo chồng năm 1786.Khỏang năm Chiêu Thống truy xét đến những người tiết nghĩa Bà và Thu lĩnh Hầu đều được dự phong,Triều đình còn hạ lệnh cho dân sở tại lập đền thờ Bà tại thôn Thúy Lĩnh,xã Lĩnh Nam,huyện Thanh Trì Hà Nội.
Năm Tự Đức thứ 12 (1859) được ban cho chữ:”Lê triều tiết liệt phu nhân Phan Thị chi từ”(Đền thờ Phan Thị ,người đàn bà tiết liệt triều nhà Lê),dựng bia ở phía đông đền.Sắc phong Thượng đẳng Tôn thần.(Xem nhân vật đột xuất ở phần trên).

Ngô Phúc Thuận
Chân Lộc Hầu,
Con Diên Quận công, em Đô Chỉ huy sứNgô Phúc Cẩm, anh Tại bá Hầu, vào đời 29 dòng Vỵ Quận công họ Ngô Trảo Nha. Bà Nguyễn Thị Hành (phả cũ khôn ghi con cháu).
Tại bá Hầu và Chân Lộc Hầu đều thất truyền.Ngô Phúc Cẩm là Thuỷ tổ họ Ngô Tam Đa.

Ngô Phúc Thước
Thước võ Bá,
Tiên tổ chi họ Ngô ở phường Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội,chức Thiên kỵ Thị vệ thời Lê Chiêu Thống.Vốn dòng dõiNgô Phúc Liêu ở Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,khi Lê Trịnh sụp đổ, Bắc thành thuộc vế Tây Sơn, ông lánh về làng Quan Thổ xã Thổ Quan, con cháu ngày càng Đông Thành chi họ. Ông sinh con traiNgô Phúc Hiển.

Ngô Phúc Thuyên
Thuyên phái Hầu,
Con thứ tư Phượng Quận côngNgô Phúc Hộ,không rõ tên huý, cháu nội Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, là tiên tổ phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha ở Thị trấn Can Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,phân chi đi Đông thôn huyện Hưng Nguyên Nghệ An, huyện Bình Chánh tỉnh Quảng Bình.

Ngô Phúc Tịnh
Thái bảo Tứ Quận công,
Tự Minh Triết, thuỵ Đức Long phủ quân.Con trưởng Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, cháu Vĩnh lộc HầuNgô Phúc Thanh, dòng Ngô Nước Trảo Nha.Giúp Lê Trịnh có nhiều chiến công đánh Mạc,Trấn thủ Nghệ An, tham dự Nghị sự đường.
Hiệp mưu dương võ Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,
Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Tứ Quận công,gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc.
Thời còn trẻ ở Thanh Hóa, lấy bà Lê Thị Đệ con gái Lê Tướng công người huyện Đông Sơn, có hai con trai là Tào Quận côngNgô Phúc Vạn,Vỵ Quận công và ba con gái.
Sau ngày Lê Trịnh thắng Mạc về Thăng Long,Triết Vương Trịnh Tùng gả Quận chúa Ngọc Mai cho ông.Quận chúa không có con,là con Chúa nên làm Chánh thất

Ngô Phúc Trạch
Con trai Hoành phố Hầu Ngô Hoành, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, dòng Ngô Nước Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô xã Thái Hà Vạn lộc Hà Tĩnh.

Ngô Phúc Trị
Toản võ Hầu,
Tiên tổ chi 9 họ Ngô Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, con trai Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, đời 28 dòng Ngô Nước. Là chi họ có Ngô Đức Kế, Ngô Đức Diễn.
Thị võ ở phủ, trúng cách ra làm Quản quân, dòng dõi Quân thần được phong tước Hầu,
làm Lực sĩ Ty lực sỹ Hiệu uý, sau được thăng Đô chỉ huy sứ ty Chỉ huy Đồng tri,
Thượng Trụ quốc,
sinh Dật võ Hầu Ngô Phúc Bình.

Ngô Phúc Triều
Khanh tương Hầu,
Con trai thứ mười Tào Quận côngNgô Phúc Vạn ở Trảo Nha, Trấn thủ đồn Bến Trọng (Đồng hới),vợ con ở lại đó không về, nay thành thuỷ tổ họ Ngô ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình,một chi ở Phổ Trạch,một dòng theo công giáo vào ở xã Đại Phong ,tức là dòng có Ngô Đình Diệm.Con trưởng ông Ngô Phúc Triều sau trở về Trảo Nha ,qua bốn đời độc đinh đến Ngô Viến đời thứ 34, sinh con trai vô tự.

Ngô Phúc Trinh
Con Hoành phố HầuNgô Phúc Hoành, xã Chi châu huyện Thạch Hà, dòng Ngô Nước họ Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô Cẩm Tiến huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh. Phân một chi ra Yên Hồ huyện Đức Thọ.

Ngô Phúc Trọng
Trọng võ Hầu,
Con trưởng Đại tư đồ Hòanh Quận côngNgô Phúc Phương, chi 5 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước, đỗ Tạo sỹ, làm Quân tả bộ hiệu thời Lê Trịnh. Sau ngày Lê Chiêu Thống chạy(1788), về ở Ninh Sơn, nay là xã Ninh hiệp huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, con cháu về quê Trảo Nha. Ông lấy con gái Trung Quốc công Vũ Tất rất giàu có. Nhà thơ Ngô Xuân Diệu là trưởng chi sau này.

Ngô Truân
Ông bố người họ Ngô xã Mông lãnh huyện Quế sơn, gốc Trảo Nha Hà Tĩnh.Nổi tiếng thần đồng từ nhỏ.
Ông sinh năm quý dậu 1873, thi đỗ Cử nhân năm giáp ngọ 1894,đỗ Phó bảng khoa mậu tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1898). Khoa thi này tỉnh Quảng Nam năm người trúng Đại khoa là Phạm Liệu, Phạm Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân, Dương hiến Tiên. Tổng đốc Quảng Nam thêu lá cờ có năm con chim phượng đón Tân khoa,đương thời gọi là “Ngũ phượng
tổ phi “.
Ông ra làm Tri huyện Hương Sơn, được vài năm bị bệnh từ trần.

Ngô Từ (1370-1453)
Diên ý Dụ vương,
Thái úy ,Thái bảo Chương khánh Công,
Con trưởng Hưng Quốc công Ngô Kinh, phong Bình Ngô Khai quốc Đệ nhất Công thần, Thái úy Bàng khê Hầu,thăng thụ Thái bảo Chương khánh Công, gia phong Bảo chính Công thần, Tả Kim ngô Vệ tướng quân, Chỉ nội Đại Hành khiển Thượng tướng quân, phụ quốc chính, gia Thượng Trí tự, ban thuỵ Bàng Khê Thượng sỹ, gia tặng Dụ vương. Triều Lê Thánh Tông gia tặng Diên ý Dụ vương. Qua các triều đại đều được phong Thượng đẳng Phúc thần.
Triều Gia Long nhà Nguyễn lựa chọn các công thần khai quốc triều Lê được 15 người, trong đó có Dụ Vương Ngô Từ, cho mỗi họ một người được miễn tất cả mọi sai dịch, lo việc phụng sự hương khói.
Ông sinh giờ dần ngày 2 tháng 2 năm canh tuất 1370,mất ngày 8 tháng 3 (nhuận) năm quý dậu 1453, mộ táng ở xứ Lò đó, làng Thung Thượng, gần mộ Tổ Ngô Rô.
Ông có hai bà:
Đinh Thị Ngọc Kế, sinh năm giáp thìn 1364,Kiêm bảo Từ cung Đại Hòang Kiền,hiệu Diệu Thiện phu nhân ,tặng Chính quốc phi Quốc Phu nhân,người xã Đô kha huyện An lão,em Đinh vĩnh Thái,con gái Đinh thế Biểu và bà Trần Thị Ngọc Huy con Trần Tướng công người xã Yên lão huyện Thư trì,mộ táng sau miếu làng Yên lão huyện Thư trì,do Vua Thánh Tông nhà Lê sai thầy chọn đất táng tại đó và lệnh cho dân địa phương phụ tử.
Đinh Thị Ngọc Son,phong Túc Huệ Chiêu cảm Hòang Kiền,hiệu Từ Nhan, Á Quận Phu nhân,con gái Tướng quân Đinh vĩnh Thái,người xã Đô kha huyện An lão.Bà mất ngày 18 tháng 8.Sau này Vua Lê Thánh Tông sai thầy địa lý chọn huyệt tốt táng tại xứ Bạch long sa xã Kỳ La huyện Kỳ Hoa,đền thờ gọi là Điện Hòang kiền.
Ông sinh 11 con trai và 8 con gái:
Ngô Việt Thái bảo Nghĩa Vương ,Chiêu nghĩa Hầu,
Ngô Lộc Mỹ Quận công,
Ngô Hồng Điện bàn Hầu,
Ngô Ký Thái uý Nghĩa Quận công,
Ngô Khế Thái úy Thanh Quốc công,
Ngô Lan Thái bảo Hán Quốc công,
Ngô Nạp Huệ Quốc công ,
Ngô Hộ Đức Quận công,
Ngô Lương Tả Kiểm điểm,
Ngô Hữu Tề Quận công ,
Ngô Nhạn Thái bảo Từ Quốc công,
Ngô Thị Ngọc Liêu Hoa dung Công chúa,lấy Lương Quận công Nguyễn Lương ,
Ngô Thị Ngọc Phúc Á Quận quân,lấy Trịnh Khả, Thái phó Đình thượng Hầu Liệt
Quốc công ,
Ngô Thị Ngọc Đức Á Quận quân,lấy Bùi Ban, Minh Quận công,
Ngô Thị Ngọc Thung Cung phi, vợ Lê Thái Tôn,
Ngô Thị Ngọc Dao Tiệp dư,vợ Lê Thái Tôn,mẹ Lê Thánh Tông,
phong Quang Thục Hòang Thái hậu ,
Ngô Thị Ngọc Lũy Á Quận quân,lấy Tuấn vũ Hầu Lê Ngọc Kiệt,
Ngô Thị Ngọc Vỹ Á Quận quân,lấy Bình giang Hầu Lê Trung,
Ngô Thị Ngọc Hạ Á Quận quân,lấy Lương Quốc công Lê Thụ.

Ngô Phúc Vạn (1577-1652)
Phó tướng,Thái bảo Tào Quận công,
Con Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, anh Vỵ Quận công.Ông có tên khác là Phúc Mại,tự Tử Hán, hiệu Huân Dương chân nhân,sinh giờ dần ngày 20 tháng 5 năm Đinh Sửu, mất 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn(1577-1652).
Là một danh tướng, một trọng thần thời Lê trung hưng, phía bắc dẹp Mạc bắt Mạc Kính Cung, phía nam chống Nguyễn,10 năm Trấn thủ trấn Nghệ An,quân Nguyễn không dám xâm phạm bờ cõi, năm con trai đều trọng trấn mỗi người một nơi. Được mở “Trung nhuệ Quân doanh”, tham gia Nghị sự đường, cuối đời được Chúa Trịnh Tráng uỷ thác cầm Kim sách lên Long trì nhận trăm quan lạy mừng.
Đền và mộ ở Thị trấn Can Lộc Hà Tĩnh, ngày nay đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.
Ông có bảy bà vợ, sinh 25 con trai gái .Chính thất là Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Uyên con gái Trịnh Tùng,em Thanh Đô Vương Trịnh Tráng.Mười con trai, năm người tước Quận công, ba người phong tước cùng một ngày là Ngô Phúc Đang,Ngô Phúc Hạp,Ngô Phúc Hộ (ngày 19 tháng 4 năm Vĩnh Trị thứ 3 -1678) và năm tước Hầu. 15 con gái có hai người vào cung làm vợ Chúa: Ngô Thị Ngọc Phương phong Khắc Noãn, Ngô Thị Ngọc Tôn phong Hoa Dung.
Mười con trai nay thành mười chi họ:
Ngô Phúc Thiêm Đô đốc Nhuận Quận công,chi trưởng;
Ngô Phúc Đang Thiếu Bảo Hàn Quận công;
Ngô Phúc Hạp Đô đốc Đằng Quận công;
Ngô Phúc Tân Đáng Quận công;
Ngô Phúc Hộ Đô đốc Phượng Quận công;
Ngô Phúc Điền Kiêm lộc Hầu;
Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu;
Ngô Phúc Phổ (Bạc)Vân lĩnh Hầu;
Ngô Phúc Trị Toản võ Hầu;
Ngô Phúc Triều Khanh tương Hầu.
Ngô Xương Văn (934-965)
Nam Tấn vương,
Con thứ hai Ngô Vương Quyền.
Năm 945 Dương Tam Kha dành ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập tiếm xưng Bình Vương, khi đó Ngô Xương Văn còn ít tuổi được Dương Tam Kha nhận làm con nuôi trong cung.
Năm 950 ,được Dương Tam Kha cử cùng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi dẫn quân đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở Thái Bình (Sơn Tây ngày nay), nửa đường quay binh về phế Tam Kha làm Trương dương Công, đón anh Xương Ngập về cùng coi việc nước, tôn anh làm Thiên Sách vương,tự mình làm Nam Tấn vương.
Năm 954, Ngô Xương Ngập từ trần,Nam Tấn vương cầm quyền chính.
Năm 965 đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở Thái Bình(thuộc Sơn Tây ngày nay),bị trúng tên độc từ trần.Ngô Xương Xý con trưởng Ngô Xương Ngập kế vị,bị sức ép của các tướng,thế yếu nên rút quân về Bình Kiều tự thủ,trở thành 1 trong 12 Sứ quân.
Ngô Xương Văn có hai bà:
Bà Dương Văn Nga là con gái Dương Tam Kha,cháu Dương Diên Nghệ,sau trở thành Hòang hậu nhà Đinh(vợ Đinh Tiên Hòang sinh Đinh Đế Tòan) và là Hòang hậu nhà Tiền Lê (vợ Lê Hòan), sinh Ngô Nhật Khánh.
Bà Lý Thị Ngọc Dư sinh Ngô Nhật Chung.
Nhật Chung trở thành Đại Điền chủ ở Đỗ động sinh Nhật Minh.
Nhật Khánh sau xưng là An Vương, trở thành một trong 12 Sứ quân.
HỌC VỊ-QUAN TƯỚC
Tổng hợp chung những người họ Ngô ở Việt Nam
(có gốc Trảo Nha)
(Tính đến trước năm 1945)
TƯỚC VƯƠNG

1 Tiền Ngô Vương 5 Ngô Vương Quyền
2 Thiên Sách Vương 6 Ngô Xương Ngập
3 Nam Tấn Vương 6 Ngô Xương Văn
4 Diên ý Dụ Vương 19 Ngô Từ Thái Úy, Chương khánh Công
5 Nghĩa Vương 20 Ngô Việt Thái Bảo,Chiêu nghĩa Hầu
6 Diễn Nghĩa Vương 21 Ngô Tông, Thái Bảo
7 Nhân Nghĩa Vương 21 Ngô Nhân Tổng Thái Bảo,Diễn Quốc công

QUỐC CÔNG

1 Dực Quốc công 21 Ngô Thế Bang Thái Bảo, Tả Đô đốc
2 Diễn Quốc công 21 Ngô Nhân Tổng Thái Bảo,Nhân nghĩa Vương
3 Hán Quốc công 20 Ngô Lan Thái Bảo, Đô Kiểm điểm
4 Hoa Quốc công 20 Ngô Ưng Chưởng Bắc phủ
5 Huệ Quốc công 20 Ngô Nạp Đô Chỉ huy sứ
6 Hưng Quốc công 18 Ngô Kinh Thái Phó
7 Nghị Quốc công 25 Ngô Nhân Trừng (Trầm) Hoàng giáp1580,Thái Úy
8 Sùng Quốc công 20 Ngô Xuyến Họ Ngọc Giả
9 Thanh Quốc công 20 Ngô Khế Thái Úy,Tư đồ,Thái Bảo
đốc
10Từ Quốc công 20 Ngô Nhạn Thái Bảo,Chưởng Bắc phủ
11Uy Quốc công Ngô Liễu Tả Hiệu điểm Dũng lược Hầu
12Vinh Quốc công 21 Ngô Lê Chính Thái Bảo / Họ Phạm Xá
13Vinh Quốc công 29 Ngô Đình Phúc Mậu nghĩa Hầu,
gia phong Thái tể Vinh Quốc công,
tái gia phong Mậu nghĩa Công
14 Việt Quốc công 09 Lý Thường Kiệt Thái Úy,Phụ quốc Thái Phó

TƯỚC CÔNG
Chương khánh Công 19 Ngô Từ Thái Úy
Diên mỹ Công 19 Ngô Đức Tả tướng quân
Mậu nghĩa Công 29 Ngô Đình Phúc Mậu nghĩa Hầu,gia phong Thái tể

QUẬN CÔNG
Cảnh Quận công 30 Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ
Chấn Quận công Ngô Văn Sở Đại tư mã
Diên Quận công 28 Con Vỵ Quận công
Diễn Quận công 21 Ngô Tông Thái Bảo
Đáng Quận công 28 Ngô Phúc Tân Khiêm cung Hầu
Đằng Quận công 28 Ngô Phúc Hạp Đô đốc,Chân kỳ Hầu
Đức Quận công 20 Ngô Hộ Đô đốc
Đức Quận công 20 Ngô Lương Chính thắng Hầu
Hàn Quận công 28 Ngô Phúc Đang Thiếu Bảo
Hạo Quận công 30 Con Vinh Quận công Đô Chỉ huy sứ
Hoành Quận công 32 Ngô Phúc Phương Đại tư đồ,Phương kỳ Hầu,
Tả Đô đốc
Khiêm Quận công 30 Ngô Phúc Lâm Tiến sĩ 1766, Thị lang ,Tham
chính
Lý Quận công 28 Con Vỵ Quận công Đề đốc
Mỹ Quận công 20 Ngô Lộc Tứ vệ Đô đốc,Nhập nội Kiểm
điểm.
Nam Quận công 21 Ngô Khắc Cung Thái Phó,Đông quân Đô đốc phủ
Chưởng Phủ sự
Nghi Quận công 20 Ngô Trầm (Con Ngô Khiêm)
Nghĩa Quận công 22 Ngô Công Tín Thái Bảo,Nghĩa Lộc Vương
Nhuận Quận công 28 Ngô Phúc Thiêm Đô đốc
Phổ Quận công 30 Con Vinh Quận công
Phượng Quận công 28 Ngô Phúc Hộ Đô đốc
Quận công 23 Ngô Phúc Thưởng
Tào Quận công 27 Ngô Phúc Vạn Tả Đô đốc, Trung quân Đô đốc
phủ Thiếu Phó,Phó tướng Thái
bảo,Tào khê Hầu
Tây Quận công 21 Ngô Công Tín
Tề Quận công 20 Ngô Hữu Tham đốc
Thân Quận công 21 Ngô Tây Đô Chỉ huy sứ,Đại Tướng quân
Thận Quận công 19 Ngô Khiêm
Thế Quận công 25 Ngô Cảnh Hựu (Phúc Trừng)Thái Bảo,Thái Phó
Thụy Quận công 21 Ngô Văn Bính Thái Bảo,Tả Đô đốc,Chưởng Phủ
sự
Tứ Quận công 26 Ngô Phúc Tịnh Thái Bảo,Tả Đô đốc
Vinh Quận công 29 Ngô Phúc Thụ
Vỵ Quận công 27 Em Tào Quận công

TƯỚC HẦU

Câu kê Hầu 26 Con Thế Quận công
Chân kỳ Hầu 28 Ngô Phúc Hạp Đằng Quận công
Chân lộc Hầu 29 Ngô Phúc Thuận Phó Trung úy
Chiêu nghĩa Hầu 20 Ngô Việt Thái Bảo,Phong tặng Nghĩa
Vương.
Chính thắng Hầu 20 Ngô Lương Đức Quận công
Dật trung Hầu 31 Ngô Phúc Trường
Dật võ Hầu 29 Ngô Phúc Bình
Dự võ Hầu 30 Con Trạc võ Hầu
Đàm dương Hầu 21 Ngô Tuyên Minh dực Tướng quân
Điện bàn Hầu 20 Ngô Hồng Đô đốc Thân quân,Hữu Hiệu điểm
Đôn mỹ Hầu 20 Ngô Lộc Tứ vệ Đô đốc, Mỹ Quận công
Hào mỹ Hầu 28 Ngô Phúc Liêu
Hoán trung Hầu 24 Ngô Đà Chánh Đội trưởng
Hoành phố Hầu 26 Ngô Phúc Hoành
Huân cơ Hầu 29 Ngô Phúc Huân
Khang trạch Hầu 26 Ngô Phúc Mai (Mai Trai)Đô Chỉ huy sứ
Khanh tương Hầu 28 Ngô Phúc Triều
Khiêm cung Hầu 28 Ngô Phúc Tân Đáng Quận công
Khóat võ Hầu 33 Ngô Phúc Giám
Kiêm lộc Hầu 28 Ngô Phúc Điền Cấm y vệ Thự vệ,Chánh Cai đội
Kiên thọ Hầu 27 Ngô Phúc Tiến Tả Thị lang Bộ lễ, Đô Ngự sử
Kiến tường Hầu 17 Ngô Tây Hổ bôn vệ Thượng Tướng quân
Lãng phương Hầu 31 Ngô Phúc Chánh Quả cảm Tướng quân,Chánh Vệ úy
Ngạn trung Hầu 33 Con Hoành Quận công
Nghĩa tường Hầu 21 Ngô Hóan Bảng nhãn,Tao đàn tướng
Lại bộ Thượng thư
Nhiệm phái Hầu 31 Con Phái trung Hầu
Nhuệ võ Hầu 30 Ngô Phúc Đẩu
Nhưỡng thọ Hầu 27 Ngô Bá Khánh
Phái trung Hầu 30 Con Thuyên phái Hầu
Phú vinh Hầu 30 Phan (Ngô) Chính Đức
Suyền cung Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tại bá Hầu 29 Con Diên Quận công Chánh Đội trưởng
Thanh vân Hầu 31 Con Long võ Hầu
Thu lĩnh Hầu 31 Ngô Cảnh Hoàn
Thuận lộc Hầu 29 Ngô Phúc Cẩm Tham đốc,Câm y vệ Đô Chỉ huy sứ
Thuận trung Hầu 23 Ngô Phúc Hà (tặng phong)
Thuần trung Hầu 33 Con Hoành Quận công
Thuật võ Hầu 29 Con Hàn Quận công
Thụy tường Hầu 17 Ngô Tây Tặng phong
Thuyên phái Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tín vũ Hầu 28 Con Vân lộc Hầu Chánh Đội trưởng
Tỏan võ Hầu 28 Ngô Phúc Trị Chỉ huy Đồng tri
Trà lĩnh Hầu 23 Ngô Đức Trung
Trạc võ Hầu 29 Ngô Phúc Kỳ Hữu Kiểm điểm
Trâm ngọc Hầu 32 Ngô Lượng Lang
Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm
Triều phương Hầu 23 Ngô Bình Đô đốc Đồng tri
Triều thiên Hầu 24 Ngô Phúc Thắng Tả Hiệu điểm
Trọng võ Hầu 33 Ngô Phúc Trọng
Trung dũng Hầu 09 Lý Thường Hiến (Ngô Chương)
Trung tráng Hầu 21 Ngô Thọ Pháp Thái Bảo
Suy trung Dực vận Tán trị Công thần
Tuấn đức Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tuấn võ Hầu 33 Con Ngô Phúc Phương
Tư lộc Hầu 30 Ngô Phúc Sùng
Úy vũ Hầu 23 Ngô Hoằng Nghị Đô chỉ huy Đồng tri,
Minh dực Tướng quân
Vân lĩnh Hầu 28 Ngô Phúc Phổ (Bạc)
Vân lộc Hầu 27 Con Khang trạch Hầu Đô Chỉ huy sứ
Vinh thái Hầu 28 Ngô Phúc Khê
Vĩnh Lộc Hầu 24 Ngô Phúc Thanh Thái Bảo,Trấn thủ Nghệ An
Vĩnh sơn Hầu 27 Ngô Vỵ (tự An Sơn) Tả Thị lang
Vỵ phái Hầu 29 Con Phượng Quận công

TƯỚC BÁ

Chuẩn tường Bá 28 Ngô Phương Viên
Diễn phái Bá 31 Con Phái trung Hầu
Diễn võ Bá 33 Ngô Phúc Diễn
Đoan thọ Bá Con Thanh vân Hầu
Khuông lễ Bá 31 Ngô Phúc Thiện
Kiều phong Bá Ngô Thanh Tu Hồng lô Tự Khanh
Phàn thọ Bá 30 Con Thuyên phái Hầu
Thước võ Bá 31 Ngô Phúc Thước Thiên kỵ Thị vệ

TƯỚC NAM

Kiên thọ Nam 27 Ngô Phúc Tiến Lễ bộ Tả Thị lang,Kiên thọ Hầu
QUAN TƯỚC

Hàm Chánh Nhất phẩm

Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Khế 20 Thanh Quốc công ,Thái Úy Tư đồ
2 Ngô Thế Bang 21 Dực Quốc công ,Thái Bảo

3 Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc,Thượng trụ quốc
4 Ngô Tẩy 21 Thân Quận công
5 Ngô Nguyễn(Nghiễm) Xuân lệnh Hầu,Tiến sĩ 1731, Thị lang
6 Ngô Văn Bính 21 Thụy Quận công,Tây Kinh Đô đốc Chưởng Phủ sự,
Thái Bảo
7 Ngô Phúc Thắng 24 Triều thiên Hầu,Tả Hiệu điểm
8 Ngô Phúc Tiến 27 Kiên thọ Hầu,Ngự sử Đài Đô Ngự sử,Lễ bộ Tả Thị lang
9 Ngô Phúc Thứ Lễ bộ Tả Thị lang, gia tặng Ngự sử đài Đô Ngự sử

Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công, Phụ quốc Công thần, Tây quân Đô đốc
phủ Tả Đô đốc ,Thiếu Bảo gia phong Thái Bảo Thượng
Trụ quốc Thượng Tướng quân, Bật nghĩa Doanh
Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Hiệp mưu Dương võ Công thần,Nam quân
Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thái Bảo,Thượng Trụ quốc.
Ngô Phúc Vạn: 27 Tào Quận công, Dương võ Uy dũng Công thần,
Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,
Trung nhuệ Quân doanh, Phó tướng Thiếu Úy
gia phong Thái Bảo Thượng Trụ quốc Vạn Quận công.
Ngô Phúc Thiêm 28 Nhuận Quận công, Tham đốc Thần vũ Tứ vệ, tặng Nam
quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiểm sự Thượng Trụ quố
Hạo Quận công 30 Thượng Trụ quốc,
Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,tước Hạo Quận công.

ThượngTrụ quốc
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1. Lý Thường Kiệt 9 Việt quốc công,Phụ quốc Thái Phó,Lâm Bình Tíet độ sứ,
Phụ quốc Thượng tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử Nghĩa đệ,Thái Úy đồng Trung thư môn hạ,
Đông Bình chương quân quốc trọng sự.
2. Ngô Khế 20 Thái Úy Thanh Quốc công
3. Ngô Thế Bang 21 Thái Bảo Dực Quốc công,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc
Đại phu,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc,Chưởng Phủ sự Phụ quốc,Đông Bình chương Quân quốc trọng sự
4. Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc
5. Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Phụ quốc Công thần,Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thiếu Bảo,gia phong Thái Bảo,
Thượng Tướng quân Bật Nghĩa doanh
6. Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Hiệp mưu Dương võ Công thần,Đặc tiến
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Nam quân Đô đốc phủ
Tả Đô đốc,Thái Bảo
7. Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Dương võ Uy dũng Công thần,Đặc tiến
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,Trung nhuệ Quân doanh,
Phó tướng Thiếu Úy gia phong Thái Bảo
8. Ngô Phúc Trị 28 Toản võ Hầu,Lực sĩ Ty Lực sĩ Hiệu úy,
Đô Chỉ huy sứ ty Chỉ huy Đồng tri
9. Ngô Phúc Thiêm 28 Nhuận Quận công,Đặ tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân
Tham đốc Thần vũ tứ vệ,tặng Nam quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiêm sự
10. Hạo Quận công 30 Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,
Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân,Cai cơ Đô Chỉ huy sứ,tước Hạo Quận công

Thái Sư
Ngô Chân Lưu 7 Khuông Việt Thái Sư,Tăng thống

Thái Úy
Lý Thường Kiệt 9 Việt Quốc công,
Phụ quốc Thái Phó Lâm Bình Tiết Độ sứ,
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử Nghĩa đệ, Đồng Trung thư môn hạ,
Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự,Thượng Trụ
quốc.
Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Diên ý Dụ Vương.
Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Tư đồ,Thái Bảo.
Ngô Ký 20 Nghĩa Quận công.

Thái Phó
Ngô Kinh 18 Hưng Quốc công.
Ngô Nhân Duyên 21 Đoan Quận công,Tây khê Hầu.
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc Chưởng Phủ sự.
Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Thái Bảo,Phó tướng.

Thái Bảo
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Thái Úy, Diên ý Dụ Vương .
2 Ngô Tuy Tiến sĩ 1499,Hàn lâm Viện Hiệu thảo.
3 Ngô Nhạn 20 Hán Quốc công.
5 Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Đức Quận công,Tư Đồ.
6 Ngô Phúc Thanh 24 Vĩnh lộc Hầu,Đô Tổng binh
7 Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Tây quân Tả Đô đốc,Thái Phó.
8 Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Tả Đô đốc.
9 Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Phó tướng,Tả Đô đốc Tào khê Hầu.
Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Lý Thường Kiệt 9 Thái Úy Việt Quốc công,Thượng Trụ quốc,
Phụ quốc Thái Phó, Lâm Bình Tiết Độ sứ
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử nghĩa đệ, Đồng Trung thư môn hạ .
Ngô Khế 20 Thái Úy Thanh Quốc công,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công
thần,ĐTKTVLĐP.
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn
Công thần,ĐTKTVLĐP.
Ngô Thế Bang 21 Dực Quốc công,Tả Đô đốc,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn
Công thần,Suy trung Tuyên lực Dực bảo Trung hưng
Công thần,ĐTKTVLĐP.

Tư Đồ
Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Thái Úy.

Chánh Nhị phẩm

Thiếu Phó

Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Thái Bảo,Phó tướng.

Thiếu Bảo
Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Thái Bảo, Tả Đô đốc.
Ngô Phúc Đang 28 Hàn Quận công.

Tùng Nhị phẩm

Thái tử Thiếu Bảo
Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Diên ý Dụ Vương.
Ngô Lan 20 Hán Quốc công,Thượng Tướng quân,Đô Kiểm điểm.

Tả Hữu Kiểm điểm/Tả Hữu Hiệu điểm

Ngô Phúc Thắng 24 Triều thiên Hầu
Tả hổ vệ
Ngô Lương 20 Tả Hiệu điểm

Tham đốc
Khang trạch Hầu 26 thụy Mai Trai,Phụ quốc Thượng Tướng quân,
Đô Chỉ huy sứ ty
Ngô Phúc Cẩm 29 Thuận lộc Hầu ,Cấm y vệ Đô Chỉ huy sứ ty,

Đô đốc phủ Chưởng Phủ sự
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Đông quân Đô đốc phủ,Thượng trụ
quốc
Ngô Văn Bính 21 Thụy Quận công,Tây Kinh,Phụ quốc Thượng Tướng
Quân

Đô đốc
Ngô Đam 19 Thượng Tướng quân
Ngô Phúc Vạn 27 Tả Đô đốc Trung nhuệ Quân doanh,Phó tướng
Chưởng phủ sự,Thái Bảo Tào Quận công

Chánh Tam phẩm

Đô Ngự sử
Ngô Phúc Tiến 27 Kiên thọ Hầu,Lễ bộ Tả Thị lang
Ngô Phúc Thứ Lễ bộ Tả Thị lang

Thị lang
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Ngô Vỵ tự An Sơn 27 Hiển cung Đại phu,Vĩnh sơn Hầu
Ngô Phúc Tiến Kiên thọ Hầu,Ngự sử Đài Đô Ngự sử
Ngô Phúc Lâm 30 Tiến sĩ 1766,Khiêm Quận công,Tham chính
Sơn Tây,Tham trấn Thuận Hóa
Ngô Phúc Thứ Ngự sử đài Đô Ngự sử

Tổng binh Đồng tri
Ngô Phúc Hải 22 Trấn thủ Thái Nguyên
Tùng Tứ phẩm

Tế tửu Quốc Tử Giám

Ngô Trí Hòa 27 1592 Thượng thư Bộ hộ,Tế tửu Quốc Tử Giám,
Phú Xuân Hầu,truy phong Xuân Quận
công
Ngô Hải 1664 Phó Đô Ngự sử,Tế tửu
Ngô Đức Bình 33 1865 Án sát Quảng Bình
Triều liệt Đại phu
Ngô Huyền Sơn 26 Thông chính sứ

Hàn lâm viện Thị giảng

Ngô Soa 37
Ngô Thuần Cẩm 29 (Thổ Quan) Kiệt trung hiệu lực Tướng quân
Thước võ Bá 31 (Thổ Quan)

Cấm y vệ Thự vệ
Ngô Phúc Điền 28 Kiêm lộc Hầu Chánh Cai đội

Chánh Lục phẩm

Quang Lộc tự Thiếu khanh
Ngô Phùng 32
Tùng Lục phẩm

Quả cảm Tướng quân
Ngô Phúc Chánh 31 Lãng phương Hầu,Chánh Vệ úy

Tao đàn Nhị thập Bát tú
(Tháng 11 năm 1495 niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông)

Lê Thánh Tông Tao đàn Nguyên soái

Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung (TS 1469) và Đỗ Nhuận (TS 1466): Phó Nguyên soái;
Đông các Hiệu thư Ngô Luân (TS 1475) và Ngô Hoán (BN 1490),
Hàn lâm viện Thị độc: Nguyễn Trùng Xác và Lưu Hưng Hiếu (BN 1481),
Hàn lâm viện Thị thư :Nguyễn Quang Bật (TN 1484), Nguyễn Đức Huấn (BN 1487), Vũ Dương (TN 1493) và Ngô Thầm (BN 1493);
Hàn lâm viện Thị chế: Ngô Văn Cảnh (HG 1481), Phạm Trí Khiêm (HG 1484), Lưu Thị Mậu (Lưu Thư Ngạn-TH 1490);
Hàn lâm viện Hiệu lý: Nguyễn Nhân Bị (TS 1481),Nguyễn Tôn Miệt (TS 1481), Ngô Quyền ( Ngô Hoan-HG 1487), Nguyễn Bảo Khuê (HG 1487), Bùi Phổ (HG 1487), Dương Trực Nguyên (HG 1490) và Chu Hãn(Nguyễn Hoản-HG 1493),
Hàn lâm viện Kiểm thảo:
Phạm Cẩn Trực (TS 1484), Nguyễn Ích Tốn (TS 1484), Đỗ Thuần Thứ (Đỗ Thuần Nhân TS 1472), Phạm Như Huệ, Lưu Dịch (TS 1490), Đàm Thận Huy (TS 1490), Phạm Đạo Phú (TS 1490) và Chu Huân(TS 1493)

Họ Ngô có: Đời Năm thi đỗ Tước vị
Ngô Luân 23 1475 Tiến sĩ,Lễ bộ Thượng thư,Đông các Hiệu thư
Ngô Văn Cảnh(Ngô Trầm) 21 1481 Hoàng giáp,Tham đốc,Hán lâm viện Thị thư
Ngô Hoan (Ngô Quyền) 21 1487 Hoàng giáp,Đô Ngự sử,Hán lâm viện Hiệu lý
Ngô Hóan 21 1490 Bảng nhãn,Lại bộ Thượng thư, Nghĩa tường Hầu,Đông các Hiệu thư
Ngô Thầm 23 1493 Bảng nhãn,Thái Bảo, Hàn lâm viện Thị thư
HỌC VỊ
Tổng số Tiến sĩ từ đời Lý, Trần, (đời Trần gọi Tiến sĩ là Thái Học Sinh), đến triều
Thành Thái nhà Nguyễn(từ 1075 đến 1919)khoảng:
3277 Bảng nhãn,Thám hoa,Hoàng giáp,Tiến sĩ ,
56 Trạng Nguyên
Lý 41
Trần 376
Hồ 45
Lê Sơ: 1008 26 khoa thi
Triều Mạc 490 22
Lê trung hưng 759 73
Nguyễn 558/263 Chánh bảng

Tổng số 3277

HỌ NGÔ:
Trạng Nguyên 1
Bảng Nhãn 4
Thám Hoa 4
Hoàng Giáp 26
Tiến Sĩ 84
= 119
Hệ thống bia Tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội:
Từ năm Đại Bảo 3,1442- đến năm Cảnh Hưng 40,1779: Tổng số 82 bia

Tổng số Họ Ngô
Đệ Nhất giáp:
Trạng nguyên,Bảng nhãn,Thám hoa 85 7
Đệ Nhị giáp: Chánh Tiến sĩ,tức Hoàng Giáp 283 20
Đệ Tam giáp: Đồng Tiến sĩ xuất thân 939 19
Cộng chung 1307 46

Họ Ngô Việt Nam
1.Trạng nguyên Đệ Nhất giáp Đệ Nhất danh
Ngô Miễn Thiệu 24 1518 Lễ bộ Thượng thư,Đô Ngự sử,
Trình khê Hầu,Lý khê Bá

2.Bảng nhãn Đệ Nhất giáp Đệ Nhị danh
1 Ngô Hóan 21 1490 Tao đàn tướng,Lại bộ Thượng thư
Nghĩa tường Hầu,Thượng đẳng thần
2 Ngô Thầm 23 1493 Thái Bảo, Tao đàn tướng
Hàn lâm Viện Thị thư
3 Ngô Nhân (Ngô Ứng) 21 Đốc dự Bá
4 Ngô Bảo Thái Họ Ngô Bách Tính

3.Thám hoa Đệ Nhất giáp Đệ Tam danh

1. Ngô Sơn Khoái (Ngô Khôi) 1532 Tả Thị lang Hình bộ
2.Ngô Khiêm 1562 Tả Thị lang
3.Ngô Khuê 1661 Hộ bộ Thị lang, Bồi tụng
4.Ngô Sách Tố (Ngô Sách Hân) 1721 Thiếu Bảo,Hộ bộ Thị lang,
Hàn lâm Viện Thị thư
4.Hoàng giáp Đệ Nhị giáp/Chánh Tiến sĩ
Tên họ Đời thứ Năm thi đỗ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Khắc 1239 Đệ Nhị Giáp khoa Thái học sinh
2 Ngô Tần 1247 Đỗ Giáp khoa
3 Ngô Sở Ngọc 1478
4 Ngô Văn Cảnh 21 1481 Tao đàn tướng,Tham đốc,Hiến sát sứ
5 Ngô Văn Phòng 1484 Tả Thị lang
6 Ngô Hoan 1487 Đô Ngự sử,Tao đàn tướng
7 Ngô Ngọc 22 1487 Đô Cấp sự trung
8 Ngô Đạt Nho 1490 Tham chính
9 Ngô Kính Thần 1493 Phó Đô Ngự sử
10 Ngô Thái Đoan 1493 Tự khanh,Đô Chỉ huy sứ
11 Ngô Văn Huy 1502
12 Ngô Nhân Hải 23 1508 Giám sát Ngự sử
13 Ngô Tòng Củ 1514 Lễ bộ Tả Thị lang
14 Nguyễn Chính Tuân 1514 Ngọc Quận công,Đoan sứ,Thượng thụ
15 Ngô Ước 22 1526 Hàn lâm Đại Học sĩ
16 Ngô Quang 1541 Hàn lâm Viện Kiểm thảo
17 Ngô Thái Cẩn 1550 Giám sát Ngự sử
18 Ngô Nhân Trừng 25 1580 Thái Úy,Nghị Quốc công,
Đốc đồng nam bắc 13 Đạo
19 Ngô Cung 1583 Đông các Đại Học sĩ
20 Ngô Trí Hòa 27 1592 Thượng thư Bộ hộ,Tế tửu Quốc Tử Giám,
Phú Xuân Hầu,truy phong Xuân Quận công
21 Ngô Vi Thực 1691 Lễ khoa Đô Cấp sự trung/Tả Thanh Oai
22 Ngô Thì Sỹ 32 1766 Đông các Hiệu thư,Tham chính
23 Ngô Điền 1841 Tri phủ
24 Ngô Chấn 1841 Tri phủ
25 Ngô Đức Bình 33 1865 Án sát Quảng Bình,Tế tửu Quốc Tử Giám
26 Ngô Quang Bích 29 1869 Án sát Sơn Tây,Tuần phủ Hưng Hóa
5.Tiến sĩ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân
Tên họ Đời thứ Năm thi đỗ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Thế Dụ 1442 Tả Thị lang Hộ bộ
2 Ngô Sĩ Liên 1442 Ngự sử, Hữu Thị lang,Triều liệt Đại phu ,QTG Tư nghiệp,Sử quán Tu sọan
3 Ngô Nhân Tuấn(Duệ) 1460 Thượng thư (Công,Hộ)
4 Ngô Lôi 1466 Tổng binh Thiểm sự
5 Ngô Anh (Gián) 23 1472 Đông các Đại Học sĩ
6 Ngô Luân 23 1475 Tao đàn tướng ,Lễ bộ Thượng thư
7 Ngô Trinh Chấp 1478 Tả Thị lang Công bộ
8 Ngô Kim Húc 1478 Đô Cấp sự trung
9 Ngô Khắc Tuấn 1481 Hiến sát sứ
10 Ngô Quyền 21 1487 Tao đàn tướng (Con Ngô Nhạn)
11 Ngô Tuy 1499 Thái Bảo,Hàn lâm hiệu thảo
12 Ngô Tháo 1505 Tham chính
13 Ngô Quang Tổ 1508 Hiến sát sứ
14 Ngô Văn Thông 1508 Thượng thư
15 Nguyễn Xuân 1508 Họ Ngô Lâm Thao,đổi họ Nguyễn
16 Ngô Đình Thực 1511 Hàn lâm viện Kiểm thảo,Thị lang
17 Ngô Sĩ Kiện 1511 Hiến sát sứ
18 Ngô Mậu Đôn 1523 Thượng thư
19 Ngô Hoành 1526 Hiến sát sứ
20 Ngô Úc 1532 Đề hình Giám sát Ngự sử
21 Ngô Phúc Tinh 1535 Thừa Chính sứ
22 Ngô Trang 1538 Thị lang,Thụy xuyên Bá
23 Ngô Tĩnh 1544 Tham Chính,Nho lâm Nam
24 Ngô Khắc Khoan 1547 Hiến sát sứ,Tổng binh Thiêm sự
25 Ngô Thuật Khổng 1547 Hiến sát sứ
26 Ngô Bật Lãng 22 1550 Thống lĩnh Hữu Đề đốc,Tả Thị langlại ,tặng Binh bộ Thượng thư,
27 Ngô Diễn 25 1550 Lễ bộThượng thư,Hàn lâm Viện Thị giảng Gia hành Đại phu,Nhân sơn Bá,KTVLĐP
28 Ngô Chấp Trung 1553 Hiến sát sứ
29 Ngô Uông 1553 Binh khoa Đô Cấp sự trung
30 Ngô Đức Cơ 1553 Thượng thư,Thừa chính sứ
31 Ngô Dịch (Trạch) 25 1556 Thượng thư,Lễ bộ Tả Thị lang
ĐTKTVLĐP,Lĩnh hải Nam
32 Ngô Khánh Nùng 1556 Đô Ngự sử
33 Ngô Gia Mưu 25 1559 Tham chính
34 Ngô Mậu Du 1565 Giám sát Ngự sử
35 Ngô Tháo 1571 Tả Thị lang
36 Ngô Vỹ 1571 Đạt lê Hầu,Tả Thị lang
37 Ngô Trí Tri 26 1592 Hiến sát sứ,Khánh diễn Bá
38 Ngô Nhân Triệt 26 1607 Thái Bảo,Lễ phái Bá,Thái thường tự Khanh
39 Ngô Triệt 1637 Tả Thị lang,Thượng thư,Quận công
40 Ngô Văn Chính 1637 Phủ dõan Phủ Phụng Thiên
41 Ngô Nhân Tuấn (Duệ) 27 1640 Tả Thị lang Bộ lễ,tặng Thượng thư Hộ bộ, Phong Lộc Hầu
42 Ngô Sĩ Vinh 28 1646 Lý hải Hầu,Công bộ Hữu Thị lang
43 Ngô Sách Thúy 1657
44 Ngô Sách Thí 1659
45 Ngô Sách Dụ 1664 Thiếu dõan Phủ Phụng Thiên
46 Ngô Hải 1664 Phó Đô Ngự sử,Tế tửu
47 Ngô Cầu 1670 Tham chính
48 Ngô Sách Tuân 1676 Lại bộ Hữu Thị lang
49 Ngô Tuấn Dị 28 1688 Hàn lâm Viện Hiệu thảo,Thị lang
50 Ngô Công Trạc 30 1694 Hiến sát sứ
51 Ngô Vi Nho 1694 Giám sát Ngự sử/Tả Thanh Oai
52 Ngô Đình Thạc(Oanh) 29 1700 Thiếu Bảo,Công bộ Thượng thư,Tham tụng,Huy Quận công
53 Ngô Hưng Giáo 30 1710
54 Ngô Nhân Hân 1715 Đô Cấp sự trung
55 Ngô Đình Chất(Oánh) 29 1721 Binh bộ Thương thư,Xuyên Quận công
56 Ngô Nguyễn (Nghiễm) 1731 Xuân lệnh Hầu,Thị lang
57 Ngô Trần Thực 29 1760 Đông các Đại học sĩ,Thiêm Đô Ngự sử
58 Ngô Phúc Lâm 30 1766 Khiêm Quận công
59 Ngô Duy Viên 1769 Giám sát Ngự sử / Bồi tụng,Thị lang,Cảo
phong Bá Họ La Khê
60 Ngô Duy Trưng 1775 Thiêm Đô Ngự sử/ /Họ La Khê
61 Ngô Thì Nhậm 33 1775 Thượng thư,Phương Quận công
62 Ngô Thế Trị (Dụng) 1775 Hàn lâm Viện Thị chế
63 Ngô Tiêm 1779 Nghĩa phái Hầu,Mỹ phái Hầu,Đốc trấn Lạng Sơn,Thái Hòa điện Học sĩ
64 Ngô Nho 1785 Đô Cấp sự trung ,Hàn lâm Viện Hiệu thảo
65 Ngô Thế Vinh 29 1829 Họ Bái Dương
66 Ngô Đình Điền 1841
67 Ngô Khắc Kiệm 1842 Án sát
68 Ngô Tòng Nho 1849 Thị giảng Học sĩ
69 Ngô Văn Độ 1856 Quang Lộc tự Khanh
70 Ngô Đức Kế 34 1901 Việt Nam Chí sĩ
71 Ngô Bích Giang 1903
72 Ngô Tòan Thượng thư Theo gia phả Tôc họ
73 Ngô Bửu Tế trị Hầu Ghi trong Bảng liệt kê Danh nhân
74 Ngô Chân Đại Học sĩ –nt-
75 Ngô Cửu Lễ bộ Thượng thư –nt-
76 Ngô Diệu Hiến sứ –nt-
77 Ngô Được Hiến sát sứ –nt-
78 Ngô Kiến Văn thành Bá –nt-
79 Ngô Lân Đại tư Đồ –nt-
80 Ngô Nghiêm Đại Học sĩ –nt-
81 Ngô Cách Thành Quận công –nt-
82 Ngô Thức Tấn Quốc công –nt-
83 Ngô Thiện Thái Sư –nt-
84 Ngô Viêm Đôn hậu Bá –nt-

6.GIẢI NGUYÊN (con số chưa đầy đủ)
1 Ngô Hiệu 24 Ngô Thì Tả Thanh Oai
2Ngô Tùng Hiên 29
3 Ngô Phúc Tòan 25 Dòng Ngô Sử Hậu
4 Ngô Tuấn Lương 28 Ngô Thì Tả Thanh Oai
5 Ngô Tưởng Đạo 32 (31) Dòng Ngô Sử Hậu
6 Ngô Duệ Họ La Khê/Đô Cấp sự trung

7.Giám sinh(con số chưa đầy đủ)
1 Ngô Thời Bá
2 Ngô Văn Cẩm Lương Tài Hầu, Tham đốc,
3 Ngô Trí Cẩn Tham chính sứ (Hàm Tùng Tứ phẩm),
4 Ngô Chấp Thiệu thắng Hầu
5 Ngô Phúc Chung (Phúc Trung)Đồng Dương Hầu,
5 Ngô Thông Chương làm Tri phủ,người họ Bái Dương
6 Ngô Thì Diễn con Ngô Thì Nhậm.
7 Ngô Nhân Do Thiếu khanh Giảng dụ,
8 Ngô Minh Dõan (Thất truyền) Họ Ngô Vi Tả Thanh Oai
9 Ngô Bao Dung làm ở Quốc Tử Giám
10Ngô Đại Trung Quốc Hầu.
11Ngô Đức Phú Vinh Hầu
12Ngô Hạo Họ Ngô Vân Động
13Ngô Hoành Tham đốc(?)
14Ngô Gia Hội Họ Ngô Cự Thôn Hà Trung
15Ngô Trí Kính Họ Ngô Vy Tả Thanh Oai, Hải Dương Đạo Hành quân Thư ký
16Ngô Khuông Đại tư đồ
17Phan Hữu Lập Thao Vũ Hầu
18Ngô Luông Chính thắng Hầu.
19Ngô Trực Lượng (Thất truyền Họ Ngô Vi Tả Thanh Oai
20Ngô Vi Mạch Tự Đạo Diễn,hiệu Thông Hiếu,
21Ngô Mưu Trung nghĩa Hầu ( ? )
22Ngô Thế Nghiêm huý Đỉnh, tự Bột Chính,Giám sinh 1689
23Ngô Phục Trung ái Hầu,
24Ngô Phúc Quảng Họ Ngô Vy Tả Thanh Oai
25Ngô Xuân Thành Đàm Quận công, Thủy Tổ họ Ngô Cự Thôn
26Ngô Thọ Tham Đốc (?)
27Phan Phúc Thọ Cương dũng Hầu
28Ngô Thế Thuộc Huấn Đạo,
29Ngô Thượng Tấn Quận công (?)
30Ngô Tiêu Sùng Đạo Bá (?)
31Ngô Lý Tính Thừa điện Nha doanh
32Ngô Tòng Thuần tín Hầu
33Ngô Lạc Trai
34Ngô Trạc tự Liên Bạt,đỗ Hương cống,Hoành từ,
35Ngô Nhã Trực hai lần Giám sinh, Tri huyện Kim Bảng,họ Nguyễn Ngô Trình Phố
36Ngô Tu Trung dũng Bá ( ? )
37Ngô Đình Tú Đô Hiệu điểm Bình Giang Hầu, Ninh Quận Công,
38Ngô Nhân Tùng (Ngô Văn Tổng), dòng Ngô Nguyên.
39Ngô Nguyên Vinh Ấm sinh, người xã Mỹ tục.
CHÂN DUNG TÁC GIẢ
Sinh tháng 1 năm 1912,tại xã Trảo Nha huyện Can Lộc,nay là xóm Nam Sơn,thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.Cháu nội Hoàng Giáp Tế Tửu Quốc Tử Giám,Án sát Quảng Bình Ngô Đức Bình.
Lúc trẻ học trường Trung học Vinh,tham gia các cuộc vận động chống Pháp,năm 1927 bị đuổi học.
Năm 1930 tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh,là thanh niên Cộng sản,cuối 1930 bị bắt giam tại nhà lao Hà Tĩnh.Năm 1931 được trả tự do,bị quản thúc tại nhà.
Cuối 1944 tham gia phong trào Việt Minh tại Can Lộc Hà Tĩnh,chủ trì việc cứu tế nạn đói đầu 1945 ở huyện Can Lộc Hà Tĩnh.Thường trực Việt Minh huyện Can Lộc.Tháng 8 -1945 được cử làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Can Lộc.Tham gia Ủy viên Ủy ban Lâm thời huyện Can Lộc.
Được điều vào tham gia Giải phóng quân Trung đoàn Phan Đình Phùng .
Trải qua các đơn vị:Trung đoàn 103,Sư đoàn 304,Bộ Tổng Tham mưu.
Tham dự các trận và các Chiến dịch:Chiến dịch Mộ Dạ 1947, Chiến dịch Nape (Chỉ huy trưởng),Chiến dịch Hoàng Hoa Thám,Chiến dịch Quang Trung,Chiến dịch Trần Hưng Đạo,Chiến dịch Hà Nam Ninh,Chiến dịch Điện Biên Phủ, và Giải phóng tiếp quản Hà Nội 1955.
1955-1960 công tác tại Bộ Tổng Tham mưu.
Từ 1961 là Cục phó và sau đó là Quyền Cục trưởng Cục quy hoạch Bộ nông trường,
Nghỉ hưu tháng 9 năm 1970.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ,cán bộ Cách mạng Tiền khỡi nghĩa.
Huân chương Kháng chiến hạng 3,
Huân chương Chiến thắng hạng 2,
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 3,
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Bà Lê Thị Tam(còn gọi là Lê Thị Liệu),sinh năm 1911,mất ngày 02 tháng 9 năm 1966 tức ngày 18 tháng 7 năm Bính Ngọ,con gái đầu Hồng Lô tự Thiếu Khanh Lê Hữu Duy,Quan Ngự y thuộc triều đình nhà Nguyễn,người xã Đồng Bàn huyện Thạch Hà,nay là xã Thạch Liên huyện Thạch Hà ,Hà Tĩnh.
Sinh Ngô Thị Liệu,Ngô Đức Bằng, Ngô Song Bổng (1936-1992),Ngô Đức Uy(mất sớm), Ngô Đức Hàm, Ngô Đức Lợi.
Mất hồi 7 giờ 15 phút ngày 2 tháng 5 năm 1998,tức ngày Bảy tháng Tư năm Mậu Dần tại Hà Nội,hưởng thọ 87 tuổi.
Mộ táng tại nghĩa trang xóm Nam Sơn thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Hà Nội,ngày mồng Bảy tháng Tư năm Mậu Tý 2008

Biên tập,sửa chữa,bổ sung và hiệu đính cho lần in thứ 6

Thứ nam NGÔ ĐỨC LỢI

HỌ NGÔ TRẢO NHA THẠCH HÀ
(Nay thuộc thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh)
Phan tiep

CHI VI HỌ NGÔ VĂN CỬ
Xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

28 Ngô Phúc Điền Kiêm lộc Hầu,con trai thứ sáu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn ,
Cẩm y vệ thự vệ,Chánh cai đội,
Sinh: Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm.
Thụy tường Hầu Ngô Phúc Giang..
29Ngô Phúc Giang Thụy tường Hầu,sinh -Chính đạo Công (thất truyền),
-Pháp minh Công Ngô Phúc Minh
30Ngô Phúc Minh Pháp minh Công,sinh Phúc Trí,Phúc Thể ở Hà thành

31Ngô Phúc Thể Thận trí Công,sinh Phúc Sán,Phúc Phương đều vô tự,
Phúc Phác
32Ngô Phúc Phác sinh Ngô Đàn,Ngô Hòa
33 Ngô Đàn sinh Đức Nhự,Phúc Ba (vô tự),Đức Ngụ,Đức Mỳ
34 Ngô Đức Nhự sinh Đức Lệ,Đức Gặp
35 Ngô Đức Lệ sinh Đức Vọng và hai gái
35 Ngô Đức Gặp sinh Đức Anh (vô tự)

34 Ngô Đức Mỳ sinh Đức Báu
35 Ngô Đức Báu sinh Đức Tụ,Đức Sầm
36 Ngô Đức Tụ sinh Thị Tri

36 Ngô Đức Sầm sinh Đức Mỳ
37 Ngô Đức Mỳ sinh Đức Trương,Đức Lý
38 Ngô Đức Lý sinh Đức Phương và hai gái
38 Ngô Đức Trương sinh Thị Liên

34 Ngô Đức Ngụ sinh Đức Triện,Ngô Viên (vô tự)
35 Ngô Đức Triện sinh Thị Truyện,Đức Mỳ (phạp),Đức Thính,Thị Tư,Đức Triện,
Đức Chương
36 Ngô Đức Thính có năm con
36 Ngô Đức Chương có bảy con

33 Ngô Hòa sinh Phúc Lương,Phúc Xương,Phúc Xý,Ngô Nhi (vô tự)
34Ngô Phúc Lương sinh Phúc Ngội
35Ngô Phúc Ngội sinh Phúc Khác,Đức Xương
36 Ngô Đức Khác 1882-1941,sinh Đức Hiền,Đức Chúng,Thị Hai
36 Ngô Đức Xương 1900-1940,có con cháu.

CHI VII Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu

28 Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu,con trai thứ bảy Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,
Sinh hai con trai -Ngô Văn Cang,
-Ngô Thuần Cẩm.
Dòng Ngô Văn Cang thiên cư vào Quảng Nam;dòng Ngô
Thuần Cẩm phụng sự Vua Lê,khi Vua Lê thất thế con cháu về
ngụ xã Thổ Quan ,nay thuộc phường Thổ Quan quận Đống Đa
thành phố Hà Nội.

Họ Ngô Kế Xuyên
Xã Bình Trung,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam

29 Ngô Văn Cang sinh Ngô Văn Kiệt,Ngô Văn Giám

30 Ngô Văn Kiệt bà Xa Thị Kỳ sinh Ngô Hữu Trí
30 Ngô Văn Giám bà Nguyễn Thị Tây sinh Tòng Chu,Văn Thạch,
Văn Khương (thất truyền) và bốn con gái

31 Ngô Hữu Trí sinh Văn Tôn,Văn Tạo (thất truyền)
31 Ngô Tòng Chu sinh Phú Hán,Công Định (thất truyền),Văn Bảo,Văn Tấn.và
bảy gái
31 Ngô Văn Thạch sinh Văn Côn

32 Ngô Văn Tôn sinh Văn Cụ (thất truyền),Văn Biểu,Văn Nay
32Ngô Phú Hán sinh Phú Nhuận
32 Ngô Văn Bảo sinh Văn Sức
32 Ngô Văn Tấn sinh Văn Chúc,Văn Quyền,Văn Lộc,Văn Thuật và sáu gái
32 Ngô Văn Côn sinh Văn Đô,Văn Lãm,Văn Tri (vô tự)

33 Ngô Văn Biểu sinh Văn Sỹ,Văn Vĩnh và bốn gái
33 Ngô Văn Nay sinh Công Đệ,Công Khanh
33Ngô Phú Nhuận sinh Công Tuấn
33 Ngô Văn Sức sinh Văn Quang,Văn Trinh và năm gái
33 Ngô Văn Chúc sinh Văn Chủng (thất truyền),Văn Chim,Văn Lũ,Văn Thêm,
Văn Sửu,Văn Hòang và năm gái
33 Ngô Văn Quyền Ở Vinh,sinh Văn Tề,Ngô Hầu,Công Kỉnh
33 Ngô Văn Lãm sinh Văn Điều

34 Ngô Văn Sỹ sinh Văn Độc,Văn Đính (vô tự)
34 Ngô Văn Vĩnh sinh Công Phú,Công Xây và năm gái
34 Ngô Công Đệ sinh Ngô Điệt
34 Ngô Văn Quang sinh Văn Khánh (tt),Ngô Dư (ở Tây mỹ Thăng Bình),Văn Nã,
Văn Ngự,Văn Thắng,Thị Ếch
34 Ngô Văn Trinh sinh Ngô Xứ,Ngô Nam,Văn Đò,Ngô Triệu,Ngô Nguy,Thị Én,
Thị Nhạn
34 Ngô Văn Tề sinh Ngô Thông,Văn Trinh,Văn Tường ,Văn Ấu(ba người tt),
Thị Hiện,Thị Hữu,Thị Tri
34 Ngô Hầu sinh Ngô Bá,Ngô Trực
34 Ngô Kỉnh sinh Ngô Vĩnh,Ngô Hoan,Ngô Tầm
34 Ngô Văn Điều sinh Ngô Đỏ.

Đời thứ 35

35 Ngô Văn Độc sinh Văn Yêm,Văn Ái,Văn Ân di về thôn Tây mỹ xã Bình an
huyện Thăng Bình.Nay con cháu ở Tân mỹ Bình đào trên trăm
hộ,trên ngàn nhân khẩu.
Ngô Công Phú sinh Công Hoan,Công Hiến,Công Khuẩn,Thị Tín,Thị Đạt,Thị Đô,
Thị Gương
Ngô Công Xây sinh Công Thích
Ngô Điệt sinh Ngô Bốn
Ngô Dư sinh Ngô Tịnh,Phú Trạch
Ngô Xứ sinh Văn Mô,Công Lẽ,Công Hán,Công Nghi,Văn Củng,Văn Cừu,
và bốn gái
Ngô Triệu sinh Ngô Siêu,Công Xuyên,Công Nam,Công Lanh,Văn Tý,
Công Thành,Ngô Thức
Ngô Thông sinh Công Duy,Công Trị,Thị Cải
Ngô Trực sinh Công Mưu,Ngô Bài (vt),Công Thống,Ngô Khiêm
Ngô Vĩnh sinh Công Lộng,Công Sở,Ngô Lâu,Ngô Tôn
Ngô Công Hoan sinh Công Thứ (vào Định tường),Công Tường (tt),Thị Dung,Thị Long
Ngô Văn Đỏ sinh Văn Hiếu vào Gia Định

Đời thứ 36

36 Ngô Văn Yêm sinh Văn Luận (tt),Văn Tài (vt)
Ngô Văn Ái sinh Văn Vân (tt),Văn Lương,Văn Hiệu (vào ở Sa hùynh
Quảng Ngãi)
Ngô Công Hiến sinh Công Khoan,Công Bửu,Công Tô,Thị Vân,Thị Thạc,Thị Bột,
Thị Tám
Ngô Công Khuẩn sinh Công Nghi ,Thị Bảo,Thị Lợi,Thị Ngôn
Ngô Công Thích sinh Công Kỳ,Công Cánh,Công NgànThị Khanh,Thị Phừớc
Ngô Phú Trạch sinh Công Thanh,Công Đàm,Công Tiềm,Công Ngân,Thị Chưởng,
Công Bá,Công Kỳ
Ngô Văn Mô Đi Gia Định,sinh Công Luận,Công Ngũ,Công Tài,Thị Cát,
Thị Tuyền
Ngô Công Lẽ sinh Công Thể,Công Tạ,Công Triều,Công Thành,Văn Lũ(phạp),
Công Cẩn(phạp)
Ngô Công Hán sinh Công Kế,Công Lực,Công Lương,Công Mông
Ngô Công Nghi sinh Công Nhân,Công Khánh
Ngô Văn Củng sinh Công Dụ,Công Huấn,Công Hùng,Thị Trữ,Thị Diệt,Thị Cho,
Thị Đống
Ngô Văn Cừu sinh Công Ban,Công Lân,Công Lý,Công Phiêu
Ngô Công Xuyên Di về phường Thanh hiệp tổng Thanh Châu huyện Điện bàn,
sinh Vản Thi,Văn Lũ,Văn Bồng,Văn Hóan,Văn Đinh,Văn
Thế,Văn Thụy và hai gái
Ngô Công Nam biệt quán
Ngô Công Lanh sinh Công Canh,Công Thái,Công Ngọt,Văn Giao,Thị Trà,
Thị Chia,Thị Điều,Thị Cam
Ngô Văn Tý sinh Công An,Công Thuận
Ngô Công Thành sinh Công Phúc,Công Tôn,Công Chủng,Thị Thanh,Công Lai,
Công Linh,Công Thông
Ngô Công Duy sinh Văn Tạo,Văn Hữu,Văn Kế(ở Tam kỳ)
Ngô Công Trị sinh Công Tấn,Công Nguyên cả hai vô tự,Thị Niêm,Thị Kha
Ngô Công Mưu sinh Công Kiều,Công Cai đều vô tự
Ngô Công Thống sinh Công Bảo,Thị Linh
Ngô Công Lộng sinh Công Ban,Công Lịch,Công Bảo,Công Phước,Công Giá,
Thị Ưng
Ngô Công Sở sinh Công Lôi,Thị Cơ,Thị Tề
Ngô Công Thứ sinh Công Phú,Công Đương,Công Bằng
Ngô Văn Hiếu sinh Đắc Ý và bảy người khác vô tự.

Đời thứ 37

37 Ngô Văn Lương sinh Thị Căn,Thị Sáng,Thị Cận,Công Tường,Công Lân
Ngô Công Khoan sinh Công Thiết,Công Yên đều vô tự,Công Gia,Công Nghị,
Công Tri,Thị Chắt,Thị Linh,Thị Diên,Thị Khôi,Thị Khát,Thị Sáng
Ngô Công Bửu sinh Công Tế,Công Chất,Công Phu,Công Điệt,Thị ưng,Thị Đoi,
Thị Lý,Thị Biều,Thị Cá
Ngô Công Tô sinh Công Hóa
Ngô Công Nghi sinh Văn Phong,Thị Lý,Thị Sầu,Thị Nắm
Ngô Công Kỳ sinh Công Trinh,Công Trường,Công Duy,Công Chấp,Thị An,
Thị Bằng,thi Đắng
Ngô Công Cánh sinh Thị Nữ,Thị Bông
Ngô Công Ngàn sinh Công Chiêm
Ngô Công Khánh sinh Công Hà
Ngô Công Thanh sinh Công Nhai,Công Đàn,Công Ba (biệt tích),Công Tiêu,
Công Phong,Công Phổ,Thị Hối
Ngô Công Đàm sinh Công Giăng,Công Cân,Công Hạo,Công Thích,Thị San,Thị Nở,
Thị Dần
Ngô Công Tiềm sinh Công Kiên,Công Đàm,Công Tầm,Công Ái,Công Sỹ,
Công Thêm,Thị Diễm,Thị Như,Thị Hóa
Ngô Công Tạ sinh Văn Hiệu,Văn Thụy,Văn Thiêm (vt),Văn Vân,Văn Thược,
Văn Tắc,Thị Hà,Thị Nhứ,Thị Tụy
Ngô Công Triều sinh Công Tất,Công Lương,Công Như,Công Tòan,Công Tuấn,
Công Lân,Công Vẽ(vt),Thị Quân,Thị Vỹ,Thị Dương,Thị Chất,
Thị Thiết,Thị Gối,Thị Một
Ngô Công Thành sinh Công Hàm,Công Quốc,Công Bái,Công Vi,Công Chính,Thị Ý,
Thị Sáu,Thị Tám,Thị Ất,Thị Ngoan,Thị Tình
Ngô Công Kế sinh Công Tấn,Công Thân,Công Tự,Công Rắn,Công Liệu,
Công Lại ,Thị Yên,Thị Cư,Thị Diễn
Ngô Công Lực sinh Công Ba,Công Yên,Công Mốc,Văn Giàu,Công Bỉnh(vt),
Ngô Công Lương ở Hương chỉ Bình quý Thăng Bình
Ngô Công Mông sinh Công Giao,Công Ổn,Công Đáp,Công Triều,Công Chiến,
Thị Bốn,Thị Phong
Ngô Công Nhân sinh Công Nhứt,Công Bi
Ngô Công Khánh sinh Công Trực
Ngô Công Dụ sinh Công Thuật,Công Giáng,Công Vân,Thị Tố,Thị Kuyến,Thị Đi,
Thị Bài,Thị Chợ
Ngô Công Ban sinh Công Đinh,Công Khóan,Công Quý,Thị Phương,Thị Tín

Ngô Công Lân sinh Văn Đắt (vt)
Ngô Công Canh sinh Công Khuông,Công Thứ,Công Cư,Công Quy,Công Trí,
Thị Trâm
Ngô Công Thái sinh Công Chạy
Ngô Công Ngọt sinh Công Mía,Công Cúc,Công Thiện,Công Ngươn,Thị Liêm,
Thị Ngạch,Thị Sáu
Ngô Công An sinh Công Cờ,Công Phổ,Công Đạt,Công La
Ngô Công Thuận sinh Công Hòa,Công Cực
Ngô Công Phúc sinh Công Thọ,Công Phân,Công Liệt,Thị Nghèo,Thị Nặc,
Công Kiết
Ngô Công Tôn sinh Công Quách,Công Khảm,Thị Trương,Thị Đồi,Thị Thêm
Ngô Văn Hữu sinh Văn Mậu,Văn Một
Ngô Tấn Nguyên sinh Công Đạt,Công Hán,Công Trì,Công Vệ,Thị Thỉnh,Thị Huy,
Thị Hứa
Ngô Công Bảo sinh Công Đầu (vt),Thị Đó,Thị Cốc
Ngô Công Ban sinh Công Tư,Công Dõi,Thị Trung,Thị Lợi,Thị Ta
Ngô Công Bảo sinh Công Tồn,Công Tán,Thị Sở,Thị Giang,Thị Lác,Thị My
Ngô Công Giá sinh Công Đăng (vt),Thị Thám,Thị Ử,Thị Để,Thị Đặt
Ngô Công Phước sinh Công Đạo,Công Thành
Ngô Công Lội sinh Công Béo,Công Chớp đều vô tự,Thị Quý
Ngô Công Bằng sinh Thị Uy
Ngô Đắc Ý sinh Đắc Chí,Đắc Trừng,Đắc Trung,Thị Tiết,Đắc Lễ,Đắc Vơn,
Đắc Ban.
Đời thứ 38

38 Ngô Công Tường sinh Công Trinh,Công Kiêu,Công Quỳnh(vt),Thị Cúc,Thị Kinh,
Thị Quang,Thị Thảo
Ngô Công Lân sinh Công Hàng,Công Đặc,Thị Lãng,Thị Tế.Thị Xử,Thị Hiếu,Thị Hợi
Ngô Công Gia sinh Công Hòanh,Văn Mịch,Văn Đốc,Thị Chợ,Thị Tài,Thị Thồ,
Thị Thôn,Thị Gia
Ngô Công Tế sinh Công Lộc,Thị Khiểm,Thị Lịch
Ngô Công Chất sinh Công Mật,Công Trại,Công Hòanh,Công Liêm,Thị Hợp,
Thị Đát,Thị Diệu
Ngô Công Hóa sinh Công Vuột,Công Cối,Công Luận,Thị Lương,Thị Vi,Thị Mùi,
Thị Thanh,Thị Hường,Thị Chiêm,Thị Điều,Thị Khánh,Thị Hội
Ngô Công Chiêm sinh Công Diễn,Thị Bốn
Ngô Công Hà sinh Công Được,Công Hải,Công Phụng,Công Vi,Công Phái
Ngô Công Nhai sinh Công Kỷ,Công Thọ,Công Phò,Công Đợi,Thị Cận,Thị Trường,
Thị Ngọt
Ngô Công Phong sinh Công Tân,Công Tế,Công Canh,Công Dinh,Công Dần,
Thị Thập
Ngô Công Phổ sinh Công Chánh,Công Đường,Thị Héo,Thị Tựu,Thị Quánh
Ngô Công Giăng sinh Công Đáo,Công Thuộc,Thị Thành,Thị Nguy,Thị Bổ,Thị Kiết,
Thị Lai,Thị Thiệu
Ngô Công Cân sinh Công Chương,công Cẩn,Công Lộc,Thị Đăng,Thị Gia,
Thị Khánh
Ngô Công Hạo sinh Công Vạn,Công Cai,Công Biện,Thị Tròn
Ngô Công Đàm sinh Công Quế,Công Sóc,Công Đồi,Công Ca,Công Bường(vt),
Thị Hữu,Thị Chiêu,Thị Nhiễu
Ngô Công Tầm sinh Công Thơ,Công Hạnh,Thị Thi
Ngô Công Ái sinh Công Thành,Vĩnh Dự,Thị Hoa,Thị Thúc,Thị Tất,Thị Sùng
Ngô Công Thêm sinh Văn Cử,Thị Diệu,Thị Đặc,Thị Thiềm,Thị Đạo,Thị Bẻo
Ngô Văn Thụy sinh Công Hạnh,Công Tịnh,Thị Kỳ,Thị Khán,Thị Âm
Ngô Công Tắc sinh Công Sự,Công Tính,Công Kỳ,Công Tập,Công Miêu
Ngô Công Tất sinh Công Thắng,Công Duy,Công Nhỏ,Thị Đáng,Thị Cẩm
Ngô Công Lương sinh Công Lân,Công Đôi,Thị Thành
Ngô Công Như sinh Thị Tuấn,Thị Cẩn

Ngô Công Tòan sinh Công Xuân,Công Liệu,Công Thu Công Cụ
Ngô Công Hàm sinhCông Hương,Công Lãm,Công Thân,Thị Tiền,Thị Thủ,Thị Quế,
Thị Phương,Thị Tích
Ngô Công Quốc sinh Công Bôi,Công Tương,Công Bình,Công Chiêm,Công Chín
Ngô Công Vị sinh Công Phó
Ngô Công Tấn sinh Văn Giáo,Công Trực,Công Yến,Công Giá,Công Cơ,Thị Đăng
Ngô Công Thân sinh Công Bạ,Công Thành,Công NGẬT,Công Thùy,Thị Loan,Thị Kỳ
Ngô Công Tự sinh Công Hiếu,Công Thâm,công Ân,Công cần,Thị Lâm,Thị Hiếu
Ngô Công Rắn sinh Công Của,Thị Chấn,Thị Mau
Ngô Công Liệu sinh Công Đạt
Ngô Công Lại sinh Công Huy,Công Câu
Ngô Công Ba sinh Công Tiềm,Công Chuyên
Ngô Công Yên sinh Công Quyên,Công Nhặt,Công Lệ,Công Thôi
Ngô Công Giao sinh Công Nhưng,Công Quảng,Công Nho,Công Thu ,
Công Đăng,Công Trường
Ngô Công Nhứt sinh Công Nghệ
Ngô Văn Trực sinh Công Thành,Văn Huyên
Ngô Công Thuật sinh Công Dịch,Công Tường,Công Đá,Công Hương,Thị Tịnh,
Thị Tỉnh,Thị Chúc
Ngô Công Giáng sinh Công Trập,Công Đặc,Công Cu,Công Quyền,Công Thủ,
Thị Nhan,Thị Quạ,Thị Theo,Thị Chiến,Thị Truyền,Thị Lắm,Thị Cơm
Ngô Công Vân sinh Thị Chánh
Ngô Công Định sinh Công Bình,Thị Sáng,Thị Sắc
Ngô Công Quý sinh Công Giới,Công Tài, Thị Bát
Ngô Công Khuông sinh Công Tự,Công Dunh,Công Khố,Văn Liêu (vt),
Văn Đình (vt),Thị Đà,Thị Diều,Thị Ngươn
Ngô Công Thứ sinh Công Lý,Công Quỳnh,Thị Thao
Ngô Công Mía sinh Công Diệt (vt),Văn Vĩnh,Công Biều,Công Đốc,Thị Ngao,Thị Thi
Ngô Công Cúc sinh Văn Hùynh,Văn Lợi (vt),Thị Lam,Thị Đời,Thị Ngàn,Thị Biểu,
Thị Phẩm,Thị Miêu
Ngô Công Thiện sinh Văn Lẫm,Văn Nhựt,Văn Con,Văn Trinh,Hữu Thân,Thị Thị ,
Thị Lung,Thị Sử,Thị Dạt
Ngô Công Cờ sinh Công Cầu,Thị Quyên
Ngô Công Phổ sinh Thị Chiến
Ngô Công Đạt sinh Văn Thất
Ngô Công La sinh Công Lội,Công Chữ,Công Cai,Công Bền,Công Đàm,
Công Đạt,Công Ấn,Công Nhạt,Thị Tiết
Ngô Công Cực sinh Công Gần,Công Của,Công Lẫm,Công Cột
Ngô Công Hòa sinh Công Lượng
Ngô Công Thọ sinh Công Khôi,Công Giáo
Ngô Công Phân sinh Công Lợi,Thị Thảo
Ngô Công Liệt sinh Công Lẫm,Công Nhỉ,Công Trổ,Công Kỳ,Công Miễn,Thị Hòa
Ngô Công Quách sinh Công Cốt,Công Cò,Công Kỳ,Công Dần,Thị Tờ
Ngô Công Khảm sinh Công Niên,Công Giai
Ngô Văn Đạt sinh Vĩnh Viễn,Chánh Đạo,Thị Bế
Ngô Công Hán sinh Văn Sung,Thị Sắc,Thị Võ,Thị Vằn,Thị Viên,Thị Đồ
Ngô Công Trì sinh Công Luận,Công Héo,Thị Lời,Thị Thuận,Thị Luận
Ngô Công Tấn sinh Công Tài,Công Chất
Ngô Đắc Chí sinh Đắc Tâm,Đắc Thọai,Đắc Hưng,Đắc Chánh,Đắc Nào,Thị Lòng,
Thị Đặng,Thị Chua
Ngô Đắc Trung sinh Đắc Trực,Đắc Liệu,Đắc Định,Thị Bé,Thị Phẩm,Thị Đặt

Đời thứ 39

39 Ngô Công Trinh sinh Công Tiến,Công Phụng,Công Lộc,Hưng Nhượng,
Văn Mẹo,Thị Tiên,Thị Loan,Thị Thảo
Ngô Công Kiêu sinh Văn Khước,Văn Biện,tnị Bốn,Thị Nghe,Thị Tố
Ngô Công Hàng sinh Văn Lai,Văn Kiêm,Công Thuộc,Thị Sở,Thị Dóan,Thị Thử
Ngô Công Đặc sinh Công Hý,Công Chiêm,Thị Ngó,Thị Du,Thị Hè,Thị Lai,Thị Thế
Ngô Công Hoằng sinh Quý Thẩm,Văn Khuê,Quý Tuấn,thi Hành,Thị Nghiêm
Thị Hiệu
Ngô Công Lộc sinh Công Khế,Công Miên,Công Kèo,Công Cột,Công Rất,
Công Chiểu,Thị Đời,Thị Đường,Thị An,Thị Phận,Thị Lệ,
Thị Hòai,Thị Sữa
Ngô Công Mật sinh Công Bẻo,Công Co,Thị Tỵ,Thị Chi,Thị Giống,Thị Xin,Thị Dậu
Ngô Công Trại sinh Quý Liêu,Quý Thể,Quý Vấn,Quý Mèo,Thị Cột,Thị Tùng,
Thị Mít
Ngô Công Diễn sinh Công Từ
Ngô Công Được sinh Công Chít
Ngô Công Kỷ sinh Văn Liêm
Ngô Công Phò sinh Văn Học
Ngô Công Đợi sinh Công Của,Công Chung,Công Ra,Thị Mai,Thị Nhàn
Ngô Duy Quang sinh Văn Phương,Văn Trị,Văn Bình,Văn Liên,Văn Phó,Văn Cơ,
Văn Pháp
Ngô Công Tân sinh Công Chiểu,Công Truyền,Công Ban,Công Giáp,Thị Phiên,
Thị Ất
Ngô Công Tế sinh Công Tọa,Công Mèo,Công Tuất,Công Hợi,Thị Linh,
Thị Diên,Thị Dực,Thị Út
Ngô Công Dinh sinh Công Cổn,Công Chánh,Công Cừu,Thị Trực,Thị Hùynh,Thị Y,
Thị Lệ
Ngô Công Dần sinh Công Dần,Công Nơm,Công Trĩ,Công Kích,Công Thái,
Thị Mãnh,Thị Kỳ,Thị Tỵ
Ngô Công Chánh sinh Văn Quý
Ngô Công Chương sinh Văn Ngự,Văn Cai,Văn Giới
Ngô Công Cẩn sinh Văn Thân,Văn Trung,Văn Lai,Văn Vỉnh
Ngô Công Lộc sinh Duy Tự,Văn Huy,Văn Chỉ,Thị Thiết,Thị Du,Thị Chày,Thị Quý
Ngô Công Vạn sinh Văn Thiên,Văn Niên,Công Hậu
Ngô Công Biên sinh Văn Từ,Văn Ngôi,Văn Tố
Ngô Công Cai sinh Văn Tịnh
Ngô Công Quế sinh Duy Dương,Văn Chơn,Văn Kiều
Ngô Công Sóc sinh Công Sùng(vt),Văn Sầm
Ngô Công Đồi sinh Công Bậc
Ngô Công Ca sinh Văn Quyến,Thiên Kế,Văn Giác,Văn Út
Ngô Công Thơ sinh Văn Vinh
Ngô Công Thành sinh Văn Lân,Văn Hóng,Văn Liễu,Văn Nhân,Văn Phổ,
Văn Tấn,Văn Cột,Thị Nghề
Ngô Vĩnh Dự sinh Văn Kiêu,Văn Bỉnh,Văn Hiển,Văn Chít
Ngô Văn Cử sinh Văn Nguyên,Văn Thục
Ngô Công Hạnh sinh Văn Lai,Văn Thức,Văn Hợi
Ngô Công Tịnh sinh Công Kỉnh,Công Đức,Công Ái,Công Tọ,Công Bế
Ngô Công Tính sinh Công Hoặc,Công Hoan
Ngô Công Kỳ sinh Công Chiêu
Ngô Công Tập sinh Công Phương,Công Diệu
Ngô Công Miêu sinh Văn Đinh,Văn Hiệp
Ngô Công Thắng sinh Công Sương,Công Lãnh,Thị Bé
Ngô Công Duy sinh Công Vinh,Công Hề,Công Uynh,Công Lội
Công Định,Thị Màng,Thị Giai
Ngô Công Xuân sinh Công Có,Công Của,Công Đệ,Công Đốc,Thị Ngại,Thị Hay
Ngô Công Hương sinh Thị Diên,Thị Trường
Ngô Công Thân sinh Công Đấu,Công Mùi,Công Chược
Ngô Công Bôi sinh Công Thiêng,Công Huân,Công Út,Công Thiện,Công Phú,
Công Lý,Công Thu
Ngô Công Phó sinh Thị Mưu,Thị Nhi
Ngô Công Giáo sinh Công Thạnh
Ngô Công Sính sinh Thị Trí
Ngô Công Thâm sinh Công Chữ,Công Nghĩa
Ngô Công Ân sinh Công Hằng,Công Săn,Công Hữu,Công Lý,Công Chất,
Văn Vững,Văn Chắc,Văn Sức,Thị Tín,Thị Diên
Ngô Công Của sinh Công Nhiều
Ngô Công Hy sinh Văn Trinh,Công Chôn,Văn Lý(vt),Văn Đuốc
Ngô Công Câu sinh Công Câu (vt),Văn Bình,Văn Thành
Ngô Công Quyên sinh Thúc Tuân,Quý Lâm
Ngô Công Nhặt sinh Văn Trang,Công Hiệu,Thị Bích
Ngô Công Lệ sinh Công Đôi,Công Đòi,Công Thái,Công Giới(vt),Công Gia,
Công Hòa,Công Kiệt,Công Thân,Thị Lệ,Thị Bến
Ngô Công Thôi sinh Văn Đá
Ngô Công Nhưng sinh Công Dưỡng
Ngô Công Quảng sinh Công Vượng,Công Lắm,Công Môn,Công Sáp,Công Sọan,
Thị Cối
Ngô Công Nho sinh Thị Xướng,Thị Mầu
Ngô Công Thu sinh Công Hiến,Công Thạch,Công Ngoan
Ngô Công Trường sinh Công Nghiệm,Công Ruồi,Công Ra
Ngô Công Nghệ sinh Ngô Hán,Ngô Sử
Ngô Công Hương sinh Công Phú,Công Chiếu,Công Tử,Công Bẻo,Công Tất,
Thị Thơ,Thị Hằng,Thị Đá,Thị Quả,Thị Sữa
Ngô Công Trập sinh Công Dung,Công Kiêm,Công Phổ,Thị Vinh,Thị Thân,Thị An,
Thị Thái,Thị Chờ
Ngô Công Đặc sinh Công Vân
Ngô Công Cư sinh Văn Long,Thị Vằn
Ngô Công Bình sinh Thị Ruộng,Thị Thuột,Thị Nội
Ngô Văn Giới sinh Công Đó
Ngô Công Tự sinh Công Trọng,Công Đọat,Công SứcCông Đáo,Thị Câu,Thị Kéo
Ngô Công Dung sinh Công Tùng,Công Thu,Công Chất,Văn Đổng
Ngô Công Khố sinh Công Xuyến,Văn Tứ
Ngô Công Lý sinh Công Quảng,Công Tân,Công Trực,Thị Sung,Thị Ngân
Ngô Công Quỳnh sinh Văn Trước,Văn Giai,Văn Vận,Thị Duy,Thị Cử,Thị Thời,
Thị Tháo
Ngô Công Vĩnh sinh Văn Bổ,Văn Tử,Văn Tráng,rhị Đủ
Ngô Công Đốc sinh Văn Trạch
Ngô Công Hùynh sinh Văn Chất,Văn Hữu
Ngô Văn Con sinh Công Viên,Công Luận,Văn Vũ,Văn Diệt,Văn Đó,
Văn Nhơn(vt),Thị Trực,Thị Ngao
Ngô Hữu Thân sinh Văn Hòai(vt),Văn Sừng,Thị Lửa,Thị Tể,Thị Hỷ,Thị Cay,
Thị Nghi
Ngô Công Cầu sinh Văn Ngốc,Văn Kha
Ngô Văn Thất sinh Văn Tinh,Văn Chiết đều vô tự
Ngô Công Lội sinh Văn Cày (vt)
Ngô Công Bền sinh Văn Ấn,Văn Bình,ba trai vô tự (Văn Trương,Văn Đó,Văn Sữa)
Ngô Công Đàm sinh Văn Muối,Văn Út,Văn Nghệ,Văn kỳ đều vô tự,Văn Thể
Ngô Công Nhạt sinh Văn Xung,Văn Tổ
Ngô Công Ấn sinh Văn Lư,Văn Có
Ngô Công Của sinh Văn Lộc
Ngô Công Lẫm sinh Văn Ban,Văn Nầy,Thị Hứa
Ngô Công Cột sinh Văn Kiều
Ngô Công Lượng sinh Văn Đúc,Công Đăng
Ngô Công Khôi sinh Công Nầy,Công Nò,Công Điền
Ngô Công Lợi sinh Công Đực
Ngô Công Nhĩ sinh Văn Đực,Văn Đông Thị Đính,Thị Chút,Thị Tới
Ngô Công Trỗ sinh Công Điển,Văn Con,Thị Lựu,Thị Đào
Ngô Công Miễn sinh Công Diễn
Ngô Công Cốt sinh Văn Ấn,Văn Bình
Ngô Công Cò sinh Văn Liên,Văn Lộc,Thị Vinh,Thị Mày
Ngô Công Niên sinh Văn Tùng,Văn Bàn,Văn Khương,Văn Sửa,Văn Định,
Văn Tiếu,Văn Lúc
Ngô Công Giai sinh Văn Bẽo,Văn Quý,Thị Diệu,Thị Giai
Ngô Vĩnh Viễn sinh Văn Dụ,Văn sài,thụi Ngư,Thị Vỵ,Thị Thảo,Thị Luận,Thị Tài
Ngô chính Đạo sinh Văn Tập,Văn Nghiêm,Văn Quỳ,Văn Phụng,Thị Điều,Thị Trực,
Thị Cư,Thị Tố.
Ngô Văn Sung sinh Văn Cội,Văn Cò,Văn Ngốc,Văn Nghiên,Văn Đuôi,Thị Cốc,
Thị Chiếc,Thị Diều
Ngô Công Luận sinh Văn Khiêm,Văn Bích,Văn Huy,Thị Thời
Ngô Công Héo sinh Văn Chức,Văn Kiều
Ngô Công Tài sinh Thị Một
Ngô Đắc Tâm sinh Đắc Tính,Đắc Bình, Thị Bèn,và bảy người con trai khác vô tự
Ngô Đắc Thọai sinh Đắc Bình,Thị Kênh
Ngô Đắc Hưng sinh Đắc Công,Đắc Nghị,Đắc Ngọ,Đắc Đấu,Thị Cỗi
Ngô Đắc Chánh sinh Đắc Vọng,Đắc Thục,Thị Nga,Thị An
Ngô Đắc Nào sinh Đắc Lực vô tự
Ngô Đắc Liệu sinh Đắc Đông,Đắc Kèo (cả hai vô tự),Đắc Khâm,Đắc Ó,Thị Trà,
Thị Tàu
Ngô Đắc Định sinh Đắc Khoa,Đắc Chung,Đắc Chút.

Đời thứ 40

40 Ngô Công Tiến sinh Văn Giác,Văn Hạnh,Văn Chút,Thị Điều,Thị Tộ,Thị Kính,
và bảy trai vô tự: (Văn Thất,Văn Hiếu,Văn Được,Văn Chít,Văn Đĩnh,
Văn Hy,Văn Ngỗng)
Ngô Hưng Nhượng sinh Văn Thi,Văn Thành,Văn Vịnh,ba trai vô tự ( Văn Dực,Văn Tú,
Văn Thức),Thị Kinh,Thị Thận,Thị Hợi,Thị Tóan.
Ngô Văn Lai sinh Văn Túy (vô tự),Văn Dĩ,Văn Đức ,Văn Nho,Văn Dinh,Văn Hoặc,
Văn Huyến,Văn Mẹo (vt),Văn Thận,Văn Thuấn (vt),Thị Liễu,Thị Hòe,
Thị Nhựt,Thị Hiếu,Thị Đễ.
Ngô Văn Kiêm sinh Văn Liên,Văn Duột,Văn Thực,Văn Trúng,Văn Đào,Văn Quý,
Văn Tuấn,Văn Tọai,Văn Súy (cả chín người đều vô tự),
Văn Sừng,Văn Hòa,Văn Giá.
Ngô Công Thuộc sinh Văn Cu (vt),Văn Cưỡng,Thị Lang,Thị Đẹt,Thị ChúT.
Ngô Công Hý sinh Văn Sương,Văn Mẹo.
Ngô Quý Thẩm sinh Văn Tiễn,Văn Diêu,Văn Tân,Văn Tọai,Văn Truy,Văn Tấn,
Văn Thích,Văn Nhã,Văn Đạt,Thị Đích,Thị Xuyến.
Ngô Quý Tuấn sinh Văn Diêm,Văn Sính,Văn Quá,Văn Trì,Văn Phùng,Văn Ngộ,
Văn Sửu,Văn Liên,Thị Sáu,Thị Thức.Thị Mai,Thị Đàn,Thị Đạm.
Ngô Công Khế sinh Văn Bính,Thị Đinh,Thị Tỵ.
Ngô Công Miên sinh Văn Tý,Thị Lon,Thị Tài,Thị Nghề,Thị Nghiệp,Thị Thân.
Ngô Công Rất sinh Văn ChuộT.
Ngô Công Chiểu sinh Văn Liễu.
Ngô Quý Liêu sinh Văn Nơm,Văn Sơ,Văn Bơ,Thị Nở.
Ngô Quý Thể sinh Văn Giõ (vt),Thị Hơn.
Ngô Công Chít sinh Công Nhan,Công Tấn,Công Kiệt,Công Viết (vt),Thị Nguyệt,
Thị Năm,Thị Trưng,Thị Huân,Thị Chỉ,Thị Long,Thị Trà,Thị Huy,Thị Chi.
Ngô Công Của sinh Công Lẫm,Công Lúa,Công Hiệp,Công Hội (vt),Công Hương,
Thị Sum,Thị Ưng.
Ngô Công Chung sinh Văn Khêu,Văn Đuốc,Văn Khá,Văn No,Văn Được,
Văn Thắng,Văn Thiệt,Văn Mẫn,Văn Mua,Thị ĐợT.
Ngô Công Ra sinh Văn Chức,Văn Hướng,Thị Xúc.
Ngô Công Chiểu sinh Công Bông,Thị Thuần,Thị Ba.
Ngô Công Truyền sinh Công Dung,Thị Vu,Thị Bổn,Thị Niên.
Ngô Công Ban sinh Công Hậu,Công Đích,Thị Lan,Thị Đôi.
Ngô Công Tọa sinh Công Cư,Thị Tọai,Thị Diệt,Thị Kiến.
Ngô Công Tuất sinh Công Thại,Công Dư,Công Đố,Thị Cho,Thị Dụng,Thị Vây,Thị Nấm.
Ngô Công Hợi sinh Công Cay,Công Sành,Công Chích,Công Can,Thị Khuy,Thị Thôn,
Thị ChúT.
Ngô Công Cổn sinh Công Giáo,Công Nhượng,Công Lý,Thị Tường,Thị Lành,Thị Đủ.
Ngô Công Cừu sinh Văn Nhã,Thị Hiếu.
Ngô Công Thái sinh Văn Tha,Văn Thích,Văn Kinh,Văn Xin,Văn Hích,Văn Xí.
Ngô Duy Tự sinh Văn Khởi,Văn Mù,Văn Thám,Văn Tử,Văn Mén,Thị Khuê,
Thị Thuận,Thị Thảo,Thị Mơ,Thị Sữa.
Ngô Văn Huy sinh Văn Chơn,Văn Tứ,Văn Tân,Văn Hỷ,Thị Thuần,Thị Tòan,
Thị Tam,Thị Tuất,Thị Em.
Ngô Văn Chỉ sinh Văn Hựu,Văn Xa,Văn Cho,Văn Mén.
Ngô Duy Dương sinh Văn Lọ (vt).
Ngô Văn Chơn sinh Văn Lâm,Văn Ngộ,Văn Đóan,Thị Quyên,Thị Hành,
Thị Nhường,Thị Kiết,Thị Tương,Thị Mai,Thị Bản,Thị Hòe.
Ngô Văn Kiều sinh Văn Cốc,Văn Huấn,Thị Giống.
Ngô Văn Sầm sinh Văn Ty,Văn Lai,Văn Hoan,Văn Mẹo,Thị Giảng,Thị Tuất,
Thị Mùi,Thị Nhỏ,Thị Em.
Ngô Thiên Kế sinh Văn Đổng,Văn Thống,Văn sấm,Thị Chi,Thị Đạm,Thị Sáu.
Ngô Văn Quyến sinh Văn Như.
Ngô Văn Út sinh Văn Thượng,Văn Thân,Thị Hinh.
Ngô Văn Vinh sinh Văn Dỏng.
Ngô Văn Thức sinh Văn Lập,Văn Hung.
Ngô Văn Hợi sinh Văn Mèo,Văn ChuộT.
Ngô Văn Hóng sinh Văn Hải,Văn Liên,Văn Con,Văn Sỏi,Thị Họat,Thị Xong.
Ngô Văn Phổ sinh Văn Phụng,Thị Dõan.
Ngô Văn Tấn sinh Thị Huyền.
Ngô Văn Hiển sinh Văn Vỹ,Văn Hỷ,Văn Sỹ,Văn Thảo,Văn Nghi,Văn Con,Thị Đỉnh.
Ngô Văn Bỉnh sinh Văn Chữ,Văn Bầu.
Ngô Văn Chít sinh Văn Tiết (vt).
Ngô Văn Thục sinh Văn Hoan.
Ngô Văn Hiệp(Hợi) sinh Văn Đây,Ngô Ngộ,Văn Chí,Văn Giảng.
Ngô Công Sương sinh Công Lê.
Ngô Công Lãnh sinh Văn Đỗng,Văn Giai,Văn Đủ,Thị Bảy,Thị Học,Thị Thêu,
Thị No.
Ngô Công Vinh sinh Văn Lâu,Thị Thời.
Ngô Công Hề sinh Công Sách,Văn Khiêm,Chánh Kinh,Văn Hộ,Văn Quý,
Văn Lai,Thị Thể,Thị Nữ.
Ngô Công Uynh sinh Thị Xá.
Ngô Công Lội sinh Văn Chiến,Văn Trường.
Ngô Công Của sinh Văn Viên,Văn Để,Thị Đinh,Thị Hành.
Ngô Sung sinh Ngô Liền,Ngô Điệp.
Ngô Công Đấu sinh Văn Cẩm,Văn Tòan,Văn Nhành.
Ngô Công Mùi sinh Văn Xin,Thị Cửu,Thị Lem,Văn Búa,Văn Rìu.
Ngô Công Chược sinh Văn Khai,Thị Thắng,Thị Quảng.
Ngô Công Huân sinh Văn Gà,Thị Giao,Thị Kiệm.
Ngô Văn Vững sinh Văn Kiều,Văn Bẻo,Thị Hơn,Thị Điêu,Thị Thuyền.
Ngô Văn Sức sinh Văn Yêm,Thị Sùng,Thị ĐuộT.
Ngô Công Nhiều sinh Văn Sắc,Văn Biên,Văn Lai,Thị Huề,Thị Đường,Thị Hậu.
Ngô Thúc Tuân sinh Công Phiên.
Ngô Quý Lâm sinh Công Quyền,Văn Đới.
Ngô Công Hiệu sinh Văn Nhưng (vt),Văn Đông,Văn Mén.
Ngô Công Đôi sinh Công Hiểu,Công Mưa,Công Đích,Công Ngộ,Thị Phước,
Thị Ngọ,Thị Trước,Thị Liễu.
Ngô Công Hòa sinh Thị Thiệt,Thị Cây,Thị Nhánh.
Ngô Công Kiệt sinh Công Trân,Văn Khóai,Công Lục.
Ngô Công Thân sinh Công Nghị,Công Duyên,Công Biên,Công Quý,Thị Nầy,
Thị Hòanh,Thị Sữa.
Ngô Công Vượng sinh Văn Khuê.
Ngô Công Lắm sinh Công Nhượng,Công Hòa,Công Xuyến.
Ngô Công Môn sinh Công Học,Công Nồi,Thị Húc,Thị Heo.
Ngô Công Sáp sinh Văn Báu,Thị Khóai,Thị Dây.
Ngô Văn Sọan sinh Văn Sành,Thị Ruồi,Thị Bến.
Ngô Công Phú sinh Công Ngốc,Công Tiếu,Công Núc.
Ngô Công Chiếu sinh Văn Diệt,Văn Hóan,Văn Ních,Văn Tròn,Thị Đó,Thị No.
Ngô Công Bẻo sinh Văn Lượng,Văn Đính,Văn Hợi,Thị Ký,Thị Cân,
Thị Yến,Thị Chí.
Ngô Công Tất sinh Công ChúT.
Ngô Công Phổ sinh Văn Diêm,Văn Búa,Văn Rìu,Văn Liềm,Văn Méo,
Thị Lựu,Thị Miến,Thị ChúT.
Ngô Công Vân sinh Văn Địch,Văn Thời,Văn Yên,Văn Niếu,Thị Văng,
Thị Biện,Thị Hảo,Thị Hiệp.
Ngô Văn Long sinh Văn Chung,Văn Truy,Thị Thận,Thị Viễn,Thị Meo.
Ngô Công Trọng sinh Văn Tá,Văn Xược,Văn Bố,Văn Quyền,Văn Sở,
Thị Đàn,Thị Hải,Thị Dần.Thị Lăng.
Ngô Công Đọat sinh Văn Nghề,Thị Lạc,Thị Dậu,Thị Kiến.
Ngô Công Đáo sinh Văn Bi,Văn Heo,Thị Hiền.
Ngô Công Tùng sinh Công Hội,Công Hiệp.
Ngô Công Thu sinh Văn Bửu,Công Tòan,Thị Thu,Thị Thơ,Thị Thìn.
Ngô Văn Tứ sinh Văn Phu,Văn Thời,Văn ÚT.
Ngô Công Quảng sinh Văn Sô,Văn Kiết,Văn Phổ,Văn Tư (đều vô tự),
Văn Tỏan,Văn Thâm,Văn Thời,Thị Ky,Thị Thái.
Ngô Công Trực sinh Văn Tố,Văn Như,Thị Vi,Thị Kha.
Ngô Văn Trước sinh Công Duật,Văn Lo,Văn Giã,Văn Mùi,Văn Điểu,
Văn Tài,Thị Chương,Thị Mau.
Ngô Văn Giai sinh Văn Cát,Văn Lượng.
Ngô Văn Vận sinh Văn Xuân,Văn Sành,Văn Sáu,Văn Dân,
Văn Học,Văn Thi.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Hiệu,Văn Tiếu,Văn Vinh,Thị Bổ,Thị Tế,Thị Tú.
Ngô Văn Tử sinh Văn Nhị (vt),Văn Lai,Văn Hòa,Văn Cục,Thị Chỉ,
Thị Nhi.
Ngô Văn Tráng sinh Văn Kỷ,Văn Vỹ,Thị Phước,Thị Hiếu.
Ngô Văn Chất sinh Văn Bửu,Văn Quỳ,Văn Bẩm,Văn Giáp,Văn Vò,
Văn Chỉnh.
Ngô Công Viên sinh Văn Dĩnh,Thị Úc,Thị Sang và ba trai đều vô tự (Văn Hùng,
Văn Hợi,Văn Thời).
Ngô Văn Diệt sinh Văn Liễu,Văn Mậu,Văn Hinh,Thị Tố.
Ngô Văn Sừng sinh Văn Kiết,Văn Tuân,Văn Tuân em (vt),Thị Khâm,Thị Kín.
Ngô Văn Ấn sinh Văn Điền,Thị Nhựt,Thị Thuận,Thị Tú.
Ngô Văn Bình sinh Văn Dõ (vt).
Ngô Văn Lộc sinh Thị Hơn,Thị ThiếT.
Ngô Công Nầy sinh Công Thùy.
Ngô Công Nò sinh Công Thung ,Công Liễu.
Ngô Công Điền sinh Công Lập.
Ngô Văn Sữa sinh Văn Dậu,Văn Dự,Văn Con,Thị Chút,Thị Phán,Thị Chí.
Ngô Văn Định sinh Văn Ty,Văn Cu,Văn Chuột,Văn Mau,Thị Thỏ,Thị Văn.
Ngô Văn Tiếu sinh Văn Lâm,Thị Thể,Văn Xịt,Văn Mặt,Thị Xin,Thị Ra,Thị XụT.
Ngô Văn Lúc sinh Thị Đó.
Ngô Văn Bẽo sinh Văn Kiều,Thị Nòai,Thị Tý.
Ngô Văn Quý sinh Văn Phố,Thị Xuân,Thị Phường.
Ngô Văn Dụ sinh Văn Hạo,Văn Chít,Văn Tuân,Văn Nhỏ,Thị Ngfhệ,Thị Mén.
Ngô Văn Quỳ sinh Văn Tọai,Văn Túy,Văn Điểu,Văn Trác,Văn Út,Thị Sáo,
Thị Tiếu,Thị Tuyển,Thị Biện.
Ngô Văn Phụng sinh Văn Tiềm,Thị Ty,Thị Em.
Ngô Văn Cội sinh Văn Mén,Văn Ngao,Văn Du,Văn Hà,Văn Nội,Thị Ốc.
Ngô Văn Nghiên sinh Thị Thanh,Thị Dương,Thị Minh.
Ngô Văn Khiêm sinh Văn Chữ,Văn Mèo,Văn ChuộT.
Ngô Văn Bích sinh Văn Dậu,Thị Hỏi,Thị Xê,Thị Đó,Thị Hàn.
Ngô Đắc Tính sinh Đắc Trích,Thị Bình,Thị Loan,Thị Đã,Thị Mẫn,Thị Mùi.
Ngô Đắc Bình sinh Đắc Trâu,Thị Cung,Thị Trở.
Ngô Đắc Bình sinh Đắc Sữa,Đắc Gậy,Đắc Miêu,Đắc Khét,Đắc Cờ,Thị Viện,
Thị Xích,Thị Tửu.
Ngô Đắc Công sinh Đắc Kế,Đắc Hốc,Đắc Khuất,Thị Hoang,Thị Thuận,Thị Duy.
Ngô Đắc Nghị sinh Đắc Tuyển (vt),Đắc Điện,Đắc Xin,Thị Thỏa.
Ngô Đắc Ngọ sinh Đắc Nghê,Thị Mi.
Ngô Đắc Vọng sinh Đắc Tiếu,Đắc Ngại,Đắc Hâm,Đắc Lạc,Thị Khước,
Thị Hạnh,Thị Nhỏ,Thị ChúT.
Ngô Đắc Khâm sinh Đắc Chuẩn,Đắc Trì,Đắc Năm,Thị ChúT.
Ngô Đắc Ó sinh Đắc Nghạnh,Đắc Nhỏ,Đắc Vện,Đắc Mực,Đắc Chút,Thị Cô,
Thị Quýt,Thị Tầm,Thị Nhỏ,Thị Xoắn.

Đời thứ 41

41 Ngô Văn Giác sinh Văn Thể,Văn Mến (vt),Thị Thừa,Thị Xây,Thị Bé.
Ngô Văn Hạnh sinh Văn Hoan,Văn Tốt (đều vô tự).
Ngô Văn Chút sinh Thị Nghiễm.
Ngô Văn Thi sinh Văn Khóa,ba trai vô tự (Văn Cẩn,Văn Mật,Văn Nhơn),Thị Danh,
Thị Ký,Thị Tung.
Ngô Văn Thành sinh Văn Thuyên (vt),Thị Ấm,Thị Dung.
Ngô Văn Vịnh sinh Văn Dần,Văn Cán,Văn Mới,Thị MóT.
Ngô Văn Dĩ sinh Thị Đường.
Ngô Văn Chức sinh Văn Chút,Văn Mính,Văn Chớ,Thị Đáo.
Ngô Văn Nho sinh Văn Cáo,Thị Chơn,Thị Thời,Thị Em.
Ngô Văn Dinh sinh Văn Hữu (vt),Thị Đãi.
Ngô Văn Hoặc sinh Văn Sắc,Thị Mỹ,Thị Lãm,Thị Nữ.
Ngô Văn Huyến sinh Văn San,Văn Đá (cả hai vô tự),Thị Đãi.
Ngô Văn Thận sinh Văn Dậu,Văn Sanh,Văn Kiếm,Văn Đấu,Văn Tham (đều vô tự),
Văn Mính,Văn Lý,Văn Út,Văn Nấu,Thị Bôi,Thị Khâm,Thị Hương.
Ngô Văn Sừng sinh Văn Tuân,Văn Tụy,Văn Vân,Văn Bốc (đều vô tự),Văn Mực,
Thị Nhơn,Thị Nghĩa.
Ngô Văn Hòa sinh Văn Em,Văn Ninh,Văn Tặc (đều vô tự),Văn Được,
Thị Bường,Thị Lượm.
Ngô Văn Giá sinh Văn Phẩm,Văn Hường,Thị Hương.
Ngô Văn Cưỡng sinh Văn Sáo.
Ngô Văn Tọai sinh Văn Hòe,Thị Cậy,Thị Lụa,Thị Út,Thị Gần,Thị Liễu,Thị Lý.
Ngô Văn Thích sinh Văn Trừng,Văn Tư.
Ngô Văn Nhã sinh Văn Luyến,Văn Từ,Thị Tuệ.
Ngô Văn Đạt sinh Văn Ân,Văn Ý,Thị Thông.
Ngô Văn Quá sinh Văn Hợi,Văn Thìn,Thị Tưởng.
Ngô Văn Trì sinh Văn Thứ,Văn Thiệu,Văn Bi,Thị Mực.
Ngô Văn Sứu sinh Văn Nhồng,Văn Chung,Văn Quy,Văn Khá,Văn Đến,Văn Nhỏ,Thị KéT.
Ngô Văn Liên sinh Văn Châu.
Ngô Văn Bính sinh Văn Ất,Văn Mao,Văn Hiên.
Ngô Văn Tý sinh Văn Thiện,Văn Quế.
Ngô Văn Sơ sinh Văn Vện,Văn Thọ (cả hai vô tự),Thị Vàng.
Ngô Văn Bơ sinh Thị Liễu.
Ngô Công Nhan sinh Công Bàn.
Ngô Công Tấn sinh Công Đông,Công Lại (vt).
Ngô Công Kiệt sinh Công Méo.
Ngô Công Lẫm sinh Công Dư,Thị hừa,Thị Vận.
Ngô Công Lúa sinh Công Nầy,Công Lái ,Công Thuyền,Công Tới (cả bốn vô tự),
Công Sào.
Ngô Công Hiệp sinh Công Hòa.
Ngô Văn Khêu sinh Công Thích,Văn Hoặc,Văn Kiếm,Thị Héo,Thị Thơm,Thị Lộng.
Ngô Văn Đuốc sinh Ngô Lễ (mất tích),Thị Chuyện,Thị Mèo.
Ngô Văn Thắng sinh Văn Vững,Văn SéT.
Ngô Văn Chức sinh Văn Phận,Văn Trâu,Thị Bò,Thị Bầy,Thị Cái,Thị Nai.
Ngô Văn Hướng sinh Văn Thơ,Thị Mùi.
Ngô Công Đích sinh Văn Phiến,Thị Tuyển.
Ngô Công Giáo sinh Công Thự,Thị Lai,Thị Hợi.
Ngô Công Thại sinh Văn Ngân,Văn Minh,Văn Thước,Văn Cường,Thị Mai,Thị Quế.
Ngô Công Sành sinh Văn Sọan,Văn Suối,Thị Du.
Ngô Công Lý sinh Thị Ngốc.
Ngô Văn Nhã sinh Văn Vằn,Thị Điền,Thị Nuôi,Thị Mọi.
Ngô Văn Khởi sinh Văn Tâm,Văn Hỷ,Văn Lân,Thị Sọan,Thị Thể,Thị Như,Thị Nhiên.
Ngô Văn Mù sinh Văn Kinh,Thị Xâu,Thị Xách,Thị Xít,Thị Nguyên,Thị Nhỏ,
Thị Khai,Thị Tiếu.
Ngô Văn Thám sinh Văn Em,Thị Nhơn,Thị Đãi,Thị Giá,Thị Duyên.
Ngô Văn Tử sinh Văn Kích.
Ngô Văn Tân sinh Ngô Câu.
Ngô Văn Hỷ sinh Văn Đệ (phân chi Plâycu).
Ngô Văn Lâm sinh Văn Bổ,Văn Giao,Ngô Bồi,Thị Hồ.
Ngô Văn Ngộ sinh Văn Ngộ,Thị Chút,Thị Đỉnh.
Ngô Văn Đóan sinh Văn Mạnh,Văn Tụng.
Ngô Văn Cốc sinh Văn Quy,Văn Phụng.
Ngô Văn Huấn sinh Văn Huấn,Văn Luyến,Thị Thử,Thị Thìn,Thị Bé,Thị Tôm,Thị Tép.
Ngô Văn Lai sinh Văn Thiệt,Văn Phẩm,Văn Côn.
Ngô Văn Đổng sinh Ngô Tích,Ngô Lưu,Ngô Lạc,Ngô Dò,Ngô Vàng,Ngô Vịnh,
Thị Kiệt,Thị Mai.
Ngô Văn Thống sinh Ngô Cán.
Ngô Văn Như sinh Thị Kiến.
Ngô Văn Thượng sinh Ngô Nuôi,Ngô Mực,Thị dày.
Ngô Văn Lập sinh Văn Lập.
Ngô Văn Hung sinh Văn Kiểm,Văn TốT.
Ngô Văn Chuột sinh Ngô Bộ,Ngô Thà,Thị Thạc,Thị Mùi.
Ngô Văn Vỹ sinh Văn Mẹo,Văn Thuật,Ngô Số,Văn Xin,Thị Dậu,Thị Nhỏ.
Ngô Văn Đây sinh Ngô Xé,Thị Huy,Thị May,Đức Thanh,Đức Thân (vt),
Thị Hạnh,Thị Phước,Thị Tâm.
Ngô Ngộ sinh Ngô Định,Ngô Thiêm (Ls.),Xuân Nhĩ,Thị Bình.
Ngô Chí sinh Ngô Thắng,Thành Tài,Ngô Thạnh,Đức Dư,Đức Dinh,Thị Xuân,
Thị Thu,Thị Nguyện,Thị Ước.
Ngô Giăng sinh Ngô Khái,Quang Thành,Ngô Khá,Thị Thương,Thị Thử.
Ngô Sang sinh Thị Mãn,Thị Lượm.
Ngô Liền sinh Ngô Tích,Ngô Pho,Thị Ưng,Thị Thời.
Ngô Điệp sinh Ngô Điệp.
Ngô Công Lê sinh Công Sách,Văn Giai,Thị Hiếu.
Ngô Văn Dai sinh Văn Do,Văn Luân,Ngô Tháo.
Ngô Văn Trác sinh Văn Trực,Văn Chỉ,Văn Diện,Văn Thâm,Văn Liêu,
Thị Tung,Thị Tương,Thị Thâm.
Ngô Văn Đủ sinh Văn Chí,Thị Chánh,Thị Hồi,Thị Họat,Thị Tâm,Thị Kế.
Ngô Văn Lâu sinh Thị Lâu,Thị Đài,Ngô Lệ.
Ngô Văn Khiêm sinh Văn Đạt,Văn Viện,Ngô Đăng,Thị Như,Thị Vận,
Thị Thi,Thị Xin,Thị Niệm.
Ngô chánh Kinh sinh Văn Huấn,Thị Bá,Thị Thọai,Thị Giăng.
Ngô Văn Hộ sinh Văn Vân,Công Đam,Văn Cận,Thị Vận,Thị Ruồi.
Ngô Văn Quy sinh Văn Mậu,Văn Thuần.
Ngô Văn Cẩm sinh Văn Cẩm,Hữu Điển,Duy Trịnh,Kiêm Giám,Thị Tù,Thị Chấp.
Ngô Văn Xin sinh Văn Tuyển,Văn Đó,Thị Cái.
Ngô Văn Gà sinh Văn Thâm,Văn Liễu.
Ngô Văn Kiều sinh Văn Luôn ,Văn Còn,Văn Mới,Văn Cũ,Văn Vu,Thị Thời,
Thị Thân,Thị Len,Thị Luốc,Thị Lọ.
Ngô Văn Bẻo sinh Văn Ngọ,Văn Tý,Văn Mẹo,Thị Hợi,Thị Dần,Thị Thìn,
Thị Mùi.
Ngô Văn Yêm sinh Thị Phận,Thị Chắc,Thị Thiệt,Thị Thêm.
Ngô Văn Biên sinh Văn Chút,Thị Kỷ,Thị Phối,Thị Dần.
Ngô Văn Lai sinh Công Xin,Công Bèn,Văn Nuôi,Văn Xe,Văn Miên,Thị Cân,
Thị Thừa,Thị Hành.
Ngô Công Phiên sinh Ngô Cả (vt),Ngô Lãm,Ngô Diễn,Văn Út,Thị Phặt,
Thị Sắc,Thị Thòan,Thị Mọi,Thị Nghiệp.
Ngô Văn Đông sinh Văn Mẹo,Văn Ký,Văn Gậy,Thị Qua,Thị Bồi,Thị Kiều,
Thị Cúc.
Ngô Văn Mén sinh Văn Đó,Văn Cư,Văn Cò,Văn Chiêm,Thị Huấn,Thị Thời,
Thị Nga,Thị Bảy,Thị Thẳng,Thị ÍT.
Ngô Công Lạc sinh Văn Nhung,Công Hoan,Ngô Phúng,Thị Bột,Thị Tụng,
Thị Huyền,Thị Luân,Thị Huấn.
Ngô Công Nhượng sinh Văn Núi,Văn Sơn,Văn Thuyền,Thị Nhượng,Thị Hải,
Thị Hà,Thị Kiều,Thị Nhị,Thị Tam.
Ngô Công Hòa sinh Thị Hòa,Thị Có.
Ngô Công Xuyến sinh Văn Khải,Văn Nhì,Văn Tứ,Văn Tương,Văn Hương,
Thị Xuyến,Thị Đông,Thị Dư.
Ngô Công Học sinh Văn Quyền,Văn Sai,Văn Xách,Văn Mễnh,Văn Diêu,
Thị Út,Thị âm,Thị Sẻ,Thị Nghé.
Ngô Văn Bán sinh Văn Đông,Văn Dần,Văn Xích,Văn Thứ,Thị Hùynh,
Thị Mai,
Ngô Công Sử sinh Văn Khai,Văn Chù,Văn Mau,Thị Thiết,Thị Cấn,
Thị Lân,Thị Minh.
Ngô Văn Xáng sinh Văn Mọi,Thị Luận,Thị Hiếu.
Ngô Văn Hóan sinh Văn Cô,Văn Thị ,Văn Kỉnh,Văn Được,Văn Cái,Văn Bỉnh,
Thị Rận.
Ngô Văn Ních sinh Ngô Tùng.
Ngô Văn Lương sinh Văn Thìn,Văn Cơ (vt).
Ngô Văn Đính sinh Văn Chính,Văn Đính,Thị Đóng.
Ngô Văn Búa sinh Văn Thi,Văn Hoan,Văn Thị ,Thị Xin.
Ngô Văn Riều sinh Văn Luận,Văn Nuôi (cả hai vô tự).
Ngô Văn Địch sinh Văn Nghi,Văn Trung (vt),Văn Dung,Thị Dự,Thị Trinh,
Thị Con,Thị ChúT.
Ngô Văn Yên sinh Văn Hòai (vt),Văn Như,Ngô Truyền,Văn Dậu,Văn Tuất,Văn Hợi,
Văn Sẻ,Thị Đạo,Thị Nghĩa.
Ngô Văn Truy sinh Văn Cho,Văn Hóa,Thị Lê.
Ngô Văn Tá sinh Văn Phó,Văn Do,Văn Tọai,Thị Thân.
Ngô Văn Xước sinh Văn Huynh,Văn Mãn,Văn Cẩn,Thị Quy,Thị Hồi,Thị Tiễu.
Ngô Văn Bố sinh Văn Khai,Văn Chước,Văn Thắng,Thị Én,Thị Đãi.
Ngô Văn Sữa sinh Văn Tam,Văn Búa,Văn Phố,Văn Tứ,Văn Lục,Văn Ngọ.
Ngô Văn Nghề sinh Thị Nghề,Thị Thời,Thị Mọi.
Ngô Văn Bị sinh Thị Em,Văn Liêm,Thị Mẹo.
Ngô Văn Hội sinh Văn Hội (vt).
Ngô Văn Hiệp sinh Văn Niệm.
Ngô Văn Tòan sinh Văn Tòan,Văn Khóa,Thị Sắc,Thị Em,Thị Con.
Ngô Văn Tỏan sinh Ngô Đạm,Ngô Kỳ,Ngô Năm,Ngô Trân,Ngô Du,Văn Liên,
Thị Lập,Thị Bảy,Thị Điệu.
Ngô Công Duật sinh Công Thơ.
Ngô Văn Lọ sinh Văn Anh,Văn Hòai,Thị Diên,Thị Lắm,Thị Tường,Thị Tân,
Văn Chí,Thị Loan,Ngô Tiêu,Ngô Đức ,Ngô Cư,Ngô Đáo,
Thị Đương,Thị Vân,Thị Sáu,Thị Cưỡng,Thị Đễ.
Ngô Giả sinh Ngô Ban,Ngô Ba,Ngô Xuân,Thị Giả,Thị Đề,Thị Hương.
Ngô Mùi sinh Thị Mùi.
Ngô Điểu sinh Thị Điệp.
Ngô Tài sinh Ngô Đầu,Ngô Tu,Thị Liên,Thị ÚT.
Ngô Văn Cát sinh Ngô Ngoạn.
Ngô Thi sinh Ngô Điệp,Ngô Sách,Thị Khái,Thị Chất,Thị Thơm.
Ngô Dân sinh Thị Dân,NgôBán,Thị Mua.
Ngô Học sinh Thị Học,Bá Thừa,Bá Hùng (vt).
Ngô Văn Hiệu sinh Văn Ky (vt),Văn Liễu,Văn Sỹ ,Thị Hợi.
Ngô Văn Tiếu sinh Văn Diết,Văn Cấn,Văn Ba.
Ngô Văn Vinh sinh Văn Duật,Văn Con,Thị Cước.
Ngô Văn Lai sinh Văn Thiệu (vt).
Ngô Văn Cục sinh Thị Dung,Thị Cái.
Ngô Văn Kỷ sinh Văn Quát,Văn Tác,Thị Hào,Thị Mương.
Ngô Văn Phó sinh Văn Nhự,Văn Lự,Văn Hoạch,Thị Théo.
Ngô Văn Chỉnh sinh Văn Tần,Văn Mao (vt),Thị Từ.
Ngô Văn Dĩnh sinh Văn Liên (vt),Thị Khâm.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Lục,Văn Đáo,Văn Đinh,Văn Thán (cả bốn vô tự),
Văn Lực,Ngô Tại,Thị Thư,Thị Quảng.
Ngô Văn Mậu sinh Văn Đa.
Ngô Văn Dinh sinh Văn Dần,Văn Đối,Văn Trước,Văn Được,Văn Xuân,Văn Quyến.
Ngô Văn Khét sinh Ngô Mính.
Ngô Văn Lam sinh Ngô Thuẫn.
Ngô Văn Điền sinh Văn Được,Văn Tâm,Thị Điển,Thị Nồi.
Ngô Văn Dậu sinh Văn Túy,Văn Mưu,Văn Trí,Thị Ký,Thị Sử.
Ngô Văn Dự sinh Ngô Viện,Thị Sửa,Thị Năng,Thị Cần.
Ngô Văn Ty sinh Ngô Ngự,Ngô Sùng,Ngô Hà,Văn Ổi.
Ngô Văn Cu sinh Thị Môn.
Ngô Văn Lâm sinh Thị Thu.
Ngô Công Thùy sinh Công Tọai,Công Hoằng,Thị Bền,Thị Biên.
Ngô Công Thung sinh Công Đợi,Công Phước,Công Danh,Công Tài.
Ngô Công Lập sinh Công Hiếu,.
Ngô Công Tuân sinh Ngô Cần,Thị Thư,Thị Cái,Thị Đây,Thị Nhã.
Ngô Công Trác sinh Ngô Phương,Thị Thứ,Thị Đề.
Ngô Văn Tiềm sinh Văn Chiêm,Thị Cái.
Ngô Văn Khai sinh Văn Khai,Thị Tâm.
Ngô Văn Nội sinh Thị Giang.
Ngô Văn Mèo sinh Thị Tá.
Ngô Văn Chuột sinh Thị Lợi.
Ngô Văn Dậu sinh Văn Dĩnh,Văn Dực,Văn Đa,Văn Thiểu.
Ngô Đắc Trích sinh Đắc Trâu,Đắc Long,Thị Phụng,Thị Tể.
Ngô Đắc Trâu sinh Đắc Luận,Đắc Đó,Đắc Vấn,Thị Lại.
Ngô Đắc Sữa sinh Đắc Chuột (vt),Đắc Mò,Đắc Hó,Đắc Dĩnh,Thị Tù,Thị Hiếu,
Thị Mén,Thị ChúT.
Ngô Đắc Miệu sinh Thị Lang,Thị Huệ.
Ngô Đắc Khét sinh Đắc Hối,Đắc Diệt,Thị Thìn.
Ngô Đắc Kề sinh Đắc Hảo,Đắc Dung,Đắc Mèo,Thị Kề,Thị Ai.
Ngô Đắc Hốc sinh Đắc Mèo,Đắc Mậu,Đắc Chút,Đắc Chĩnh,Thị Lại.
Ngô Đắc Khuất sinh Đắc Chân,Đắc Liên (cả hai vô tự),Đắc Nuôi.
Đắc Liễu,Đắc Nhỏ,Đắc Đến.
Ngô Đắc Diện sinh Đắc Được (vt),Thị Hậu,Thị Hòai,Thị Uẩn,Thị Nhiều,Thị Lựa.
Ngô Đắc Nghê sinh Đắc Thao,Đắc Em,và hai trai vô tự (Đắc Lào,Đắc Lựa).
Ngô Đắc Ngại sinh Đắc Huyền,Đắc Luyện,Đắc Thê đều vô tự.
Ngô Đắc Vện sinh Văn Lương.
Ngô Đắc Mực sinh Văn Bằng,Văn Lý.

Đời thứ 42

42 Ngô Văn Thể sinh Văn An,Văn Thảo (vt),Văn Khương,Thị Lại.
Ngô Văn Khóa sinh Văn Học (vt),Văn Hòanh,Văn Hóan,Thị Huấn,Thị Phi,
Thị Tốt,Thị Mận.
Ngô Văn Dần sinh Văn Liễu,Văn Mai anh,Văn Mai em,Văn Hảo,Văn Hải,
Thị Én,Thị Hạnh.
Ngô Văn Cán sinh Văn Đại,Văn Phong,Thị Liên,Thị Hồng Vân,Thị Như Tiên.
Ngô Văn Thêm sinh Văn Sơn,Văn Minh.
Ngô Văn Sắc sinh Văn Địch,Thị Đãng,Bồi chị,Bồi em.
Ngô Văn Mính sinh Văn Thành.
Ngô Văn Lý sinh Văn Tổng,Văn Trước (vt),Văn Sau (vt).
Ngô Văn Út sinh Văn Hướng (vt),Thị Bé,Thị Lục,Thị Bê.
Ngô Văn Mực sinh Thanh Trà,Thị Thơ,Thị Hòanh.
Ngô Văn Được sinh Thị Lành.
Ngô Văn Phẩm sinh Văn Phong,Thị Phương,Thị Trang,Thị Cẩm Thi.
Ngô Văn Hường sinh Đức Thuận,Đức Hiền,Đức Hùng,Thành Hiếu,Thành Nhân,
Thành Việt,Thành Hùng,Thị Hạnh,Thị Vân,Thị Thảo.
Ngô Văn Sáo sinh Thị Tuyết,Thị Hồng Vân.
Ngô Văn Hòe sinh Văn Trợ,Thị Bé.
Ngô Văn Trừng sinh Văn Nha,Ngô Nhẫn,Văn Thư,Văn Vọng,Thị Hợi,Thị Lại.
Ngô Văn Tư sinh Ngô Tịnh.
Ngô Văn Từ sinh Văn Dục Ls.
Ngô Văn Thứ sinh Văn Nẫm,Văn…,Thị Phong,Thị Vằn,Thị Vện.
Ngô Văn Thiệu sinh Văn Bồi,Thị Long.
Ngô Văn Chung sinh Văn Bình,Thị Thuận,Văn Luận,Thị Công,Văn Định,
Thị Thảo,Thị Thắng.
Ngô Quy sinh Văn Phúc,Văn Kế,Văn Tiếp,Thị Hiền.
Ngô Văn Nhỏ sinh Thị Phúc,Thị Tương.
Ngô Văn Châu sinh Tấn Lai,Tấn Hùng,Tấn Thùy,Thị Ngân.
Ngô Văn Mao sinh Thị Nga.
Ngô Văn Hiên sinh Đình Lang,Thị Hiên,Thị Ngôn,Thị Cúc,Thị Khai,
Thị Hàng.
Ngô Công Bàn sinh Công Bồi,Công Chước,Công Lợi,Công Quyền,Công Câu,
Thị Nhẫn,Thị Hậu.
Ngô Công Đông sinh Công Kỳ,Công Lợi,Công Hoan,Công Meo,Công Cực,
Công Nghị,Thị Hai,Thị Nên,Thị Đắng.
Ngô Công Méo sinh Công Chước,Công Hý,Thị Chuột,Thị Tấm.
Ngô Công Dư sinh Công Dụng,Thị Thêm.
Ngô Công Nầy sinh Thị Xụt,Thị Cược.
Ngô Công Sào sinh Công Y,Văn Loan,Thị Miên,Thị Tiền.
Ngô Công Lái sinh Văn Sữa.
Ngô Văn Hòa sinh Văn Bình,Thị Diên,Thị Chiểu.
Ngô Văn Vững sinh Văn Sở,Văn Miên,Thị Cái.
Ngô Văn Sét sinh Văn PháT.
Ngô Ngân sinh Tấn Đạt,Thị Ngốc,Thị Ngọt,Thị Bờ,Thị Bụi.
Ngô Thước sinh Văn Ngọc,Đình Hồng,Thị Đắc,Thị Nhạn,Thị Thước,
Thị Kim Yến.
Ngô Cường sinh Văn Lực,Văn Lương,Văn Thành,Thành Được,
Đức Nhiên,Văn Thân,Thị Cường,Thị Châu,Thị RớT.
Ngô Văn Tâm sinh Thị Kỷ.
Ngô Văn Hỷ sinh Công Viễn,Công Xước,Thị Mai,Thị Tùng,Thị Để.
Ngô Văn Em sinh Công Liệu,Thị Liễu.
Ngô Văn Kích sinh Công Tuấn,Thị Kích.
Ngô Câu sinh Ngô Nhứt,Thị Xuân,Thị Khai.
Ngô Văn Bổ sinh Thị Nghi,Thị Hậu,Thị Sau,Thị Đó,Thị DuậT.
Ngô Văn Giao sinh Văn Vàng.
Ngô Bồi sinh Thị Mực.
Ngô Văn Mạnh sinh Văn Mạnh,Văn Được,Thị Thiệt,Thị Thù.
Ngô Văn Luyến sinh Văn Cái,Thị Luyến,Thị Cò,Thị Mực.
Ngô Văn Côn sinh Thị Hiền,Thị Quốc.
Ngô Văn Tích sinh Văn Kẽm,Văn Thanh,Thị Phi,Thị Cái.
Ngô Văn Cán sinh Ngô Tánh,Đình Dũng,Công Thành,Công Tú,
Thị Song,Thị Xê.
Ngô Nuôi sinh Ngô Diên,Văn Dũng,Ngô Niên,Thị TuyếT.
Ngô Bộ sinh Văn Anh,Văn Công, Văn Khánh (Ls.),Văn Ninh,
Văn Thắng,Văn Bình,Thị Y,Thị Phượng.
Ngô Thà sinh Thị Huấn,Thị Thông,Thị Minh,Văn Trung,Văn Thu,
Văn Khôi,Thị Thanh,Thị Bình,Thị Thủy,Thị Hoa.
Ngô Văn Thuật sinh Văn Quý,Văn Trọng,Văn Cảnh,Thị Ngọc,
Thị Nguyệt,Thị Tùng,Thị Độc,Thị ÚT.
Ngô Số sinh Ngô Hiệu,Văn Phong,Ngô Phú,Ngô Quốc, Văn Hạnh,
Văn Phước,Thị Thanh,Thị Tài,Thị Hiền.
Ngô Đức Thanh sinh Đức Dân (Đh),Đức Nam (Đh),Đức Hòang,Thị Nghi,
Thị Vệ,Quốc chị,Quốc em,Thị Lệ Thu,Đức ViệT.
Ngô Định sinh Đức Mạnh,Đức Hường,Đức Hương,Thị Hoa,Thị Xuân.
Ngô Xuân Nhĩ sinh Xuân Nhị,Xuân Hùng,Xuân Hồng,Thị Huệ,Ngô Hà,
Ngô Hải.
Ngô Thắng sinh Thị Trừng (bs.ls.),Trường Xuân,Hà Hiệp (ks),Thị Ánh Đông(bs),
Thị Phương Nam (Đh).
Ngô Thành Tài sinh Thành Lượng,Thị Cúc,Thị Thuận.
Ngô Thạnh sinh Đức Thị nh,Thị Thanh Đà,Việt Hùng.
Ngô Đức Dư sinh Đức Dục,Đức Nhật,Đức Tao,Thị Mỹ Duyên,Thị Mỹ Dung,
Thị Kiều Diễm,Thị Kiều Oanh.
Ngô Đức Dinh sinh Viết Vĩnh (Đh),Nhật Thắng (Đh),Thị Ngọc Thoa,
Thị Ngọc Thy,Thị Ngọc Trinh.
Ngô Khái sinh Đức Duy,Thị Hiền.
Ngô Quang Thành sinh Đức Dũng,Đức Tòan,Đức Lê,Đức Hải,Thị Thuận,
Thị Hồng,Thị Lai,Thị Lợi,Thị Phú,Thị Lộc,Thị Phụng,Đức Long,Đức Lân,
Thị Quy,Thị Loan,Thị Phúc.
Ngô Khá sinh Đức Vui,Đức Tự,Đức Do,Đức Sung,Thị Thanh Nhàn,Thị Thế,
Thị Lệ,Thị Hoa,Thị Ly.
Ngô Pho sinh Ngô Hồng,Ngô Thanh.
Ngô Tháo sinh Văn Thức,Thị Sữa.
Ngô Văn Trực sinh Văn Diên,Văn Minh.
Ngô Văn Diện sinh Văn Kế,Thị Có,Thị Hữu.
Ngô Văn Liêu sinh Văn Bé,Thị Lụa,Thị Bằng.
Ngô Đăng sinh Ngô Tín,Ngô Vàng,Ngô Bửu,Ngô Lang.
Ngô Lệ sinh Văn LuậT.
Ngô Văn Viện sinh Ngô Mạch,Thị Bé.
Ngô Văn Cận sinh Văn Chụp,Thị Cân,Thị Chí,Thị Tâm,Thị Thị nh.
Ngô Hữu Điển sinh Thị Thanh,Thị Ngọc,Ngô Cảnh.
Ngô Duy Trịnh sinh Ngô Căn,Văn Thiêm,Thị Tỏ.
Ngô Văn Tuyển sinh Thị Kỳ.
Ngô Văn Đó sinh Ngô Nghệ,Thị Bích.
Ngô Liễu sinh Ngô Chung.
Ngô Văn Mới sinh Văn Mua,Văn Bán,Đức Dung,Thị Mai,Thị Tâm.
Ngô Văn Cũ sinh Văn Võ.
Ngô Văn Khai sinh Thị Khai,Thị Tâm.
Ngô Văn Nuôi sinh Văn Lợi,Văn Vinh,Thị Nhung,Thị Lợi.
Ngô Văn Xe sinh Văn Liễn (Ls.),Văn Minh,Thị Phiên,Thị Luận.
Ngô Lãm sinh Ngô Thống,Văn Nuôi ,Thị Lâm.
Ngô Diễn sinh Ngô Phùng,Thị Cái,Văn Xí,Ngô Cẩn,Văn Hòang,
Thị Mày,Thị Lương,Thị Mực.
Ngô Văn Út sinh Ngô Tiếng,Văn Xãi,Thị Cái,Thị Xuân.
Ngô Văn Ký sinh Ngô Khoan,Văn Viên,Ngô Hiển,Văn Đặng.
Ngô Văn Gậy sinh Thị Ngọat,Thị Sỏi.
Ngô Văn Đó sinh Thị Thuyền,Cái lớn,Cái nhỏ,Thị Đào.
Ngô Văn Cư sinh Văn Hà,Thị Cư.
Ngô Văn Cò sinh Thị Việt,Văn Cái,Văn Phương.
Ngô Văn Nhung sinh Văn Đăng,Văn Tích,Đức Vỹ,Kim Tương,
Văn Ân,Thị Chước,Thị Trà.
Ngô Công Hoan sinh Văn Bộ (vt),Văn sau (vt),Văn Minh,Thị Sách,Thị Tịch,
Thị Tuyết,Thị Thanh,Thị Mẫn.
Ngô Phúng sinh Văn Hựu,Thị Bồi,Thị Hảo,Thị Quyên.
Ngô Văn Núi sinh Văn Này,Văn An.
Ngô Văn Sơn sinh Văn Xuyến,văn Nhỏ.
Ngô Văn Khải sinh Văn Chút,Thị Tân,Thị Sai,Thị Hiệt,Thị Sung.
Ngô Văn Nhì sinh Văn Mùi,Văn Ty,Văn Thìn.
Ngô Văn Tứ sinh Thị Thảo,Thị Mao,Thị ÚT.
Ngô Văn Hương sinh Thị Dư.
Ngô Văn Quyền sinh Văn Kéo,Văn Tấu,Văn Con,Văn Cò,Văn Út,
Thị Mới,Thị Thai,Thị Xin,Thị Lịch.
Ngô Văn Xách sinh Văn Kiều,Văn Thêm,Ngô Thảo,Văn Nải,Thị Mật,
Thị Thắng,Thị Ngân,Thị Xong,Thị Biện.
Ngô Văn Đông sinh Văn Kỳ,Ngô Đó,Thị Dư.
Ngô Văn Khai sinh Văn Chụp,Văn Mót,Văn Đực,Văn Chữ.
Ngô Văn Mọi sinh Văn Tranh,Văn Để,Thị Xý,Thị Đáng.
Ngô Văn Cô sinh Thị Dĩnh.
Ngô Văn Kỉnh sinh Văn Nhược.
Ngô Văn Bỉnh sinh Thị Cúc.
Ngô Tùng sinh Ngọ An,Thị Hậu.
Ngô Văn Thìn sinh Văn Thũn,Văn Tôn.
Ngô Văn Chính sinh Ngô Lượng.
Ngô Văn Đính sinh Ngô Chinh.
Ngô Văn Hoan sinh Ngô Đàn.
Ngô Văn Nghi sinh Ngô Ngại,Ngô Nghiễm,Thị Cúc,Thị Lan.
Ngô Truyền sinh Hữu Bản,Thị Mực,Thị Truyền,Thị Xiêm,Thị Thêm,
Thị Hoa,Thị Hương.
Ngô Văn Dâu sinh Đình Phụng,Đính Loan,Văn Phòng,Ngô Đức .
Ngô Văn Tuất sinh Ngô Vện,Ngô Đàn,Thị Nhưng,Thị Ngọc.
Ngô Văn Sẻ sinh Văn Chơn,Văn Chưởng.
Ngô Văn Phó sinh Văn Nhược,Văn Đội,Văn Tâm,Văn Hinh,Thị Văn,
Thị Gần.
Ngô Văn Do sinh Văn Sở,Văn Được,Văn Lựu,Văn Bài.
Ngô Văn Huynh sinh Văn Hương,Văn Thường,Văn Khải,Văn Quát,
Văn Thiệp,Thị Thám.
Ngô Văn Cẩn sinh Văn Cừ,Thị Bá.
Ngô Văn Tam sinh Văn Trừng,Thị Trúng,Thị Tường.
Ngô Văn Búa sinh Văn Đào.
Ngô Văn Phố sinh Văn Giang,Văn Mót,Thị Thí.
Ngô Văn Niệm sinh Thị Niệm,Thị Ân,Văn Mực.
Ngô Văn Khóa sinh Đình Bổ,Tấn Bộ,Minh Chánh.
Ngô Đạm Có tên là Nghi Ngô,1880-1953,Tú tài năm 1905.
Năm 1897 tham gia phong trào xuất dương do Cụ Phan Bội Châu tổ chức.
Năm 1905 tham gia tổ chức phong trào Đông Kinh Nghĩa thục.
Năm 1907 tham gia phong trào chống thuế ở Quảng Nam,bị kết án 8 tháng tù.
Năm 1917 tham gia phong trào Duy Tân ,bị bắt lần thứ hai.
1928-1938 ứng cử Hội đồng quản hạt Quảng Nam,Nghị viên Nghị viện
dân biểu Trung kỳ.
1945-1953 Hội trưởng Liên việt huyện Thăng Bình.
Sinh Ngô Hoan,Thị Đồng,Thị Đề,Thị Oanh,Thị Hạnh,Thị Cái,Thị Hỷ.
Ngô Trân sinh Văn Dương,Văn Thiện,Thị Thi.
Ngô Văn Du sinh Ngô Nhu,Ngô Hành,Ngô Bình,Thị Nguyên,Thị Yến.
Ngô Tiêu sinh Ngô Hòa,Ngô Đây,Thị Thạch,Thị Bàng,Thị Mai,Thị Thêm,
Văn Bính.
Ngô Đức sinh Văn Phứơc,Ngô Thảo (định cư Hoa Kỳ),
Ngô Dũng (Ts,định cư Hoa Kỳ),Ngô Nam (định cư Hoa Kỳ),
Thị Phương,Thị Lễ,Thị Nghĩa,Thị Hiền,Thị Hậu.
Ngô Cư sinh Ngô Dõng (định cư Hoa Kỳ),Ngô Mãnh,Văn Nữ (Ls.),
Ngô Dũng (Đh),Thị Thuận,Thị Mộng Ủy,Thị Như Thủy,Thị Kiều Diễm.
Ngô Đáo sinh Minh Hòang (định cư Hoa Kỳ),Minh Dương,Minh Hùng,
Minh Cường,Thị Hoa,Thị Lệ,Thị Ánh Hồng,Thị Hồng Lan.
Ngô Ba sinh Ngô Trương,Ngô Hiệu,Văn Quán,Văn Vàng,Thị Cân,Ngô Đông,
Thị Hạc,Thị Hương.
Ngô Ban sinh Ngô Đông,Quang Cúc,Văn Xù,Văn Em,Văn Nhỏ,Thị Ngọc,
Thị Mai,Thị Lan.
Ngô Đầu sinh Văn Đường,Văn Thanh,Văn Bảy,Văn Tám,Thị Triệu,
Thị Bình.
Ngô Tu sinh Thị Tuấn,Thị Thọai,Thị Cũng,Thị Vui,Thị Mừng,Văn Tòan,
Thị Tuyết,Thị Thương.
Ngô Ngọn sinh Ngô Sa,Ngọ An,Thị Mai,Thị Ba.
Ngô Sách sinh Tần Lợi,Tần Phước (vt),Hòang Sơn,Văn Thọ,Văn Thao,
Thị Được,Thị Tứ.
Ngô Bán sinh Văn Được.
Ngô Bá Thừa sinh Bá Chung,Bá Thủy.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Hà,Văn Quy,Văn Đa,Thị Rớt,Thị Thí,Thị Hòai,
Thị Đó.
Ngô Văn Sỹ sinh Thị Sỹ,Thị Trĩ,Thị Hòai.
Ngô Văn Diết sinh Văn Trâu,Văn Tâm,Văn Thanh,Thị Luận,Thị Xí.
Ngô Văn Cấn sinh Văn Tánh,Thị Ngân,Thị Xuyến.
Ngô Văn Duật sinh Văn Luật,Thị Xuân.
Ngô Tác sinh Quý Đức,Quý Lân,Quý Hòang,Quý Dương,Thị Hương,
Thị Liêm,Thị Ánh.
Ngô Đào sinh Văn Quý,Ngô Minh,Thị Hường.
Ngô Văn Phú sinh Văn Tảo (vt),Ngô Phú,Đức Nuôi (vt),Đức Mày,Văn Thêm,
Văn Lợi,Thị Vinh,Thị Dự,Thị Hường.
Ngô Tại sinh Văn Xí (vt),Văn Khôi,Văn Viễn,Thị Trà,Thị Mai,Thị Thọ.
Ngô Mính sinh Ngô Ngươn,Ngô Tích,Ngô Đáng,Thị Cái.
Ngô Thuẫn sinh Ngô Thuẩn.
Ngô Văn Túy sinh Văn Trân,Thị Chung,Thị Bửu.
Ngô Văn Mưu sinh Văn Xý,Thị Lành,Thị Nghệ.
Ngô Viện sinh Thị Tương,Thị Việt,Thị Hồng,Thị Hiệu,Thị Hòa,Văn Hảo.
Ngô Ngự sinh Văn Thử,Văn Đức ,Văn Trí,Thị Nghĩa.
Ngô Hà sinh Ngô Nhơn,Văn Hà (Ls.),Văn Sanh,Văn Lắm,Thị Nghĩa,Thị Đức.
Ngô Sùng sinh Văn Kính,Thị Tâm.
Ngô Công Tọai sinh Thị Tứ.
Ngô Công Danh sinh Công Dinh,Công Sương,Công Hiền,Công Mận.
Ngô Công Tài sinh Văn Khương,Công Giác,Công Chỉ.
Ngô Công Hiếu sinh Công Hội,Công Hiệp,Công Quả,Công Đức.
Ngô Cần sinh Văn Nghĩa,Văn Thiện,Thị Kiệm,Thị Liêm,Thị Chính.
Ngô Phương sinh TửuTư,Đức Hùng,Nhật Linh,Thị Thành,Thị Thỏa,Thị Mãn,
Thị Hiệp.
Ngô Văn Dực sinh Văn Thanh,Văn Tài,Thị Chí,Thị Luận.
Ngô Đắc Mò sinh Văn Tuất (vt),Văn Thi,Thị Ty,Thị Hân.
Ngô Đắc Hó sinh Văn Thọ (vt),Thị Được,Thị Thưởng.
Ngô Đắc Mậu sinh Văn Quốc (vt),Bá Đính,Văn Thân (vt),Thị Nguyên,Thị Tho,
Thị Nghi,Thị Tịch,Thị Thuấn.
Ngô Đắc Chút sinh Văn Lộc (vt),Văn Tại,Văn Tồn (vt),Thị Thúy.
Ngô Đắc Nuôi sinh Thị Hòa,Thị Thúy.
Ngô Đắc Nhỏ sinh Văn Tài,Thị Lan.
Ngô Thao sinh Thị Ôm,Thị Hòanh,Ngô Bút,Văn Di,Văn Hỡi,Văn Chức,Văn Bổ.
Ngô Em sinh Thị Giai.
Ngô Bằng sinh Văn Nghĩa,Văn Trí ,Văn Thông,Văn Minh,Văn Phước,
Văn Lợi,Thị Lễ,Thị Huệ,Thị Thành,Thị Tài.
Ngô Lý sinh Văn Thanh,Văn Thêm,Thị Trí,Thị Trinh,Thị Hương,Thị Nguyệt,
Thị Nga.

Đời thứ 43

43 Ngô Văn An sinh Văn Minh,Thị Nhơn,Thị Nghĩa,Thị Đức.
Ngô Văn Khương sinh Văn Trung,Văn Phước,Thị Phượng,Thị Oanh,Thị Nữ,
Thị Hoa,Thị Ánh,Thị Tuyết,Thị Thu,Thị Hà.
Ngô Văn Hòanh sinh Văn Hiệp,Việt Hưng,Việt Hùng,Việt Hải,Việt Hòai,
Việt Dũng,Thị Minh,Thị Thu Hà,Thị Thu Hương,Thị Thu Hường,
Thị Thu Hiền.
Ngô Hóan sinh Lê Hòang,Việt Hồng,Thành Hạt,Thành Hảo,Thành Đức,
Thành Tùng,Văn Lai,Thành Gia,Thị Mai Phương,Thị Phú,
Tăng Quốc,Tăng Hỷ.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Hậu,Văn Tòan,Văn Tân,Thị Lan.
Ngô Văn Mai sinh Minh Mẫn,Minh Trí,Thị Bích Thuận.
Ngô Văn Mai em sinh Văn Hiền,Văn Hậu,Văn Phúc,Văn Đức,Văn Độ,
Thị Hoa.
Ngô Văn Hảo sinh Văn Nhựt,Văn Cường,Văn Khánh.
Ngô Văn Hải sinh Văn Vinh,Thị Tâm,Thị Thủy.
Ngô Văn Địch sinh Tấn Địch,Ngô Vân,Văn Linh,Thị Thám.
Ngô Văn Thành sinh Văn Sơn,Văn Hải,Văn Tương,Văn Tèo.
Ngô Văn Xuân sinh Văn Tuấn,Văn Phương,Thị Hiền,Thị Kim Anh,
Thị Kim Chi.
Ngô Thanh Trà sinh Thanh Long,Thanh Đức,Thanh Độ,Thị Thanh Hồng,
Thanh Xuân,Thanh Thúy,Thanh Vân.
Ngô Văn Hiền sinh Thị Mỹ Dung.
Ngô Tấn Hường sinh Tấn Đây,Tấn Hùng,Văn Vịnh,Văn Tòan,Văn Sanh,
Văn Phước,Thị Hiệp,Thị Bích Nga,Thị Bạch Tuyết,Thị Vân.
Ngô Văn Thư sinh Văn Thư,Văn Viễn,Văn Chính,Văn Sỹ,Văn Kiên,
Thị Hương,Thị Hạnh,Thị Xuân.
Ngô Nhẫn sinh Văn Dũng,Thị Yến,Thị Tuyền,Thị Phượng.
Ngô Tịnh sinh Công Trí (ks),Công Năng (Đh),Công Thành,Công Tín,
Công Danh,Thị Hoa,Thị Thanh Hải,Thị Thanh Thủy.
Ngô Văn Dục sinh Văn Tĩnh,Thị Hà.
Ngô Nẫm sinh Thành Dự,Thành Công,Thành Danh,Thành Nhân,
Thành Tâm,Thị Ái Nghĩa,Thị Tình.
Ngô Văn Bồi sinh Thị Lang.
Ngô Văn Bình sinh Văn Trung,Văn Quốc,Thị Nga.
Ngô Tấn Lai sinh Tấn Sinh,Tấn Lực,Thị Mỹ Lệ,Thị Mỹ Linh.
Ngô Đình Lang sinh Đức Hồng,Đức Hạnh,Đức Hảo,Thị Hường,
Thị Hà,Thị Tòan,Thị Danh.
Ngô Công Bồi sinh Công Mẹo,Thị Chét,Thị Chạy.
Ngô Công Lợi sinh Công Nguyên,Công Tý,Công Dụng,Công Lắm,
Thị Lý,Thị Nhỏ,Thị Hiếu.
Ngô Công Quyền sinh công Hung,Thị Ngôn,Thị Bạo.
Ngô Công Nghị sinh Công Mẹo,Công Út,Công Khóan,Thị Két,Thị Con.
Ngô Công Chước sinh Thị Ổn,Thị Ảng.
Ngô Công Hý sinh Công Út,Công Thìn,Công Tỵ,Công Tuất,Công Thích,
Thị Thu,Thị Lệ,Thị Thân,Thị Hồi,Thị Thơm.
Ngô Văn Loan sinh Văn Tòan,Văn Dũng,Văn Nhân,Thị Liên,Thị Sen,
Thị Nghĩa,Thị Lệ,Thị Lan,Văn Minh.
Ngô Văn Bình sinh Văn Hòang,Thị Nguyệt,Văn Dinh (con nuôi).
Ngô Văn Sở sinh Ngô Thứa,Thị Hường.
Ngô Tấn Đạt sinh Thanh Tùng,Tấn Nhị,Văn Thuấn,Văn Thảo,Thị Hoa,
Thị Nở,Thị Thi,Kim Thiện.
Ngô Văn Lương sinh Tấn Dũng,Khắc Sơn,Thị Hiền,Thị Như Nguyệt,Thị
Tố Nga,,Thị Như Hà.
Ngô Thành Được sinh Thành Tâm,Quang Thiện,Quang Kiêm,Thị Mỹ Lệ,
Thị Bích Nhân.
Ngô Đức Nhiên sinh Văn Sang,Tùng Lâm.
Ngô Văn Thân sinh Thanh Tuấn,Trung Thành.
Ngô Công Liệu sinh Công Luật,Công Thu,Công Đồng,Thị Xuân,Thị Tiền.
Ngô Nhứt sinh Văn Kỳ,Văn Phú,Văn Cương,Văn Hào,Thị Thông,Thị Đào,
Thị Thanh,Thị Hoa.
Ngô Công Tuấn sinh Thị Thủy,Thị Tú.
Ngô Văn Kẽm sinh Thị Vân,Ngô Dần.
Ngô Văn Thanh sinh Văn Hiệp,Văn Quốc,Văn Kỳ,Thị Liên.
Ngô Tánh sinh Văn Hạnh,Văn Phước,Thị Thủy,Thị Vân.
Ngô Đình Dũng sinh Huy Nam,Huy Quang,Thị ViệT.
Ngô Công Thành sinh Văn Danh,Văn Dự,Văn Định.
Ngô Văn Công sinh Thị Trang,Thị Trâm.
Ngô Văn Ninh sinh Quý Sữa,Minh Tùng,Minh Lang,Thị Thanh Nga.
Ngô Văn Thắng sinh Minh Phong,Thị Hoa.
Ngô Văn Bình sinh Minh Hùng,Thị Tâm,Thị Lý.
Ngô Văn Diện sinh Đình Hà,Thị Thu.
Ngô Hiệu sinh Văn Tư,Văn Huy,Thị Bảo Ngọc,Thị Huệ Tâm.
Ngô Văn Phong sinh Hồng Sơn,Thị Thu Thủy,Thị Thu Hải.
Ngô Phú sinh Thị Vân,Thị Hương.
Ngô Quốc sinh Hữu Quang,Hữu Vinh.
Ngô Văn Hạnh sinh Thị Hà Thương.
Ngô Đức Duy sinh Đức Hùng,Nhật Miên,Nhật Giang,Thị Hiếu,
Thị Hà,Thị Minh.
Ngô Hồng sinh Văn Tự,Văn Do,Thị Tung,Thị Hòanh.
Ngô Thanh sinh Thị Bình.
Ngô Văn Thức sinh Văn Trí,Sơn Thạch,Thạch Anh,Thị Hồng Thủy.
Ngô Văn Bé sinh Văn Thơ,Thị Sách,Thị Kỷ,Thị Phương,Thị Hoa,
Thị Canh,Thị Yến,Thị Xuân,Thị Hạnh.
Ngô Tín sinh Văn Nhơn,Văn Phước,Văn Thạnh,Thị Nghĩa,Thị Thọ,
Thị Mai,Thị Trà,Thị Ly.
Ngô Vàng sinh Văn Hương,Văn Hạnh,Văn Phục,Văn Hung,Thị Lộc,
Thị Bông,Thị Liêm,Thị Phúc.
Ngô Lang sinh Văn Xuân.
Ngô Mạch sinh Văn Tài,Văn Hiền,Văn Hậu,Thị Lộc,Thị Phước,Thị Nhân,
Thị Hoa.
Ngô Cảnh sinh Văn Thống,Văn Hương,Văn Thuận,Thị Vi Minh,Thị Bich Hồng.
Ngô Căn sinh Văn Cúc,Thị Thanh Hương,Thị Thanh Huệ,Thị Thanh Lan.
Ngô Văn Thiêm sinh Tiến Hòa,Tiến Hiệp,Thị Kim Phượng,Thị Kim Hoa,Tiến.
Ngô Nghệ sinh Công Thái,Công Hòa,Thị Nga,Thị Hoa.
Ngô Chung sinh Văn Hòa,Thị Chung,Thị Em,Thị Thuận.
Ngô Văn Mua sinh Ngô Trà,Ngô Lý,Ngô Lựu (cư ở Đắc lắc).
Ngô Đức Dung sinh Đức Doan,Đức Danh,Đức Dự,Thị Xuân,Thị Thu,Thị Hạnh,
Thị Duyến,Thị Diệu.
Ngô Văn Lợi sinh Văn Bé,Văn Thi,Văn Sơn,Thị Thái,Thị Hà.
Ngô Văn Minh sinh Thị Kim Thanh,Thị Kim Yến (bs),Thị Kim Loan (ks),
Thị Kim Oanh,Thị Kim Vân,Thị Kim Ánh,Thị Kim Thoa,Thị Kim Chi,
Thị Kim Khánh.
Ngô Thống sinh Văn Thống,Văn Lệ,Văn Hảo,Thị Thế,Thị Kế,Thị Liên.
Ngô Phùng sinh Thị Mẫn.Ngô Cẩn sinh Văn Hạnh,Văn Sỹ,Văn Nhân,Văn Lành,
Văn Phước,Thị Cần,Thị Thại,Thị Hiền.
Ngô Văn Hòang sinh Văn Tòan,Thị TuyếT.
Ngô Tiếng sinh Văn Khê,Thị Đời.
Ngô Văn Xãi sinh Văn Hiệp,Văn Hưng,Văn Hân,Văn Cảnh,Thị Diệp,Thị Quý.
Ngô Khoan sinh Văn Tòan,Thị Hồng.
Ngô Hiển sinh Thị Thanh,Thị Hương,Thị Hạnh.
Ngô Văn Đặng sinh Văn Chương,Văn Hải,Văn Hành,Văn Sơn,Văn Dũng,
Văn Mười,Thị Trình,Thị Hoa,Thị Thêm.
Ngô Văn Tích sinh Văn Vĩnh,Thị Tặng.
Ngô Đức Vỹ sinh Văn Quy,Văn Trí,Văn Phòng,Văn Thương,Thị Lễ,
Thị Lệ,Thị Huệ.
Ngô kim Tương sinh Văn Đương,Thị Hường,Thị Thảo,Thị Phương,Thị Thuận.
Ngô Văn Ân sinh Văn Pháp,Văn Nhựt,Văn Đức,Thị Mỹ,Thị Anh,Thị Lan.
Ngô Văn Minh sinh Văn Điểu,Thị Hoa,Thị Mai,Thị Cúc,Thị Lộc.
Ngô Văn Hựu sinh Văn Tân,Văn Đa,Văn Tai,Thị Phước,Thị Hạnh.
Ngô Văn Tấu sinh Văn Tài,Văn Chi,Văn Ngọ.
Ngô Thảo sinh Công Trí,Thị Đào.
Ngô Đó sinh Văn Hành,Văn Tri,Thị Tâm,Thị Vọng.
Ngô Văn Chụp sinh Văn Đích,Ngô Nỗi.
Ngọ An sinh Công Tấn,Công Tâm,Công Thọ,Công Đạt,Công Thành,
Công Bình,Thị Phước,Thị Ngọc.
Ngô Lượng sinh Văn Sen,Văn Liêm,Thị Lý,Thị Hoa.
Ngô Ngại sinh Bá Hòang,Văn Thắng,Thị Hường,Thị Hồng,Thị Hoa,
Thị Liễu,Thị Lý.
Ngô Văn Chi sinh Tùng Đức,Tùng Thiện,Tùng Đạo,Tùng Nghĩa,Thị Nga.
Ngô Hữu Bản sinh Văn Thuận,Thị Thung,Thị Nga,Ngô Nuôi,Thị Thanh Triều.
Ngô Đình Phụng sinh Đình Dũng,Đình Nam,Thị Tuyết Nhung,Thị Tuyết Thu,
Thị Tuyết Sương,Thị Tuyết Nữ.
Ngô Đức sinh Văn Bình,Thị Hòang,Thị Diệu,Thị Liên.
Ngô Vện sinh Văn Tèo,Thị Tiền.
Ngô Văn Chơn sinh Văn Linh,Văn Công,Văn Danh,Văn Đặng,Thị Thoa,Hơn.
Ngô Văn Chưởng sinh Văn Lâm,Văn Chung,Văn Tòan,Thị Hành.
Ngô Văn Nhược sinh Văn Nhã,Văn Thi,Văn Bổ,Thị Khá,Thị Hòai,Thị Vang,
Thị Lại,Thị Bình.
Ngô Văn Đội sinh Văn Gặp,Văn Câu(vt),Văn Kê,Văn Bờ,Thị Kéo,Thị Ruộng.
Ngô Văn Tâm sinh Văn Khôi,Thị Như.
Ngô Văn Hinh sinh Thị Hinh,Thị Phu.
Ngô Văn Sở sinh Văn Luyện,Thị Cái,Thị Tường,Thị Cảnh,Thị Gương.
Ngô Văn Được sinh Văn Cư,Văn Quang,Thị Châu,Thị Tri,Thị Bích,Thị Quy.
Ngô Văn Lựu sinh Văn Chỉnh,Văn Bảo,Văn Mỹ,Thị Miên,Thị Dục,Thị Long,
Thị Chung.
Ngô Văn Bài sinh Văn Đức,Thị Thiệu,Thị Danh,Thị Xý.
Ngô Văn Hương sinh Văn Phúng,Thị Hương,Thị Nhượng.
Ngô Văn Thiệp sinh Văn chu,Văn Đăng,Văn Giai,Thị sang,Thị Đích,Thị Lang,
Thị Bé,Thị Thêm.
Ngô Văn Trừng sinh Ngô Quốc,Thị Hữu,Thị Cơ,Thị Lào.
Ngô Văn Giang sinh Văn Sự,Văn Kiệm,Thị Vân,Thị Lại.
Ngô Văn Mót sinh Thị Thiệu.
Ngô Văn Mực sinh Văn Tân,Thị Ái.
Ngô Đình Bổ sinh Đình Phúc Nguyên,Đình Phúc An.
Ngô Minh Chánh sinh Huy Quang,Duy Minh,Minh Quân,Duy Chân,
sinh Đức Kế,Văn Thừa,Văn Nhân (Ls.),Thị Lan,Thị Cúc,Thị Hường.
Ngô Văn Thiện sinh Ngô Quyên,Đình Diệm,Đình Tương,Thị Thai,Thị Xí,
Thị Liễu,Thị Nhân.
Ngô Hành sinh Công Thước,Ngô Nải.
Ngô Hòa sinh Ngô Hiệp,Ngô Hảo,Ngô Hạnh,Thị Hồng,Thị Nhiên,Thị Nhị,
Thị Nhàn,Thị Nhung.
Ngô Đây sinh Thị Đào,Thị Hằng,Thị Nga,Thị NguyệT.
Ngô Văn Bính sinh Vũ Bão,Nhật Trường,Thị Linh Phương,Thị Phượng Linh.
Ngô Trương sinh Minh Đức,Văn Khoa,Thị Hường,Thị Thu.
Ngô Hiệu sinh Văn Thành,Văn Minh,Văn Sơn,Thị Hiệu,Thị Trinh.
Ngô Đông sinh Văn Quang,Thị Nghĩa,Thị Trí,Thị Vinh,Thị Thanh,Thị Nhân,
Thị Lai.
Ngô Đông sinh Văn Minh,Văn Tuấn.
Ngô Quang Cúc sinh Quang Nam,Quang Bình,Thị Hằng Phương.
Ngô Văn Nhỏ sinh Văn Nhơn,Văn Nhật,Văn Nhân,Thị Như,Thị Nhung.
Ngô Sa sinh Văn Thanh,Văn Chinh,Đắc Sơn,Thị Lệ,Thị Quý,Thị Thêm,
Thị Mai.
Ngọ An sinh Thị Xuân.
Ngô Tấn Lợi sinh Văn Danh.
Ngô Hòang Sơn sinh Song Tùng,Thị Hòang Trang,Thị Hòang Trâm.
Ngô Văn Thao sinh Văn Thành,Văn Thuận.
Ngô Văn Được sinh Văn Thanh,Thị Bé.
Ngô Văn Hà sinh Văn Chánh,Thị Ghì.
Ngô Văn Quy sinh Văn Đực,Văn Xẹo,Văn Hiệp,Thị Hòa.
Ngô Văn Đa sinh Văn Tổng,Văn Thắng,Văn Lộc,Văn Lễ,Văn Tòan,Thị Tuyển,
Thị Lợi.
Ngô Văn Tâm sinh Văn Sự.
Ngô Văn Trâu sinh Văn Thỏa,Văn Trí,Văn Thành,Văn Dương,Thị Thuận.
Ngô Văn Luật sinh Văn Lầm,Văn Đức,Văn Quý,Văn Lập,Văn Nên.
Ngô Phú sinh Hữu Hiền,Hữu Lộc,Thị Kim Thời,Thị Kim TuyếT.
Ngô Ngươn sinh Ngô Thơ,Văn Hòai,Thị Ngươn,Văn Hùng,Thị Hồng,Thị Hường.
Ngô Tích sinh Quý Thanh,Văn Hương,Văn Trà,Thị Xuân.
Ngô Đáng sinh Văn Lãnh,Đức Anh,Thị Ngọc,Thị Tài.
Ngô Thuẩn sinh Công Hòa,Công Trí,Công Lực,Thị Cúc,Thị Hoa,Thị Hiệp.
Ngô Văn Trân sinh Văn Trọng,Thị Xuân,Văn Nhì.
Ngô Văn Khương sinh Công Lâu.
Ngô Công Giác sinh Công Gốc,Công Nuôi,Công Khiêm,Công Lắm.
Ngô Công Hội sinh Công Để.
Ngô Công Quả sinh Công Chạy,Công Dài.
Ngô Công Đức sinh Công Long,Công Diễn.
Ngô Văn Thanh sinh Văn Phúc,Văn Hạnh,Thị Hân.
Ngô Văn Thi sinh Văn Thành.
Ngô Bá Đính sinh Văn Chính,Văn Hiền,Thị Hương,Thị Triết,Văn Bài.
Ngô Văn Tại sinh Đình Nghi,Đình Nhĩ,Đình Đương,Đình Thanh,Đình Sỹ,
Đình Quang,Đình Hồng,Thị Sự.
Ngô Văn Tài sinh Văn Đông,Thị Thu,Thị Thanh,Thị Thảo,Thị Thuận,
sinh Văn Nghĩa,Văn Lễ,Tấn Phong,Thị Hiệp.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Bổ,Văn Thanh,Thị Yêm,Thị Danh.
Ngô Văn Trí sinh Văn Dũng.

Đời thứ 44

44 Ngô Công Mẹo sinh Công Quạ.
Ngô Công Nguyên sinh Văn Cứ,Công Diệt,Công Chớ.
Ngô Công Tý sinh Văn Đến,Công Bị,Công Hưu,Thị Bơi,Thị Kiều,Thị Quốc.
Ngô Công Dụng sinh Thị Dung,Thị Tiếng,Thị Y.
Ngô Công Lắm sinh Cớn nhỏ,Thị Lắm,Thị Có.
Ngô Công Hung sinh Công Được,Công Lược,Văn Kiêm.
Ngô Công Mẹo sinh Thị Dần.
Ngô Công Út sinh Công Điền,Thị Lăng,Thị Nhỏ.
Ngô Công Khóan sinh Văn Tuyên,Văn Hạnh,Thị Bình,Công Vạn,Thị Thời,
Thị Xú.
Ngô Công Thìn sinh Thị Xước,Thị Xù,Thị Liệu.
Ngô Công Tỵ sinh Công Họach,Công Tờn,Công Thất,Văn Thảo,Công Em,
Thị Con.
Ngô Công Thích sinh Công Cộng.
Ngô Công Tòan sinh Thị Thùy Trung,Thị Thùy Trâm.
Ngô Văn Dũng sinh Thị Thu Sương.
Ngô Thống sinh Văn Biết,Văn Đồng ,Thị Ký,Thị Nhân,Thị Từ,Thị Tình,
Thị Tâm.
Ngô Văn Đích sinh Văn Nhân,Văn Thị ng,Đức Thạnh,Đức Hưng,Thị Niện,
Thị Vinh,Thị Hường,Thị Chân,Thị Quý.
Ngô Nhã sinh Văn Miện,Văn Ngọc,Thị Quý,Thị Bích.
Ngô Văn Thợ sinh Văn Lê,Văn Thân,Văn Bằng,Thị Kiểm,Thị Cúc,Thị Mười.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Hùng,Thị Nhuận,Thị Lan,Thị Lê.
Ngô Văn Khôi sinh Văn Hòang,Văn Thuận,Văn Luân,Văn Xuân,Văn Sinh,
Thị Hồng,Thị Thanh,Thị Lai.
Ngô Văn Phúng sinh Văn Thanh,Văn Thị nh,Văn Xứ,Văn Dụng,Văn Nghiện,
Thị Viễn,Thị Trân.
Ngô Văn Quốc sinh Văn Thành,Văn Thi,Thị Lượn,Thị Lắt,Thị Ước.
Ngô Đức Kế sinh Đức Hải(bs),Minh Đức (Đh),Đức Thắng (Đh),Thị Phước Yên (Đh),
Thị Phước Tuyền (Đh).
Ngô Văn Thừa sinh Đức Huy,Thị Tâm,Thị Vi,Thị Trang.
Ngô Công Lắm sinh Công Bé,Công Tỳ,Công Trang.
Ngô Công Đễ sinh Công Thương,Công Thi,Công Gia,Công Khác,Thị Trân,
Thị Nầy,Thị Đường,Thị Đây,Thị Lợi,Thị Thổn.
Ngô Công Chạy sinh Công Hốt,Thị Lắm.
Ngô Công Dài sinh Công Thơ,Công Phòng,Công Ẩn,Công Thanh,Công Thao,
Thị Thường,Thị Duật,Thị Nghiêm,Thị TuyếT.
Ngô Công Diễn sinh Công Khoa,Công Đệ,Công Xuân,Thị Bình,Thị Thi,Thị Chợ,
Thị Hỷ,Quang Bá,Công Quang,Công Thể,Công Phát,Công Tích,
Công Thuận.

Đời thứ 45

45 Ngô Công Quạ sinh Văn Nhứt,Công Bay,Công Nhỏ,Thị Dèo,Thị Em.
Ngô Văn Cứ sinh Văn Chi,Công Nghị,Công Em,Thị Đá,Thị ÚT.
Ngô Công Đến sinh Công Chạy,Thị Đến,Thị Được.
Ngô Công Hưu sinh Thị Trí,Thị Kéo.
Ngô Văn Tuyên sinh Văn Quốc,Công Sơn,Thị Hòa,Thị Quảng,Thị Phước.
Ngô Văn Hạnh sinh Công Bân,Công Ngơn,Công Ngộ,Công Do,Công Thái,
Thị Liền,Thị Bé.
Ngơ công Họach sinh Công Bá,Công Thọ,Công Đào,Thị Bé.
Ngô Công Tờn sinh Công Sành,Thị Vân,Thị Sọan.
Ngô Văn Thảo sinh Công Hơn,Công Hân,Công Ngà,Công Hòa,Công Giá,
Công Ngọc,Thị Hường,Thị Hưng.
Ngô Công Bé sinh Công Cu,Công Hiệu,Công Họat,Công Trị.
Ngô Công Tỳ sinh Công Ngộ,Thị Tỳ,Thị Tùng,Thị Thừa.
Ngô Công Trang sinh Công Duy (vt),Thị Chiến,Thị Thuật,Thị Lự,Thị Đạo.
Ngô Công Thương sinh Công Kiết,Công Công (vt),Công Phu,Thị Châu,
Thị Bộ,Thị Ngưu,Thị Vương,Chí Hàm,Công Nam,Thị Đấu.
Ngô Công Thi sinh Công Khánh (vt),Công Bửu (vt),Công Luận,Công Trí,
Công Mào,Thị Bán,Thị Trinh,Công Hài,Công Bến.
Ngô Công Hốt sinh Công Y.
Ngô Công Ẩn sinh Công Trí,Công Niên,Công Dậu,Công Danh,Thị Dự,
Thị TuyếT.
Ngô Công Thanh sinh Công Cảnh,Công Mót,Công Bị.
Ngô Công Thao sinh Công Phó,Công Của,Công Mạnh,Công Khẹo,
Thị Kiểu,Thị Mùi.
Ngô Công Khoa sinh Công Đạo,Công Điển,Công Sanh,Công Bàng,Công Tọai,
Thị Thảo,Thị Liếu,Thị Kiểm,Thị Lý.
Ngô Công Đệ sinh Công Kiệm,Công Cần,Công An,Công Thắng,Công Sỹ,
Thị Thơm, Thị Đôn,Thị Tri.Thị Lựu.
Ngô Công Xuân sinh Công Sơn,Công Nhược,Công Tứ,Thị Nho,Thị Nhi,Thị Tầm.
Ngô Công Quang sinh Công Hòe,Công Biện,Công Tuất,Công Sữa,Thị Hương,
Thị Hội,Thị ChíT.
Ngô Công Tích sinh Thị Dung,Thị Chít,Thị Mưu.

Đời thứ 46

46 Ngô Văn Nhứt sinh Văn Sỏi,Thị Định.
Ngô Công Bay sinh Công Quy,Thị Tề,Thị Phụng.
Ngô Văn Chi sinh Công Phi,Công Nỉ,Công Cẩm,Công Phước,Công Đức,
Công Thành,Công Công,Công Cần,Thị Niên,Thị Diễn,Thị Hiệp.
Ngô Công Sơn sinh Công Nam,Thị Vy,Thị Hải.
Ngô Công Bân sinh Công Tùng,Công Trường,Công Thành,Thị Thanh,Thị Thủy.
Ngô Công Hiệu sinh Công Phương,Công Riều,Công Đầu.
Ngô Công Họat sinh Công Hội,Công Sau,Công Trước,Thị Trứ,Thị Sữa,Thị Lê.
Ngô Công Trị sinh Công Hiếu,Công Tịnh,Công Mào,Thị Dinh,Thị Trước,
Thị Sau,Thị Xin.
Ngô Công Y sinh Công Bờ,Công Phiên,Thị Nồi,Thị Hữu,Thị Thời,Thị Tứ.
Ngô Công Ngô sinh Công Liễu,Thị Thơ,Thị Tình.
Ngô Công Kiết sinh Công Nghị,Công Giảng,Công Khiết,Công Cung,Công Kiếu,
Công Thự,Thị Ân,Thị ThuộT.
Ngô Công Thức sinh Công Phương,Thị Tỵ.
Ngô Công Luận sinh Công Sâm,Công Bành,Công Đỉnh,Thị Chuyển,Thị Chèo,
Thị Lợi,Thị Ruộng,Thị Nhỏ.
Ngô Công Chí sinh Công Chấn,Công Ất,Công Mén,Công Giới,Công Kẽm,
Công Mèo,Công Đã,Thị Tiền.
Ngô Công Hài sinh Công Cào,Thị Chấu,Thị Đế.
Ngô Công Bến sinh Công Mậu,Thị Dần,Thị Tỵ,Thị Tứ,Công Phiên.
Ngô Công Trí sinh Công Lực,Công Phòng,Công Dõ.
Ngô Công Niên sinh Thị Phòng,Thị Loan,Thị Quyến,Thị Tuyển,Thị Thơm,
Công Vinh,Công Chiểu,Công Mang.
Ngô Công Cảnh sinh Công Lự,Công Mỹ,Công Ám,Công Lúa,Thị Điển,Thị Diện.
Ngô Công Dậu sinh Thị Chút,Thị Chi,Thị Nghĩa,Thị Tỵ,Thị Quảng,Thị Ký,
Thị Nhơn.
Ngô Công Mót sinh Thị Xuy,Thị Liên,Công Sâm,Thị Quả,Thị Mậu,Thị Đức,
Công Cào,Công Xé.
Ngô Công Bị sinh Công Tống.
Ngô Công Đạo sinh Công Chương,Công Liêm,Công Hung,Công Mạnh,
Thị Của,Thị Sữa,Thị Rân.
Ngô Công Điển sinh Công Tuyết,Công Tân,Thị Đốc.
Ngô Công Bàng sinh Thị Mai.
Ngô Công Tọai sinh Công Phương,Công Tấn,Công Huân,Công Lọ,
Công Nồi,Thị ÚT.
Ngô Công Thắng sinh Thị Kỹ,Thị Luật,Thị Đa,Công Tấn,Công Chút,
Công Lễ,Công Nghi,Thị TháT.
Ngô Công Sỹ sinh Công Khum,Công Huân,Công Dụ,Công Hồi,
Công Cáo,Thị Đạt,Thị Luận.
Ngô Công Sơn sinh Thị Quý.
Ngô Công Tứ sinh Công Địch,Công Đài,Thị Quyên,Thị Thai,Thị Nhỏ,
Thị Đỉnh.
Ngô Công Hòe sinh Công Chút,Thị Dõng.
Ngô Công Biện sinh Công Giá,Công Đỉnh,Thị Thìn.
Ngô Công Tuất sinh Công Điển,Công Thu,Công Dầu,Thị Nhiên,Thị Ngân,Thị Lự.

Đời thứ 47

47 Ngô Văn Sỏi sinh Văn Quyền,Văn Khôi,Văn Kỳ,Văn Tri,Văn Hương,
Văn Thanh và sáu nữ
Ngô Công Tịnh sinh Công An,Công Thi,Công Viết,Công Tài
Ngô Công Mào sinh Công Vàng và ba nữ
Ngô Công Liễu sinh Công Tri và bốn nữ
Ngô Công Nghị sinh Công Thổ,Công Nghiễm,Công Sông,Công Kiều,
Công Thư,Công Sanh,Ngô Đài,Công Phụng,Công Nhã,
Công Cừ,Công Tố và ba nữ
Ngô Công Giảng sinh Công Xuân,Công Dõan,thi Yến
Ngô Công Kiếu sinh Thị Huyến,Công Đề
Ngô Công Cung sinh Công Khuôn, Thị Xề, Thị Khế, Thị Thục, Thị Dứt,
Thị Niếu, Thị Sữa
Ngô Công Sâm sinh Công Lượng,Công Uẩn,Công Thuận,Công Phiến
Thị Yến, Thị Cân, Thị Tạ, Thị Món, Thị Lang
Ngô Công Bành sinh Công Túc, Công Nhuận, Công Bằng, Thị Thiếp,
Thị Mẹo
Ngô Công Đĩnh sinh Công Đĩnh, Thị Tý, Thị Ngọ, Thị Quàn
Ngô Công Chấn sinh Công Phấn, Công Ngoan, Công Tề, Công Phát, Thị
Thanh, Công Khương, Thị Thường, Thị Xụn
Ngô Công Ất sinh Công Cúc,Công Tình,Công Chuột,Công Tý,Công
Thứ, Thị Đoi, Thị Đó
Ngô Công Giới sinh Công Thơm, Thị Giò
Ngô Công Kẽm sinh Công Chuẩn, Thị Uẩn
Ngô Công Cào sinh Công Cáo, công Út, Thị Mãn
Ngô Công Mậu sinh Công Đàm, Thị Chung, Thị Liệu
Ngô Công Bè sinh Thị Nguyên
Ngô Công Phiên sinh Công Liên, Công Lạc
Ngô Công Lư sinh Công Miêu, Công Thanh, Thị Côn, Thị Loan, Thị Tiếu
Ngô Công Mỹ sinh Công Xuyên, Công Chút, Công Chờ, Thị Mỹ
Ngô Công Lúa sinh Công Lạc, Công Bờ, Công Giáp
Ngô Công Xé sinh Văn Hiến
Ngô Công Vinh sinh Công Vinh, Công Hiển, Công Xứng, Văn Hiến
Ngô Công Lự sinh Thị Lự, Thị Sang,Thị Sanh
Ngô Công Liên sinh Công Diệu,Công Hoạt,Công Hôi, Công Ghi, Thị Thông,
Thị Vân, Thị Hoàng, Thị Mai, Thị Quá, Thị Chạo, T.Chút, T.Điển
Ngô Công Mạnh sinh Công Chút,Công Tiểu,Công Phụ,Công Hoan, Thị Tải
Ngô Công Tân sinh Công Địch, Công Thìn, Công Vừu, Thị Lan, Thị Nhị,
Thị Trang, Thị Hiếu, Thị Được, Công Tư
Ngô Công Liêm sinh Công Khương, Thị Huân, Thị Đó, Thị Khả
Ngô Công Lọ sinh Thị Nghẹ
Ngô Công Nồi sinh Công Hạng, Thị Thị
Ngô Công Tấn sinh Thị Chỉ, Thị Khôi, Ngô Cường, Công Thí
Ngô Công Chút sinh Công Ban, Ngô Đích, Thị Tro
Ngô Công Lễ sinh Thị Kỳ
Ngô Công Địch sinh Công Vạn, Công Quyên, Thị Mày
Ngô Văn Giá sinh Văn Vững, Văn Đông, Thị Đó, Thị Mực
Ngô Văn Thử sinh Công Tại, Văn Em, Thị Cái, Thị Đời, Thị Nhí

Đời thứ 48

48 Ngô Công Vàng sinh Công Xuân, Thị Thuận, Thị Thảo, Thị Liên, Văn Thành,
Văn Thanh
Ngô Công Nghiểm sinh Công Vinh, Công Tường,Công Đaọ, Thị Quýt, C.Quát, T.Ẩn
Ngô Công Kiều sinh Thị Kiều
Ngô Đài sinh Công Đệ, Công Huyến, Công Quyên,Công Ngự, Thị Lai
Thị Yến, Thị Độ
Ngô Công Cừ sinhThị Ngọc,Thị Trai,Thị Chiến,Thị Hồ,Công Tụng,CôngChương
Công Liễn
Ngô Công Phụng sinh Thị Phụng, Thị Hương, Công Nhạn
Ngô Công Nhã sinh Thị Xuyến
Ngô Công Tố sinh Công Cần ,Công Ca,Công Thiệp,Công Soạn,
Công Thoan, Công Thân, Công Khởi, Công Diễm, Công
Tuyển, Thị Hoát, Thị Căn
Ngô Công Xuân sinh Công Khoan,Quý Đỉnh,Công Hoằng,Công Miễn, Thị
Thiết, Thị Chì, Thị Vẽ
Ngô Công Doãn sinh Thị Hiếu, Thị Nữ, Thị Tây, Thị Tiến, Thị Nhi, Công Tống,
Ngô Lệ, Ngô Hành
Ngô Công Khuôn sinh Công Khuôn,Công Thủ,Công Phò,Công Nhữ,Công Bỉnh
Thị Chanh, Công Trang,Ngô Tánh,Công Nhượng, Công Minh,
Văn Tình, Thị Phòng, Thị Thành
Ngô Công Uẩn sinh Công Tấn, Phú Chí (con nuôi)
Ngô Công Nhuận sinh Thị Quảng, Công Bường, Công Đó, Công Đăng
Ngô Công Khương sinh Công Bằng, Thị Ninh, Thị Đương, Thị Giấy, Thị Mực
Ngô Công Phấn sinh Công Cần, Công Cửu, Công Hoành
Ngô Công Thơm sinh Thị Đào, Công Nhi, Công Ní, Thị Kích, Công Thích
Ngô Công Cáo sinh Văn Cáo,Công Đáo,Công Chức,Công Được, Thị Diên, Thị
Quảng,Công Hòang, Công Nhàn, C.Huệ, C.Trí, C.Tri, Thị Út
Ngô Công Đàm sinh Công Cảnh, Công Xuân, Công Vui
Ngô Công Miêu sinh Văn Tuỳ, Thị Chi, Thị Tuyên, Thị Em Nhỏ, em Lớn,
Công Hân, Công Ngoan
Ngô Công Thanh sinh Công Uynh, Văn Chước, Thị Thanh
Ngô Công Hiển sinh Văn Lãng, Công Được, Thị Bòng, Thị Có, Thị Xí
Ngô Công Lạc sinh Thị Minh, Công Dinh, Công Việt, Công Bi
Ngô Công Gíap sinh Công Được, Công Thời, Công Hoà, Thị Xin, Thị Thân, Thị
Thuận, Thị Tâm
Ngô Công Diệu sinh Công Đề, Thị Thì, Thị Em
Ngô Công Chút sinh Thị Định, Công Xuyên, Công Khai
Ngô Công Phụ sinh Công Nam, Văn Đối, Công Em
Ngô Cường sinh Thị Mực,Thị Nhí, Thị Mãi,Công Nhân,Công Trí,Công Hiệu
Công Hương, Công Chính, Công Bộ
Ngô Đích sinh Thị Thảo, Thị Hoà, Công Thuận, Công Lý, Thị Hoa, Văn Bảy
Thị Nở, Thị Cúc, Văn Thanh
Ngô Công Vạn sinh Công Trương,Công Thành,Công Luỹ,Công Ân, Công
Hạnh, Thị Hồng
Ngô Công Tại sinh Công Cả, Công Hiền, Công Trí, Công Thức, Công Thông
Công Minh, Thị Nhân, Thị Nghĩa

Đời thứ 49

49 Ngô Công Tường sinh Công Thức,Công Tâm,Công Đại,Công Ý, Công Dậu, Thị
Chi, Thị Năng
Ngô Công Quát sinh Công Hoạt, Công Trì,Công Đồi, Thị Trấn, T.Điếm, Thị Nghi
Thị Hơn, Thị Lan, Thị Huệ, Công Cúc
Ngô Công Đệ sinh Thị Sỹ, Thị Hoặc
Ngô Công Đạo sinh Công Ngôn, Công Đỗ, Thị Hưu, Thị Hộ
Ngô Công Huyến sinh Công Đực, Công Tựu, Công An, Công Bụi, Thị Sách
Ngô Công Tụng sinh Thị Lưu
Ngô Công Chương sinh Thị Lưu
Ngô Công Cần sinh Thị Rế
Ngô Công Soạn sinh Thị Thanh,Thị Thoả, Thị Tình, Thị Tứ,Công Thỏa,Công Hoà
Ngô Công Thiệp sinh Công Mão,C.Đức,C.Dân,C.Lang,C.Hưng, Thị Quý
Ngô Công Thoan sinh Công Trác, Công Nựa
Ngô Quý Đỉnh sinh Thị Thăng
Ngô Công Hoằng sinh Thị Quyên, Thị Mẫu, Thị Sào
Ngô Công Miễn sinh Tấn Hữu, Ngô Hương, Tấn Trinh, Thị Lũ, Thị Ngọ, T.Đản,
Thị Lan, Thị Út
Ngô Hành sinh Ngô Nhiên, Ngô Lễ, Ngô Lộc, Ngô Giao, Ngô Thắng,
Thị Lợi
Ngô Lệ sinh Thị Trình, Thị Lự, Thị Bảo, Ngô Hộ, Ngô Lý, Ngô Luật
Ngô Công Thủ sinh Công Thủ, Thị Huỳnh, Thị Long, Thị Thôi
Ngô Công Bỉnh sinh Văn Mưu, Văn Thân, Thị Yến, Thị Tầm
Ngô Tánh sinh Việt Tương,Việt Hồng, Việt Toàn,Việt Quang, Thị Lai, Thị
Lạc, Thị Hoằng
Ngô Công Nhượng sinh Công Nhân, Công Thảo, Thị Ba
Ngô Công Minh sinh Công Sơn, Công Khê, Văn Hiền, Thị Lang, Thị Hà
Ngô Công Tấn sinh Văn Thanh, Kim Hùng, Công Dũng, Văn Hoà, Thị Trà,
Thị Nhung
Ngô Công Bường sinh Thị Bộ, Văn Tam, Văn Tứ
Ngô Công Đó sinh Thị Bé, Thị Hiền, Văn Hậu
Ngô Công Hoành sinh Thị Tâm
Ngô Công Nhi sinh Công Nhựt,Công Cương,Công Dũng,Công Bảy, Thị Tình
Ngô Công Ní sinh Công Ly,Công Ninh, Công Hùng,Công Tàu, Công Lâu
Công Long, Công Gấm, Thị Nguyên
Ngô Công Thích sinh Công Hoàng, Công Quân,Công Sự, Thị Kim Phượng, Thị
Vân, Thị Lang, Thị Loan, Thanh Hào
Ngô Công Hoành sinh Công Trước,Công Ninh,Công Khương, Công Bé, Công
Khanh, C.Đen, Thị Nhí, T.Cường, T.Dương, T.Thanh, T.Nghĩa
Ngô Công Chức sinh Công Sơn, Văn Chung,Văn Thành, Thị Hường, Thị Ly, Lý
Ngô Công Hoàng sinh Thị Nghi, Thị Nghĩa, Thị Thọ, Công Toàn, Công Lễ, Tấn Lộc
Tấn Khoa
Ngô Công Nhàn sinh Tấn Long, Mai Hoàng, Văn Châu, Thị Hoà
Ngô Công Trí sinh văn Cầm, công Hiệp, văn Hùng, công Tùng, tấn Vinh, Lài
Ngô Công Hân sinh Công Nghĩa, Công Đức, Công Ái, Công Thông, Công Minh,
Thị Lý, Thị Được, Thị Nhí
Ngô Công Ngoan sinh Công Sự, Thị Trử, Thị Thành
Ngô Công Uynh sinh Thị Tiến,Công Thắng,Văn Phước,Công Công ,Công Thành,
Công Ngọc, Thị Hoa, Thị Lợi
Ngô Công Được sinh Thị Tiến, Tấn Tài
Ngô Công Thời sinh Văn Quang
Ngô Công Khai sinh Thị Kiết,Thị Khoá, Thị Nhí, Thị Thi, Thị Tài,Công Thông, Công
Minh
Ngô Văn Đối sinh Công Xử, Công Xong, Công Luận, Công Lý
Ngô Công Em sinh Công Duy, Thị Khánh, Thị Thu, Thị Vân, Văn Công
Ngô Công Trí sinh Văn Điền, Văn Thiên, Thị Liên
Ngô Công Nhân sinh Thị Diệp, Văn Tạo, Văn Nên
Ngô Công Hiệu sinh Thị Hiệp
Ngô Công Thuận sinh Thị Trực
Ngô Công Lý sinh Văn Lịch, Văn Long
Ngô Công Trương sinh Công Thuật,Công Trang,Công Triết, Thị Thanh Thuỷ
Ngô Công Thành sinh Công Thái, Công Hường, Công Tâm, Thị Mỹ Liên
Ngô Công Luỹ sinh Thị Mỹ Lệ, Công Dũng
Ngô Công Trí sinh Văn Triều

Đời thứ 50

50 Ngô Công Thức sinh Thị Phước, Thị Lịch, Thị Phong, Thị Võ, Thị Trạch,Thị Á
Công Thái, Công Âu, Công Quý
Ngô Công Ý sinh Thị Yến, Thị Diệp, Thị Sâm, Quốc Thông,Quốc Bảo Ks
Ngô Công Đồi sinh Công Hường,Công Mai,C.Được, C.Sự, Thị Liễu, T.Dung
Ngô Công Đỗ sinh Công Trọng, Công Thành, Công Thọ
Ngô Công Bụi sinh Văn Lý, Văn Tuấn, Thị Luân, Thị Hồng
Ngô Công Thoả sinh Văn Cảnh, Văn Nga, Thị Ninh, Thị Bình, Thị Nguyệt, T.Nữ
Ngô Công Hoà sinh Thị Bích, Văn Tương, Văn Văn
Ngô Công Mão sinh Công Cường, Công Huy
Ngô Công Trác sinh Công Trác,Thị Tha, Huy Tùng,Huy Kiến,Văn Nhĩ,Thị Thái,
Thị Nhi
Ngô Tấn Hữu sinh Công Song, Công Hỷ,C.Đồng,C.Thông,C.Thành,Thị Thảo,
Thị Thanh, Thị Minh, Thị Liên
Ngô Tấn Hương sinh Công Lực,Công Ứớc,Công Diện,Công Diệp, Thị Tư, Thị
Trình, Thị Hậu, Thị Cơ, Thị Phòng
Ngô Công Nhiên sinh Thị Nghĩa, Thị Thuận, Thị Vân, Thị Thu, T.Đây, T.Tiên,
Đức Dũng, Văn Anh, Văn Hùng
Ngô Công Lễ sinh Văn Hoà, Văn Vĩnh, Văn Viễn, Văn Toàn, Văn Bình, Thị
Cúc, Thị Hoa
Ngô Công Lộc sinh Đức Tâm,Đức Cầu,Đức Vinh,Đức Quang, Thị Trúc, Thêm
Ngô Công Giao sinh Thị Thanh, Thị Thuỷ, thu Hồng, Văn Sơn
Ngô Công Thắng sinh Thanh Huy,Thanh Hoàng, Thị Huyền Trang, diễm Chi
Ngô Công Hộ sinh Thị Phúc, Thị Diệu, Tuấn Hải, Ca Tin
Ngô Công Dự sinh Thị Thái, Thị Hà, Văn Sơn
Ngô Công Mưu sinh Thị Mai, Thị Thu, T.Đông,Văn Long,Văn Y,Văn Ca, V.Liên
Ngô Công Thân sinh Thị Cẩm,Thị Bán, Thị Hoa, Thị Sen,Văn Lộc,Văn Dũng,Văn
Ứớc, Văn Hùng, Văn Thị nh
Ngô Công Tương sinh Anh Tuấn, Thị Mỹ Linh, Mỹ Thu, Mỹ Tâm
Ngô Công Hậu sinh Thị Diệu Thảo
Ngô Công Sơn sinh Đình Trọng
Ngô Công Dũng sinh Thanh Sơn, Thanh Nga, Thị Thanh Minh, Thị Thanh Hải
Thị Thanh Thuý
Ngô Công Gấm sinh Đức Lụa
Ngô Công Quân sinh Đức Tuấn
Ngô Công Khiết sinh Văn Tiến, Văn Tư, Văn Tuấn, Thị Hoà, Thị Hương
Ngô Công Kẽm sinh Văn Nga,Văn Mỹ,Văn Pháp,Văn Hùng,Văn Luật
Ngô Công Toàn sinh Thị Xuân, Thị Thuỷ, Thị Nguyệt, Văn Phúc
Ngô Văn Sơn sinh Văn Dũng
Ngô Công Lễ sinh Tấn Thành, Tấn Danh
Ngô Công Đức sinh Văn Tường,Văn Tài,Văn Phúc,Văn Thanh,Văn Nhàn,Văn
Phương, Thị Liên
Ngô Công Nghĩa sinhVăn Hà,Văn Nhựt,Văn Tùng,Văn Thị ,Thị Hồng, Thị Vân
Thị Hằng
Ngô Công Thông sinh Thị Luận, Thị Mến, Văn Tín,Văn Tuấn, Văn Đương
Ngô Văn Sự sinh Ngọc Linh, Ngọc Lân,Ngọc Lãnh,Ngọc Lễ,Ngọc Liều
Ngọc Lĩnh, Thị Liễu, Thị Lệ
Ngô Công Minh sinh Văn Hồng, Văn Thượng, Thị Sương
Ngô Công Thắng sinh Thị Bệ, Thị Hà, Thị Trang, Thị Hường,Hoà Hiệp,Văn Trí
Ngô Công Phước sinh Thị Nga, Văn Thức, Văn Cu
Ngô Công Thành sinh Văn Sơn, Văn Cường, Kim Hùng
Ngô Công Công sinh Công Tuấn, Thị Bé
Ngô Công Ngọc sinh Thị Liên, Thị Minh
Ngô Công Thông sinh Văn Thái
Ngô Công Minh sinh Văn Hải
Ngô Công Duy sinh Văn Thanh, Văn Việt
Họ Ngô Thổ Quan
Quận Đống Đa thành phố Hà Nội

Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu con trai thứ 7 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn dòng
Ngô Nước ở Trảo Nha tỉnh Hà Tĩnh,sinh hai con trai,con trưởng thiên cư Quảng Nam,
con thứ làm quan nhà Lê ở Thăng Long.Vài đời sau,khi vua Lê Chiêu Thống chạy theo
quân nhà Thanh, Ngô Phúc Thước về ở làng Quan Thổ,xã Thổ Quan,tổng Vĩnh An,huyện
Hoàn Long, trấn Sơn Tây,nay là phường Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội,
nay thành chi họ.

28 Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu, sinh Ngô Thuần Cẩm(con thứ).
29 Ngô Thuần Cẩm Thiên kỵ Thị vệ Kiệt trung hiệu lực Tướng quân, Bà Trần Thị
Chính sinh Phúc Lý
30 Ngô Phúc Lý Vệ uý Tráng tiết Tướng quân, Bà họ Đỗ sinh Phúc Thước
31 Ngô Phúc Thước Thước võ Bá, Thiên kỵ Thị vệ, sinh Phúc Hiển

-Bắt đầu định cư ở Thổ Quan-

32 Ngô Phúc Hiển Tuần phủ Bắc Ninh,bà Nguyễn Thị Bốn sinh Phúc Chính,Phúc Tư
Phúc Lục
33 Ngô Phúc Chính Bà họ Nguyễn, sinh Phúc Thẩm, Phúc Hy
34 Ngô Phúc Thẩm BàNguyễn Thị Nghiêm sinh Ngô Đáng,Ngô Vựng,Ngô Duy,Ngô
Tức, Ngô Tụ, Thị Sung, Thị Hoan
35 Ngô Đức Tụ Bà Mai Thị Lộ sinh Chu Phổ, Phúc Phương, Phúc Bàng

36 Ngô Phúc Phổ Bà Nghiêm Thị Ngọc sinh Phúc Hiệp, Phúc Hán, Phúc Hồ, cả
ba là tự vệ Cây Quéo Sài Gòn hy sinh tại Lái Thiêu- Phúc Du biệt
động Sài Gòn bị bắt tại bót Catina 1951 và bị xử bắn 1952

36 Ngô Phúc Phương Bà Nguyễn Thị Huệ sinh Phúc Nguyên, Thị Yến
37 Ngô Phúc Nguyên Bà Nguyễn Thị Lợi sinh Quang Phong, Thanh Thuỷ Ks., Thị Mai
Tất Vũ, Thị Hoa
38 Ngô Quang Phong Ks,Bà Vũ Thị Hằng sinh Anh Thư

36 Ngô Phúc Bàng sinh Phúc Hoạt, Tiến Nghĩa,Thành Dũng,Thị Quy,Thị Hồng,Tuyết
37 Ngô Phúc Hoạt Bà Phạm Thị Tuân sinh Quốc Minh,Quốc Tuấn, Thị Nga, Thị Hoa
Thị Mai
38 Ngô Quốc Minh Bà Nguyễn Thị Thảo sinh Quốc Trung

37 Ngô Tiến Nghĩa Bà Nguyễn Thị Yên sinh Tiến Trung,Tiến Quang,Quốc Chiến,
Quốc Thắng
38 Ngô Quốc Chiến Bà Nguyễn Thị Tuyết sinh Quốc Hiếu

37 Ngô Thành Dũng Bà Nguyễn Thị Tần sinh Thành Đạt, Thị Vân Anh, Thị Bích Hằng

35 Ngô Vựng Bà Nguyễn Thị Sâm sinh Ngô Kiên, Ngô Toàn, Thị Tề, Thị Xây
Thị Tiêm, Thị Thính
36 Ngô Kiên Bà Đặng Thị Hải sinh Ngô Vọng, Ngô Trọng

36 Ngô Toàn Bà Nguyễn Thị Thiên sinh Ngô Nhã, Thị Nền, Thị Mỹ, Thị Nhiên
37 Ngô Nhã Bà Vũ Thị Miến sinh Tính Huynh,Công Tính, Thị Kính, T.Chinh
Thị Bình, Thị Yến
38 Ngô Tính Huynh Bà Đinh Thị Huyền sinh Thanh Tùng, Thị Nhung, Thị Ánh
38 Ngô Công Tính Bà Phạm Thị Vót sinh Mạnh Tiến, Thị Thanh

35 Ngô Duy Bà Hoàng Thị Thoán sinh Ngô Kha, Thị Cư, Thị Lượng, Thị Điểm
Thị Viêm, Thị Soạn
36 Ngô Kha Bà Nguyễn Thị Xây sinh Ngô Tình, Ngô Khánh, Văn Khương,
Quang Khải, Quang Khanh, Quang Khôi, Quang Khiêm, Thị Hoà
Thị Lượng, Thị Khuê, Thị Thoa

37 Ngô Tình Bà Nguyễn Thị Mùi sinh Tùng Sơn, Thị Thu Hương
37 Ngô Khánh Bà Nguyễn Thị Thu sinh Thị Thanh Thuỷ, Quang Trung, Q.Thành
37 Ngô Văn Khương Đh,Bà Trương Thị Thu Hồng sinh Thị Hồng Nga, Tùng Bách
37 Ngô Quang Khải Bà Đặng Thị Kim sinh Phi Hiền , Thị Kim Thanh
37 Ngô Quang Khiêm Ks,Bà Nguyễn Thị Dần sinh Thanh Trầm, Đức Thọ
37 Ngô Quang Khanh Bà Đinh Thị Bình sinh Quốc Thắng
37 Ngô Quang Khôi Bà Đào Thị Hồng sinh Thanh Tùng, Thị Hồng Điệp, thu Trang

33 Ngô Phúc Tư Bà Vũ Thị Hợp sinh Đức Lai, Ngô Trác, Ngô Tĩnh
34 Ngô Đức Lai Bà Lê Thị Can sinh Văn Phú
35 Ngô Văn Phú Bà Đặng Thị Hiên sinh Ngô Thân, Thị Thanh, Thị Giữa
36 Ngô Thân Bà Nguyễn Thị Thông, sinh Thị Nhung, Ngô Nhinh, Ngô Nhâm,
Ngô Văn Tư, Ngô Văn Hồi,Thị Ế

37 Ngô Nhinh Bà Nguyễn Thị Ngọc sinh Quốc Cường,
Thị Bích Liên,Bích Vân, Bích Thuỷ
37 Ngô Nhâm Bà Tạ Thị Lý sinh Nhị Hà, Nhị Hồng,
Thành Công
37 Ngô Văn Hồi Bà Trần thanh Hằng sinh Chí Hoàng,
Bích Thaỏ
37 Ngô Văn Tư Bà Lê Thị Minh sinh Kiên Trung, Tùng Linh

34 Ngô Trác Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Ngô Vỹ
35 Ngô Vỹ Bà Nguyễn Thị Trang sinh Ngô Trấn
36 Ngô Trấn Bà Nguyễn Thị Cẩm sinh Thế Chí,
Quốc ĐộQuốc Tế, Thị Vịnh, Ngô Tĩnh, Bỉ Đắc
37 Ngô Thế Chí Bà Nguyễn Thị Sữa sinh Đức Khương,
Anh Tuấn, Thanh Bình,Thị An
38 Ngô Đức Khương Bà Nguyễn Thị Hương sinh Đức Thành,
Thị Phương
38 Ngọ Anh Tuấn Bà Vũ Ngọc Liên sinh Anh Tiến, Thị Thuỷ

37 Ngô Quốc Độ Bà Nghiêm Thị Chi sinh Quốc Hùng,
Quốc Quân, Quốc Dân
Thị Thục Hiền, Thu Hà
38 Ngô Quốc Quân Bà Vũ Thị Liên sinh Ngô Kiên

37 Ngô Bỉ Đắc Bà Bùi Thị Phượng sinh Văn Tân, Tuấn Anh,
Thị Mỹ
37 Ngô Tĩnh Bà Phùng Thị Mịch sinh Ngô Đạt (vt)

33 Ngô Phúc Lục Bà Phùng Thị Sáu sinh Ngô Vinh, Ngô Dự,
Thị Bích
34 Ngô Vinh Bà Nguyễn Thị Bé sinh Ngô Đạo (vt)

34 Ngô Dự sinh Ngô Hưng
35 Ngô Hưng Bà Bùi Thị My sinh Thị Đuông, Thị Thức,
Đức Vượng, Đức Long, Đức Kế
36 Ngô Đức Long Bà Ngô Thị Thực,
Bà thứ Phạm Thị Quỳ sinh Đức Thắng,Đức Lợi
Thị Dực, Thị Phơn, Thị Hoà, Thị Hoàn,
Thị Bích, Thị Liên, T.Loan
37 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Phi Hùng, Phi Nga
Thúy Ngân, Thị Ngần
37 Ngô Đức Lợi Bà Nguyễn Thị Lâm sinh Đức Hải, Thị
Bảo Yến

34 Ngô Phúc Hy Bà Vũ Thị Thị nh sinh Ngô Ích
35 Ngô Ích sinh Ngô Hương, Ngô Bái,( biệt quán)

CHI VIII Vân lĩnh Hầu Ngô Phúc Phổ
Làng Vĩnh Ba, xã Hòa Đông, huyệnTuy Hoà, tỉnh Phú Yên

28Ngô Phúc Phổ Vân lĩnh Hầu ,lúc nhỏ có tên là Bạc, con trai thứ 8 Tào Quận công,
phả cũ chép thất truyền,mấy năm gần đây chi họ Ngô chợ Rạng huyện
Thanh Chương về nhận tổ,chưa có thế thứ .
Gần đây lại có họ Ngô Văn ở huyện Tuy Hoà tỉnh Phú Yên nhận là dòng
Ngô Phúc Phổ.
Hiện chưa thể khẳng định được, về niên đại thế thứ và tương truyền
cần nghiên cứu thêm. Tuy còn là tồn nghi, nhưng thể theo lòng thành
của cả họ nên chép vào đây để sưu tầm xác định sau.

29 Ngô Văn ….. sinh Ngô Văn Mẫn
30 Ngô Văn Mẫn sinh Ngô Văn Nguyệt
31 Ngô Văn Nguyệt sinh Văn Thạch, Văn Phân, Văn Đôn, Thị Chuẩn, Thị Chủ, T.Kéo

32 Ngô Văn Đôn Bà Trần Thị Dư sinh Văn Thận, Văn Miền, Văn Nhu,
Thị Tịch,Thị Lần
33 Ngô Văn Nhu Bà Nguyễn Thị Quyến sinhVăn Sỹ,Văn Khánh,Văn Tàu,Văn Sơn
Văn Thôn, Thị Dụng, Thị Thọ

34 Ngô Văn Sỹ Ba Hà Thị Trí,Bà thứ Đặng Thị Hiên sinh Văn Cư,Văn Thu,V.Đậu
Văn Bình, Thị Ở, T.Để, T.Huệ
35 Ngô Văn Bình Bà Nguyễn Thị Thảo sinh V. Thấu,V.Đâu,V.Oai,V.Chấn,V.Hậu
V.Hân, V.Thuyền, Thị Cứng, Thị Cảnh, Thị Mười, Thị Cúc
36 Ngô Văn Thấu Bà Nguyễn Thị Hường sinh Văn Quảng,Văn Xá,Văn Thưởng,
Văn Tuôi, Thị Lại, Thị Liệu, Thị Điểm, Thị Diễn, Thị Nhiễu

37 Ngô Văn Quảng sinh Thị Nghiã
37 Ngô Văn Xá Bà Lê Thị Riềng, Bà thứ Nguyễn Thị Dẹt sinh Ngô Cần,Văn Mịn,
Ngô Tân, Thị Ân, Thị Mĩn, Thị Đào

38 Ngô Cần Bà Đào Thị Hấp sinh Thị Xanh, Thị Linh, Thị Kiểm
38 Ngô Tân Bà Trần Thị Gành sinh Ngô Long,Lâm Tòng, Thị Ẩn,Văn Thắng,
Thị Thư

39 Ngô Long Bà Nguyễn Thị Yến sinh Tất Thắng,Văn Công,Văn Năm,
Thị Sương, Thị Sót
39 Ngô Lâm Tòng Bà Nguyễn Thị Câu

37 Ngô Văn Thưởng Bà Nguyễn Thị Chao sinh Thị Sum, Thị Quả, Thị Chinh, Thị Bình,
Ngô Dễ, Văn Nhơn, Văn Quẹo, Ngô Cản
38 Ngô Dễ sinh Thị Nhuận, Thị Thìn, Thị Phê

37 Ngô Văn Tuôi Bà Phạm Thị Rớt sinh Thị Diện

36 Ngô Văn Oai Bà Nguyễn Thị Nhi sinh Văn Tuân, Văn Nhã, Ngô Ngưng, Ngô
Tuân, Thị Y, Thị Ơn, Thị Tiểu
37 Ngô Văn Tuân Bà Nguyễn Thị Chẻ sinh Thị Chỉnh, Thị Oanh, T.Phần, T.Xang,
Ngô Chẩn, Ngô Kỉnh, Ngô Đàm
38 Ngô Chẩn Bà Đào Thị Phương, Bà thứ Trần Thị Chuông sinh Thị Khiết,
T.Đính, T.Bính, Thị Ba, Thị Thanh, T.Thuỷ, Ngô Nông, Ngô Vân,
Văn Trọng
39 Ngô Nông Bà Lê Thị Nhân sinh Thị Phương, Hồng Phong, Hồng Linh,
Hồng Ân
39 Ngô Vân Bà Lê Thị Bé sinh Thị Lê, Thị Liên, Thị Hiệp, Thời Nhiệm,
Văn Trường

38 Ngô Kỉnh Bà Lương Thị Thừa sinh Ngọc Sức,Ngọc Thử, Ngọc Thức,Ngọc
Xem, Thị Kế, Thị Sang
39 Ngô Ngọc Thử Bà Nguyễn Thị Niệm,Bà thứ Nguyễn Thị Lan sinh Ngọc Thảo, Ngọc Toàn, Ngọc Dân, Thị Cẩn, Thị Loan
39 Ngô Ngọc Thức Bà Đỗ Thị Chiêm sinh Ngọc Ca, Ngọc Đỏ, Thị Chi, Thị Ly

37 Ngô Văn Nhã Bà Trần Thị Mạch, Bà thứ Trần Thị Ngộ sinh Ngô Dã, Thị Chĩn
Thị Xua, Thị Lộc, Thị Nổi

37 Ngô Ngưng Bà Cao Thị Đinh sinh Ngô Tầm,Thái Giám,NgôĐạm,Xuân Bàng,
Ngô Hồng, Thị Hoa
38 Ngô Tầm Bà Dương Thị Kẽm sinh Ngô Xuân, Ngô Hà,Văn Sáu, Thị Lam,
Thị Bảy, Thị Tám, Thị Chín, Thị Mười, T.Thừa, T.Thu
39 Ngô Xuân Bà Lê Thị Hãnh sinh Thị Lài, Thị Lai, Thị Gái
39 Ngô Hà Bà Nguyễn Thị Mận sinh Thị Dương, Thị Diêm, Thị Hộp
Ngọc Dung, Ngọc Dân, Ngọc Hạ

38 Ngô Thái Giám Bà Lê Thị Đón sinh Tấn Hạnh, Thị Yến, Thị Sang, Thị Nhạn
39 Ngô Tấn Hạnh sinh Thị Lệ Minh, bích Thảo, bích Hải, Đức Trí

38 Ngô Đạm Bà Nguyễn Thị Xích sinh Thị Xanh, Xuân Miến, Văn Liên,Văn
Thắng, Thị Tiến
39 Ngô Xuân Miến Bà Phạm Thị Hương sinh Quốc Huy, Quốc Vũ

38 Ngô Hồng Bà Võ Thị Khanh
38 Ngô Xuân Bằng Bà Mai Thị Diệp sinh Thị Diện, Thị Nhàn, Thị Đởn, Thị Kiều,
Ngọc Bích, Xuân Ninh, Xuân Vinh

37 Ngô Tuân Bà Nguyễn Thị Mỏi sinh Xuân Bang, Xuân Lộc, Xuân Tấn,
Xuân Thơm, Thị Sớm, Thị Trưa
38 Ngô Xuân Bang sinh Thị Diệm, Thị Tú

38 Ngô Xuân Lộc Bà Dương Thị Tin sinh Xuân Yên, X.Được,Xuân Sử,X.Đồng,
Thị Phán, Thị Diệp, Thị Ý, Thị Vân
39 Ngô Xuân Yên Bà Nguyễn Thị Luyến sinh Xuân Tâm, Xuân Trung, Xuân Việt
39 Ngô Xuân Được Bà Lê Thị Sa sinh Thị Phương, Xuân Quý

38 Ngô Xuân Tấn Bà Tạ Thị Bàn sinh Xuân Bảo, Xuân Lâm
39 Ngô Xuân Baỏ Bà Nguyễn Thị Điều sinh Thị Nga, Xuân Quốc

38 Ngô Xuân Thơm Bà Võ Thị Sang sinh Thị Hương,Thị Sớt,Thị Huệ,Thị Liễu,T.Đào,
Xuân Công, Xuân Nhân

36 Ngô Xuân Chấn Bà Huỳnh Thị Cân sinh Thị Lụa

36 Ngô Xuân Hậu Bà Trương Thị Đạt,bà thứ Nguyễn Thị Bịp và Nguyễn Thị Liêu
Sinh Thị Dấu,Thị Bẻo,Thị Nấu,Thị May,Văn Quang,Ngô Nhặm
37 Ngô Văn Quang Bà Nguyễn Thị Nơi sinh Ngô Tú, Ngô Dài, Ngô Xếp, Văn Lốn,
Thị Chốn, Thị Bể

38 Ngô Tú Bà Lê Thị Bốn sinh Văn Sâm,Thị Nhung, Thị Nhân,Thị Chúng, Thị Sáu, Thị Phụ, Thị Thừa,Văn Nam, Như Trạch
39 Ngô Văn Sâm Bà Cao Thị Trang sinh Văn Nhựt, Văn Tam,Văn Tứ, Thị Nhị
39 Ngô Văn Nam Bà Nguyễn Thị Nhàn sinh Văn Giang

38 Ngô Dài Bà Hà Thị Ao sinh Văn Thường,Văn Bằng, Thị Thọt, Thị Yên
Thị Tâm, Thị Hiệp
39 Ngô Văn Thường Bà Phạm Thị Điểm sinh Thị Nhanh
39 Ngô Văn Bằng Bà Nguyễn Thị Hường sinh Xuân Phước,XuânSang,Xuân Thắng,
Xuân Vinh, Thị Sương, Thị Kiều

38 Ngô Xếp Bà Nguyễn Thị Sở, Bà thứ Trần Thị Thanh sinh Thị Hương, Thị
Vân, Xuân Hoàng, Xuân Hạnh, Đình Phúc
39 Ngô Xuân Hoàng Bà Nguyễn Thị Trang sinh Thị Loan, Thị Liễu,Đình Luận,Đ.Lập

37 Ngô Nhặm Bà Hà Thị Biền sinh Ngô Diệp, Ngô Cuộc, Ngô Cút, Thị Kỳ
Thị Kít, Thị Kịt, Thị Kim

34 Ngô Văn Khánh Bà Võ Thị Ngữ, Bà thứ Võ Thị Thơ sinh Văn Tuyên,Văn Toàn
Văn Thái, Văn Hồi,Văn Hứa,Văn Sum,Văn Thức, Thị Cầm,
Thị Quyền, Thị Quyết, Thị Tập
35 Ngô Văn Tuyên Bà Nguyễn Thị Hân sinh Văn Thuần,Văn Kiêm,Văn Khuôn,Văn
Viên,Văn Tây, V.Đạo, Văn Nữa, Thị Thuộc, Thị Kỹ, T.Đợi
36 Ngô Văn Thuần Bà Đào Thị Lại sinh Văn Phẩm,Văn Ngộ,Văn Huyện, Thị Hoa
Thị Vỵ, Thị Tỳ, Thị Tục, Thị Cửu, Thị Kiết
37 Ngô Văn Ngộ Bà Nguyễn Thị Hết sinh Ngô Nghĩnh,Ngô Đặng, Ngô Đắc,
Thị Liễu
38 Ngô Nghĩnh Bà Đoàn Thị Sen,Bà thứ Trần Thị Cấn sinh Ngô Đó, Ngô Mầu,
Kim Quý, Văn Câu, Thị Ơn, Thị Cành
39 Ngô Đó Bà Cao Thị The sinh Văn Thạch, Thị Phấn, Thị Thơm, Thị Tho,
Thị Thư, Thị Hạnh
39 Ngô Mầu Bà Lê Thị Đào sinh Kim Học, Thị Hiền,Kim Hoài,Kim Huy, Thị
Bũm, Thị Oanh
39 Ngô Kim Quý Bà Lê Thị Nhi sinh Thị Trúc, Thị Liến, Ngọc Thân, Ngọc Dân,
Ngọc Ninh
39 Ngô Văn Câu Bà Nguyễn Thị Thiện sinhTấn Lục,Ngọc Linh,Tấn Lợi,Ngọc
Lâm , Văn Lượng, Thị Lam

38 Ngô Đặng Bà Nguyễn Thị Bửng sinh Kim Hùng, Kim Lưng, Kim Lẫy,Kim
Cườm, Thị Xuyến, Thị Kim
39 Ngô Kim Lưng Bà Nguyễn Thị Thọ sinh Thành Nam, Thành Việt, Thị Miêu
39 Ngô Kim Lẫy Bà Đào Thị Hánh sinh Thị Hằng, Thị Chi

38 Ngô Đắc Bà Lê Thị Sữa sinh Ngọc Dung,Đức Thắng,Minh Long,
Đức Trình, Thị Loan, Thị Liên
39 Ngô Đức Thắng Bà Lê Thị Lan sinh Quốc Việt

37 Ngô Can Bà Đào Thị Hay,Bà thứ Trần Thị Thương sinh Ngô Phùng, Ngô
Trực,Văn Kiển, V.Đây, Kim Sang,Thị Đay,Thị Cho,Thị Tho
38 Ngô Phùng Bà Nguyễn Thị Riêu sinh Ngô Chinh , Ngô Bốn, Ngô Năm, Ngô
Sáu, Thị Thành, Thị Thổi
39 Ngô Năm Bà Huỳnh Thị Lùng sinh Thị Thương, Đình Luân
39 Ngô Sáu Bà Đinh Thị Sâm sinh Thị Sim,Thị Sương, ThịSinh,Thị Sơn,
Thị Sợ, Quốc Sư, Quốc Sự, Tú Siền, Thành Siên

37 Ngô Cương Bà Nguyễn Thị Nhiễu sinh Ngô Hào,Tố Hữu,Trực Minh,Văn
Bằng, Ngô Tự, Thị Phú, Thị Nhị, Thị Cúc
38 Ngô Tự Bà Nguyễn Thị Nghi sinh Đình Khoa,Văn Nhông,Văn Ánh,
Thị Thi
39 Ngô Văn Nhông Bà Lê Thị Minh sinh Rô Ben
39 Ngô Văn Ánh Bà Phan Thị Lan sinh Chí Hoà, Chí Hiệp

37 Ngô Cương Bà Lê Thị Chẩm sinh Thị Rô, Thị Rãnh, Thị Mươn, Thị Liên, Ngô
Chính
38 Ngô Chính Bà Võ Thị Thuỵ sinh Thị Dương,Thị Phụng, Thị Phương, T.Nhanh,
Thị Tám, Ngô Tiền,Văn Ngọc,Văn Minh, Văn Tiến

37 Ngô Nhượng Bà Phùng Thị Tịch, Bà thứ Huỳnh Thị Lê sinh Thị Mích,Thị Mịch
Thị Xịch, Hà Thanh, Ngô Liêm, Ngô Cát, Ngô Đài
38 Ngô Hà Thanh Bà An Thị Maõ sinh 4 con không rõ tên
38 Ngô Liêm Bà Nguyễn Thị Hoa sinh Thị Lọc, Thị Kỹ, Ngô Diệm, Ngô Nhiên Ngô Thắng, Ngô Nhất
39 Ngô Diệm sinh Thị Sen

38 Ngô Đài Bà Phạm Thị Hạnh sinh Văn Đàm , Thị Diễn, Thị Diễm, Thị Diên,
Văn Bình

37 Ngô Tương Bà Lê Thị Bim sinh Ngô Như,Văn Khuê,Văn Cấp,Văn Cư,Văn
Canh, Văn Nhuệ, Thị Nhẫn, Thị Nhị
38 Ngô Văn Cư Bà Lê Thị Tám sinh Hùng Hoan,Văn Thạch, Thị Thuý, Thị Bích
Thị Thuỷ
38 Ngô Văn Canh Bà Phan Thị Sang sinh Thạch Cẩn,Văn Hạ,Văn Hồi, Thị Văn

36 Ngô Văn Viên Bà Võ Thị Đeo sinh Ngô Nắng, Ngô Niều, Ngô Đó, Ngô Mão,
Văn Rỏn, Thị Diển, Thị Rèn
37 Ngô Nắng Bà Thị Cút sinh Văn Soi, Thị Suối
37 Ngô Niều Bà Hồ Thị Cộ sinh Ngô Tre, Thị Liền, Thị Ngọc, Ngô Quang,
Thị Ngào
38 Ngô Tre Bà Đặng Thị Quyên sinh Ngô Trước, Văn Trúc, Văn Trách,
Thị Sâm, Thị Giót
39 Ngô Văn Trúc Bà Trần Thị Đẹp sinh Thanh Bình,Thanh Hùng, Thị Yến, T.Luyến
39 Ngô Trách Bà Phan Thị Nhạn sinh Văn Việt, Minh Tâm, Thị Tùng, Thị Kết,
Thị Giá

38 Ngô Quang Bà Trần Thị Rung sinh Thị ảnh, Thị Lan, Thị Liễu, Thị Lệ

37 Ngô Đó Bà Võ Thị Xuồng sinh Ngô Như, Ngô Chạy, Thị Mà, Thị Mậu.
38 Ngô Như BàLê Thị Đậy,Bà thứ Nguyễn Thị Cửa sinh Ngô Lư,Ngô
Hương, Ngô Trúc, Ngô Sáu, Thị Năm, Thị Tám, Thị Chín
39 Ngô Lư Bà Phạm Thị Chín sinh Văn Sang,Văn Giáo,Văn Cao, Thị Thư,
Thị Kim, Thị Lam, Thị Chín
39 Ngô Hương Bà Trần Thị Bảy sinh Văn Hoà, Văn Hiếu, Văn Diệu, Văn Thoại,
Thị Thảo, Thị Hiền.
39 Ngô Trúc Bà Lương Thị Căn sinh Văn Trạng, Văn Quỳnh, Văn Quý,
Thị Trang, Thị Bé
39 Ngô Văn Sáu Bà Hà Thị Sương sinh Văn Tiến, Văn Tùng, Thị Liên, Thị Liêu.

38 Ngô Chạy Bà Nguyễn Thị Liệu sinh Ngô Đức , Ngô Thắng.

37 Ngô Mão Bà Võ Thị Cân sinh Thị Xê,Thị Chửng,Thị Khế, Thị Ẩn,
Văn Vững.
38 Ngô Văn Vững Bà Lê Thị Nhị sinh Thị Liên, Thị Liêm, Thị Lĩnh, Thị Liều,
Thành Lăng, Thành Liễn.
39 Ngô Thành Liễn Bà Trần Thị Năm sinh Hoàng Vũ

37 Ngô Văn Rỏn sinh Thị Phép, Văn Khương, Thị Băng
38 Ngô Văn Khương sinh Thị Điền, Thị Năm, Thị Sáu, Thị Tám

36 Ngô Văn Tây Bà Đinh Thị Chuột sinh Thị Dệt, Thị Dùng, Thị Lắc, Thị Lúp.

35 Ngô Văn Hồi Bà Lê Thị Nghĩa sinh Văn Luân,Văn Niên,Văn Thư, Thị Sang.
36 Ngô Văn Luân Bà Huỳnh Thị Dện sinh Thị Kỷ, Thị Dần, Thị Tròn, Thị Dành,
Thị Tuồng.
36 Ngô Văn Niên` Bà Lê Thị Miệt sinh Văn Tùng, Thị Trường, Văn Duy.
37 Ngô Văn Tùng Bà Nguyễn Thị Thập , Bà thứ Lê Thị Muốn sinh Ngô Châu, Thìn.
38 Ngô Châu Bà Lê Thị Cạnh sinh Thị Nhi, Thị Phi, Thị Nhung
38 Ngô Thìn Bà Nguyễn Thị Bích sinh Văn Tỵ, Thị Nhị,Văn Mậu, Ngô Năng,
Ngô Hanh.

39 Ngô Văn Tỵ sinh Thái Tĩnh, Thị Tuyên, Thị Tâm.
39 Ngô Văn Mậu Bà Trương Thị Kim sinh Trường Huề,Trường Hoan,Khải Hoàng,
Thị Hoàng Anh, Thị Hoàng.
39 Ngô Năng Bà Trần Thị Xuân sinh Trường Ninh.

35 Ngô Văn Hứa Bà Lê Thị Thắm sinh Văn Lược,Văn Lại, Thị Khuy, Thị Lâu,
Thị Chim, Thị Cu, Thị Cò, Thị Lợi, Thị Sen, Thị Thừa, Văn
Hoàn,Văn Quốc, Văn Khải, Thị Khiểng.

36 Ngô Văn Quốc sinh Văn Chí
36 Ngô Văn Khải Bà Huỳnh Thị Thôi sinh Ngô Trữ, Ngô Dược, Ngô Nhung, Ngô
Luận, Ngô Tại, Thị Liên, Thị Tiếp.
37 Ngô Trữ Bà Tạ Thị Xo sinh Đình Trọng, Kim Anh, Thị Hãn
38 Ngô Đình Trọng Bà Hà Thị Kính sinh Thị Hiệp, Thị Diệp, Thị Trọng, Thị Thảo,
Đình Nam, Đình Tèo, Đình Hân.
38 Ngô Kim Anh Bà Nguyễn Thị Nhị sinh Kim ảnh, Thị Thuấn, Thị Ánh, Thị Hoa,
Phước Hưng, Phước Lợi, Phước Hào, Phước Cương

37 Ngô Nhung Bà Lê Thị Gần sinh Thị Niềm, Thị Kiểm, Thị Điểm, Thị Cẩm, Thị
Trẩm, Thị Nhánh, Thị Quyên, Đình Phước,Đình Thiện, Đ.Hiền.
38 Ngô Đình Phước Bà Trần Thị Nhanh sinh Thị Sương, Thị Huệ, Thị Huê,
Thị Hương,Thị Ơn, Trung Hoàng
39 Ngô Trung Hoàng sinh Trung Hội, Trung Huy, Trung Hoài, Thị Hạnh, Thị Hơn,
Thị Hợp

38 Ngô Đình Thiện Bà Nguyễn Thị Sữa sinh Thị Thuý, Thị Thuỳ, Thị Trang, Thị
Quang, Thị Trương, Đình Trung, Văn Bình
38 Ngô Đình Hiền Bà Hồ Thị Hiền sinh Thị Ất, Thị Thảo, Văn Nguyên.

37 Ngô Được Bà Dương Thị Nhỏ sinh Tấn Lực, Tấn Quyền, Ngọc Quyện.
38 Ngô Tấn Quyền Bà Nguyễn Thị Hương sinh Thị Lệ, Thị Thuỷ, Thị Mỳ, Thị Bê,
Tấn Bi.
38 Ngô Ngọc Quyện Bà Trần Thị Thắm sinh Thị Quỳnh,Thị Gấm,Thị Gương,Tấn Quân

37 Ngô Kim Để Bà Nguyễn Thị Gọi sinh Đình Thám, Ngọc Diệm,Văn Duy, Thị
Sang, Thị Hương.
38 Ngô Ngọc Diệm Bà Nguyễn Thị Chẻo sinh Ngọc Diệp,Ngọc Dương, Thị Dâng,
Ngọc Du, Ngọc Dang.
38 Ngô Văn Duy Bà Lê Thị Xị sinh Thị Chi, Văn Thiêm,Văn Dem, Văn DúT.

37 Ngô Luận Bà Nguyễn Thị Mân sinh Thị Hoà, Thị Thanh, Thị Can, Thị Trà,
Tấn Tài
38 Ngô Tấn Tài Bà Lê Thị Trực sinh Tấn Toàn, Tấn Tuấn, Tấn Thí, Thị Thúc.

37 Ngô Tại Bà Trần Thị Huề ,Bà thứ Trần Thị Xuyến và Trần Thị Liễu
sinh Thị Nhẫn, Thị Nhịn, Thị Mươn, Thị Nhan, Thị Neo, Thị
Vương Thị Rít,Văn Chúng,Văn Thuỷ, Kim Lùng, Kim Hữu.

35 Ngô Văn Thức Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Văn Nô,Văn Thử,Văn Cường,Văn Hiếu,
Thị Danh, Thị Diễn, Thị Nhặt, Thị Ý
36 Ngô Văn Thử Bà Trần Thị Dường sinh Văn Sáng, Thị Ngẫu, Thị Kỹ.
37 Ngô Văn Sáng Bà Nguyễn Thị Đậy sinh Văn Lý, Thị Hường.
38 Ngô Văn Lý Bà Nguyễn Thị Lại sinh Văn Hương, Văn Ân, Văn Hân, Thị Sen.
39 Ngô Văn Hương Bà Huỳnh Thị Ngọc sinh Thị Loan, Thị Thảo, Đại Nghĩa, Minh
Đức, Minh Dũng.

36 Ngô Văn Cường Bà Lê Thị Quý,Bà thứ Lê Thị Tài,Phạm Thị Đặng và Huỳnh Thị Lệ
sinh Trọng Cảnh, Trọng Kiểm, Thị Cải.
37 Ngô Trọng Cảnh Bà Lê Thị Thuỵ,Bà thứ Lê Thị Khẳm sinh Thạch Ủng,Thạch Lộc,
Thị Lê, Thị Lam, Thị Sương.
38 Ngô Thạch Ủng Bà Trần Thị Khiểm sinh Thạch Phổ, Thị Phiểng, Thị Phương, Thị
Thoa, Thị Phi, Thị Vỵ, Thạch Doãn, Thạch Diễm, Thạch Dĩnh
38 Ngô Thạch Lộc Bà Huỳnh Thị Liên sinh Đình Dũng, Đình Duy,Đình Duyên, Thị
Diệu, Thị Diệp, Thị Dâng.

37 Ngô Trọng Kiểm Bà Trần Thị Hồng sinh Trọng Hạnh, Trọng Bình, Trọng Thành,
Trọng Bác, Trọng Cư, Thị Nhung, Thị Dung, Thị Anh.

38 Ngô Trọng Hạnh Bà Lê Thị Hương sinh Lệ Huyền, Thị Hoa,Thị Huệ, Trọng Hội.
38 Ngô Trọng Bình Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ sinh Trọng Tĩnh, Thị Thuý, Thị Thi,
Thị Thơ.
38 Ngô Trọng Thành Bà Lê Thị Phước sinh Viết Phú, Thanh Nghi, Thị Ngà.

34 Ngô Văn Tàu Bà Nguyễn Thị Tồn,Bà thứ Nguyễn Thị Kích sinh Văn Hải,V.Hồ,
V.Chất, V.Chí, V.Phát, Thị Huống, Thị Đa.
35 Ngô Văn Hải Bà Đặng Thị Nhũ sinh Thị Nhùng,Thị Huỳnh,Thị Tương,Thị Kinh,Thị Úc, Thị Chỉ, Thị Thêm,Văn Phương,Văn Chiểu,Văn Lan.
36 Ngô Văn Phương Bà Trần Thị Kén,Bà thứ Lê Thị Dụng sinh Văn Hoé, Phụng Trì,
Văn Ngọ, Văn Xíu, Thị Hối, Thị Chi, Thị Hán.
37 Ngô Phụng Trì Bà Nguyễn Thị Vụ sinh Xuân Hường,Xuân Hàm,Thị xuân Hương
38 Ngô Xuân Hường Bà Nguyễn Thị Chi sinh Đình Du,Xuân Đổng,Xuân Đào,Xuân
Sắc, Thị Đốc, Thị Tràng.
39 Ngô Đình Du Bà Nguyễn Thị Đàn sinh Đình Diêm,Đình Diên,Đình Dũng,
Thị Diệu, Thị Diêu, Thị Dùng, Thị Dằng
39 Ngô Xuân Đổng Bà Nguyễn Thị Rác sinh Thị Dung,Dung Mỹ,Thị Hồng,Xuân
Phong.
39 Ngô Xuân Sắc Bà Bùi Thị Giải sinh Xuân Sinh, Xuân Sang, Xuân Sạn, Thị Sen,
Thị Gái, Thị Út
38 Ngô Xuân Hàm Bà Lê Thị Năm sinh Xuân Thâm

36 Ngô Văn Lan Bà Nguyễn Thị Liễu sinh Văn Đầm, Thị Soạn, Thượng Viện .
37 Ngô Thượng Viện Bà Trần Thị Vy,Bà thứ Trần Thị Uyển và Lê Thị Tốn sinh Thượng
Bộ,Thượng Đảm,Thượng Ẩn,Thượng Đản,Thượng Khiết,Thượng
Anh, Thị Ngang, Thị Nghi, Thị Miên, Thị Diễn, Thị Phú, Thị Thư,
Thị Hào, Thị Mỹ, Thị Thang, Thị Nguyên.
38 Ngô Thượng Đảm Bà Phan Thị Phúc sinh Phan Lưu, Phan Ty, Thị Phan Xuân, Thị
Phan Thân, Thị Phan NguyệT.
39 Ngô Phan Lưu Bà Đỗ Thị Phượng sinh Mạnh Kha, Mạnh Doãn, Mạnh Quỳnh,
Thị Hoa Nguyên, Thị Thanh Nhã.
39 Ngô Phan Ty Bà Mã Thị Bích Loan sinh Tầm Nguyên,Tây Nguyên,Trung
Nguyên, Đình Nguyên.

38 Ngô Thượng Ẩn Bà Nguyễn Thị Mai Lan sinh Thị Kim Liên, Thị Thu Trang,Việt
Trung, Phương Nam.
39 Ngô Việt Trung Bà Trần Thị Thu Hiền sinh Thị Thảo Ly

38 Ngô Thượng Anh Bà Nguyễn Thị Thạo sinh Thượng Bi, Thượng Tin, Thị Nguyệt,
Thị Phi, Thị Lam, Thị Hiền, Thị Nương, Thị Út

35 Ngô Văn Chí sinh Văn Tuyển,Văn Tuy,Thị Đích,Thị Trọn,Thị Huyện,Thị Huẫn,
Thị Mậu.
36 Ngô Văn Tuy sinh Văn Hôi, Văn Hoi, Văn Móc, Văn Chạm.
37 Ngô Văn Hôi Bà Đào Thị Dơi sinh Ngọc Dận, Ngọc Dã, Ngọc Thời.
38 Ngô Ngọc Thời Bà Lê Thị Thà sinh Ngọc Phú, Ngọc Tài, Văn Sáu, Thị Hồng
39 Ngô Ngọc Phú sinh Tấn Hữu, Tấn Ích, Thị Bé, Thị Thu, Thị Anh
39 Ngô Ngọc Tài sinh Tấn Thọ, Thanh Tràng, Văn Kin, Thị Hương
39 Ngô Văn Sáu Bà Bùi Thị Sa, Bà thứ Lê Thị Hạnh sinh Đình Năng,Đình Phúc,
Đình Phích, Đình Khởi, Thị Kiều, Thị Diễm

38 Ngô Dã Bà Nguyễn Thị Miền sinh Ngô Luận, Văn Hưng, Thị Sáu, Thị
Thị Dưng, Thị Nhưng, Thị Nhi
39 Ngô Luận Bà Lương Thị Ánh sinh Minh Diệu, Minh Điện, Minh Tịnh, Thị
Liên, Thị Thu Vịnh,Thị Thu Hạ

37 Ngô Văn Moi Bà Huỳnh Thị Đậm sinh Ngô Gái, Ngô Khải, Ngô Khai, Thị Cào,
Thị Trai
38 Ngô Gái Bà Trần Thị Ý sinh Ngô Kham, Ngô Mạnh, Ngô Khảm, Thị Tảo
39 Ngô Khảm Bà Đặng Thị Cúc sinh Ngô Lực,Kim Hùng,Văn Hiền, Thị Thanh,
Thị Thuỷ, Thị Thành

38 Ngô Khái Bà Cao Thị Lúc sinh Ngô Quốc, Ngô Hánh, Ngô Hề, Ngô Hấn
39 Ngô Quốc Bà Đặng Thị Hành sinh Quang Tịnh,Văn Sơn,Văn Tý, Thị Xuân,
Thị Vàn, Thị Mười, Thị Dư
39 Ngô Hề Bà Nguyễn Thị Thiệt sinh Thị Tiến, Thị Thơm, Thị Cúc,
Thanh Trường

38 Ngô Khai Bà Đào Thị Lục sinh Văn Ngưu, Ngô Nam, Ngô Dương, Ngô
Thành, Thị Sáu, văn Hiền

37 Ngô Móc Bà Huỳnh Thị Điệp sinh Thị Níu, Thị Thiết
34 Ngô Văn Sơn Bà Nguyễn Thị Thân, Bà thứ Thị Trúc sinh Văn Thi, Văn Thiệu,
Văn Chỏi, V.Điều, Thị Nhì, Thị Diệu, Thị Như, T.Điêu, Thị Trác,
Thị Giàu, Thị Chức, Thi Đồng, Thị Lý
35 Ngô Văn Thi Bà Trần Thị Tìm sinh Văn Chư, Văn Nghị, Văn Hối, Văn Hấp,
Thị Dự, Thị Khiếu, Thị Chánh, Thị Thuỳ
36 Ngô Văn Chư Bà Nguyễn Thị Thương, Bà thứ Lê Thị Hồi sinh Văn Chi,Văn My
Thị Ơn
37 Ngô Văn My Bà Phạm Thị Tu, Bà thứ Huỳnh Thị Chơn sinh Xuân Chư,Quang
Môn, Văn Lượn, Thị Gầy, Thị Xuân, Thị Hồng, Thị Hưng, Thị Mận
Thị Thiền, Thị Tần
38 Ngô Xuân Chư Bà Trương Thị Hoà sinh Xuân Quang, Xuân Lai, Xuân Phi
39 Ngô Xuân Quang Bà Lê Thị Lệ sinh Thị Xuân Nhạn

38 Ngô Quang Môn Bà Phạm Thị Chín sinh Quang Trương,Quang Siêu, Quang Pháp,
Thị Diễm, Thị Diệu, Thị Dược

36 Ngô Văn Nghị Bà Thị Quế, bà thứ Nguyễn Thị Thao sinh Văn Xu, Văn Căn,
Văn Xuất, Văn Khịn, Thị Thành, Thị Thót
37 Ngô Văn Xu Bà Võ Thị Kính, bà thứ Hồ Thị May sinh Ngô Ngọc,Ngô Phú,
Văn Nhơn, Văn Tám, Văn Chín, Thị Mười, Thị Cúc
38 Ngô Phú Bà Trần Thị Mai sinh Đình Tài, Đình Tiến, Thị Thảo, Thị Lệ, Thị
Tiền, Thị Lý, Thị Diềm
38 Ngô Văn Nhơn sinh Xuân Danh
38 Ngô Văn Tám sinh Xuân Tùng

36 Ngô Văn Hối Bà Trần Thị Quý sinh Văn Hấp, Thị Vận, T.Đất, Thị Cảo, T.Đan,
Văn Kình, Tấn Cương
37 Ngô Tấn Cương Bà Lê Thị Kiển sinh Tấn Nông, Thị Út, Tấn Công
38 Ngô Tấn Nông sinh Thị Bích Hiệp,Thị Bích Hạnh

35 Ngô Văn Chỏi Bà Ôn Thị Dung sinh Văn Môn, Văn Sang, Văn Đăng
36 Ngô Văn Đăng Bà Lưu Thị Ngai sinh Văn Đón, Văn Đưa, Văn Trì, Văn Tâm,
Văn Thiết, Ngô Du
37 Ngô Văn Trì Bà Lê Thị Bợ sinh Văn Khế, Thị Huế
38 Ngô Văn Khế Bà Cao Thị Lưu, bà thứ Phạm Thị Sẻ sinh Văn Sí, Văn Sung,
Văn Sang, Văn Luân, Thị Hân, Thị Nhành, Thị Mai, Thị Thảo,
Thị Sê, Thị Huyền
39 Ngô Văn Sí Bà Lê Thị Phát sinh Thị Hồng

37 Ngô Du Bà Nguyễn Thị Khen sinh Ngọc Lành, Ngọc Ảnh, Thị Ngọc
34 Ngô Văn Thôn Bà Trương Thị Ban sinh Thị Đèo,Thị Muôn.
Chi IX Tỏan võ Hầu Ngô Phúc Trị

28 Ngô Phúc Trị Toản võ Hầu con trai thứ 9 Tào Quận công,
khi mới 10 tuổi bố đã từ trần,
(1643-…) quân Chúa Nguyễn lấn chiếm đất Nghệ An đến bờ sông Lam, trong cơn
binh hoả lạc mẹ được bà bảo mẫu nhận làm con đem về nuôi ở xã Ngọc
Sơn, sau ngày ổn định trở về quê ở làng Phù Việt lấy vợ. Thị võ ở phủ,
trúng cách ra làm Quản quân, dòng dõi quân thần được phong tước Hầu,
làm Lực sĩ Ty lực sỹ Hiệu uý, sau được thăng Đô chỉ huy sứ ty Chỉ huy
Đồng tri, Thượng Trụ quốc, sinh Ngô Phúc Bình.
29 Ngô Phúc Bình Dật võ Hầu, có hai Bà, sinh Phúc Tân, Phúc Lạng, Phúc Sùng,
Phúc Lâm

30 Ngô Phúc Tân sinh Phúc Tiệm

31 Ngô Phúc Tiệm sinh Phúc Duyện

32 Ngô Phúc Duyện tước Bá, theo nho học trúng Tam trường.
Năm 1786 quân Tây Sơn ra bắc,Ông đang làm Trấn thủ Nghệ An,
cùng Võ Tá Giao tập hợp lực lượng dự định đánh chặn đường về
của quân Tây Sơn.Nhưng quân Tây Sơn rút quá sớm, lực lượng
của Ông còn mỏng nên bị đánh tan.
Phả cũ ghi: “Trong vụ này cha con ông bị sa cơ”.
Ông quay về tập hợp trai tráng trong làng giữ an ninh trật tự trong
vùng,tiếp Chiếu Cần vương của Lê Chiêu Thống. Ông dẫn một
đội quân ra Thăng Long nhận chức Quản đội Đinh tả, đi đánh dẹp các
vùng Chương Đức,Mỹ Lương. Sau khi Nguyễn Hữu Chỉnh ra bắc , Ông về quê, sinh ba con Phúc Chinh và hai người khác vô tự.

33 Ngô Phúc Chinh sinh Phúc Tân
34 Ngô Phúc Tân sinh Ngô Đài, Ngô Cam, Ngô Tam
35 Ngô Cam sinh Đức Liệu (Ls.)
35 Ngô Đức Tam sinh Đức Vấn, Ngô Đáp, Ngô Hiếu

36 Ngô Đức Liệu sinh Đức Hùng, Đức Khang
36 Ngô Đáp sinh Đức Hương và sáu con gái
36 Ngô Hiếu sinh Đức Nghi, Đức Chung và sáu con gái.

30 Ngô Phúc Sùng Tư lộc Hầu,con trai thứ ba của Dật trung Hầu, sinh Phúc Động,
Phúc Nghiêm
31 Ngô Phúc Động sinh Phúc Khang
32 Ngô Phúc Khang sinh Phúc Trạch
33 Ngô Phúc Trạch cha mất sớm ,được ông bà ngoại nuôi, sinh :
Phúc Trạm, phái Cố Bằng ở Trảo Nha và ở Tiến Lộc,
Phúc Hoằng ,phái Cố Bồi ở Tiến Lộc,
Phúc Trực, phái Cố Nghinh ở Tiến Lộc,
Phúc Hào, phái Cố Bản ở Tiến Lộc
Phúc Truỵ, phái Cố Cù ở Tiến Lộc.

34 Ngô Phúc Trạm có bốn Bà,sinh Phúc Chu,Phúc Cưu,Đức Dị,Cảnh Giới, Thị Nhỏ

35 Ngô Phúc Chu Bà Lê Thị Hường, Bà thứ Lê Thị Hiêu sinh Phúc Lưu,Phúc Dinh
Đức Hiên, Đức Dư, Thị Bưu, Thị Ngưu, Thị Năm, Thị Bảy
36 Ngô Phúc Lưu Bà Nguyễn Thị Nhiễu, sinh Đức Luật,Đức Lập,Đức Canh,
Xuân Sóc,Xuân Sách, Thị Lệ, Thị Sáu

37 Ngô Đức Luật (Ls.) sinh Xuân Thoan, Thị Nghéc, Thị Tư
38 Ngô Xuân Thoan Bà Nguyễn Thị Lịch, sinh Văn Thuân,Văn Thắng, Thị Hiền.

37 Ngô Đức Lập hai Bà, sinh Đức Lợi, Thị Phước
38 Ngô Đức Lợi Bà Trần Thị Mai sinh Chung Hoàn , Thị Thuỷ, Thị Khuyên.

37 Ngô Đức Canh Bà Nguyễn Thị Nậy, sinh Đức Chí, Đức Quyền, Đức Thìn,
Đức Phú, Đức Quý
38 Ngô Đức Quý Bà Phạm Thị Nhân sinh Đức Thanh,Đức Lâm,Đức Long
38 Ngô Đức Thìn Bà Trần Thị Hoa sinh Thị Như Quỳnh,Thị Quỳnh Trang

37 Ngô Xuân Sóc Bà Lê Thị Sáu, sinh Đức Dụng, Thị Hoa
38 Ngô Đức Dụng Bà Bùi Thị Sáu, sinh Đức Trung, Thị Hương

37 Ngô Xuân Sách Bà Nguyễn Thị Nghiêm, sinh Xuân Thanh, Xuân Sơn, Thị Liên,
` Thị Lam, Thị Hồng

36 Ngô Đức Hiên Bà Trần Thị Cần, sinh Viết Lương, Đức Năm, Xuân Sáu, Thị
Mực,Thị Mậu

37 Ngô Viết Lương Bà Phạm Thị Anh, sinh Đức Quyền,Đức Mại,Đức Hoàng,Đức
Hải, Thị Huyền, Thị Hương
38 Ngô Đức Quyền Bà Phan Thị Tứ, sinh Thị Hoà Phương
38 Ngô Đức Hoàng Bà họ Bùi, sinh một trai, một gái
38 Ngô Đức Hải Bà Bùi Thị Mai sinh Kiều Anh

37 Ngô Đức Năm Bà Lê T.Đường, sinh Mạnh Tần,Sỹ Liên,Mạnh Tuấn, Thị Hương
38 Ngô Mạnh Tần Bà Võ Thị Hà, sinh Mạnh Dung,Mạnh Hoà, Thị Thuý, Thị Oanh
38 Ngô Sỹ Liên Bà Nguyễn Thị Luận, sinh Kim Dung
38 Ngô Mạnh Tuấn Bà Nguyễn Thị Hằng ,sinh Thị Hạnh

37 Ngô Xuân Sáu Bà Đoàn Thị Tuyết, sinh Xuân Hùng, Xuân Dinh,Đức Dung,
Thị Vân, Thị Thuý, Thị Mai
38 Ngô Xuân Hùng Bà Nguyễn Thị An, sinh Bảo Giang, Hoà Giang
38 Ngô Đức Dung Bà Nguyễn Thị Phúc, sinh Đức Long, Đức Linh

36 Ngô Phúc Dinh Bà Nguyễn Thị Mai, sinh Đức Khánh
37 Ngô Đức Khánh Bà Trần Thị Niên, sinh Đức Châu, Thị Chắt
38 Ngô Đức Châu Bà Lê Thị Diến, sinh Đức Văn

36 Ngô Đức Dư Bà Từ Thị Em, sinh Xuân Thực,Xuân Tâm,Xuân Cát, Thị Cháu,
Thị Hai, Thị Minh
37 Ngô Xuân Thực (Bs) Bà Trần Thị Ba, sinh Xuân Ngân, Xuân Nguyên, Xuân Lợi,Xuân
Quyền, Xuân Chương, Thị Liên
38 Ngô Xuân Ngân Bà Nguyễn T.Đinh, sinh Xuân Dũng, Xuân Hùng, Xuân Nguyên
Thị Hương
38 Ngô Xuân Quyền Bà Nguyễn Thị Thanh, sinh Đức Hải, Thị Thuý
38 Ngô Xuân Nguyên Bà Nguyễn Thị Hường sinh Đức Hoàn
38 Ngô Xuân Lợi Bà Nguyễn Thị Vân, sinh Thị Huyền, Đức …

37 Ngô Xuân Tâm Bà Lương Thị Cảnh ,sinh Đức Toàn, Đức Minh,Chinh Đức,
Thị Loan, Thị Khai, Thị Nguyệt, Thị Anh
38 Ngô Đức Toàn Bà Nguyễn Thị Hè, sinh Đức Hoàng,Đức Nam

37 Ngô Xuân Cát Bà Đinh Thị Miền, sinh Đức Tuấn, Thị Lan, Thị Hương, Thị Lam,
Thị Thuận

35 Ngô Phúc Cưu (1863-1945)có hai bà,sinh Đức Quý,Đức Thi,Đức Cầm,Đức Tín,
Đức Huấn,Đức Cửu,Đức Thập,Đức Toàn,Đức Du, Thị Trương,
Thị San, Thị Tuấn, Thị Em
36 Ngô Đức Quý sinh 1917,Bà Nguyễn Thị Lưu, sinh Thị Mai,Đức Tùng,Đức Bách
Đức Lý (cả gia đình di cư Thái Lan).

37 Ngô Đức Tùng Bà Đào Thị Thuý, sinh Trọng Tài,Thu Thanh,Thị Thìn,Thị Thu
Thoa,Quang Toàn, Bạch Tuyết(Ks)
38 Ngô Trọng Tài Ks,Ls ,Bà Trần Thị Thu, sinh Trọng Tuấn, Thị Ngọc Oanh,V.Diệp
38 Ngô Quang Toàn Ks, Bà Đinh Thị Phương Hoà, sinh Chi Lan

37 Ngô Đức Lý Bà Nguyễn Thị Nghiêm ,sinh Thị Nguyệt, Thị Đào

37 Ngô Đức Bách sinh Ngô Lý, Ngô Hy, Đức Loan

36 Ngô Đức Thi Bà Võ Thị Dinh,sinh Đức Anh,Đức Chế,Đức Quốc Ls,Đức
Quang, Thị Trâm, Thị Oanh, Thị Thông, Thị Độ

37 Ngô Đức Anh Bà Ly Thị Hỷ, sinh Đức Sơn, Thị Thuỷ, Thị Hà
38 Ngô Đức Sơn Bà Lê Thị Bắc, sinh Đức Trường, Đức Giang, Đức Quyền

37 Ngô Đức Chế Bà Võ Thị Hoan,sinh Đức Linh,Đức Lượng,Đức Tường,
Đức Túc, Thị Hương, Thị Tý
38 Ngô Đức Linh Bà Nguyễn Thị Liễu, sinh Đức Phú

37 Ngô Đức Quốc Bà Nguyễn Thị Lục, sinh Đức Hưng,Đức Hoà, Đ.Hải,Đ.Hiền

37 Ngô Đức Quang Bà Trần Thị Chắt, sinh Đức Thanh, Thị Minh

36 Ngô Đức Tín Bà Nguyễn Thị Dị ,sinh một trai hai gái,di cư Thái Lan

36 Ngô Đức Huấn Bà Nguyễn Thị Uyển,sinh Đức Hồ (Ls.),Đức Việt,Đức Nam,
Đức Đàn,Thị Sơn, Thị Phương

37 Ngô Đức Việt Bà Nguyễn Thị Nghiêm, sinh Đức Bắc, Đức Trung, Đức Vinh,
Đức Quang, Thị Liên
38 Ngô Đức Bắc (Ls.) bà Trần Thị Hồng, sinh Xuân Lam
38 Ngô Đức Trung Bà Nguyễn Thị Lan, sinh Đức Sơn
38 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Nga, sinh Đức Hùng

37 Ngô Đức Nam Bà Vang Thị Thi,Bà thứ Nguyễn Thị My,sinh Đức Tâm,Thị Oanh,
và hai con gái
37 Ngô Đức Đàn Bà Nguyễn Thị Dung ,sinh Đức Thọ, Đức Thắng, Đức Thông,
Đức Thành
38 Ngô Đức Thọ sinh Quang Huy
36 Ngô Đức Cửu Bà Nguyễn Thị Cum,sinh Đức Huynh,Thị Tứ, Thị Tam,
Thị Nhượng,Thị Minh, Thị Thành, Thị Dung
37 Ngô Đức Huynh Bà Trần Thị Hạp sinh Đức Hồng,Đức Lam,Đức Sơn, Thị Lan,
Thị Vân, Thị Tuyết, Thị Thuỷ
38 Ngô Đức Sơn Bà Trần Thị Tuyền, sinh Phúc Trương, Thị Hoài

36 Ngô Đức Thập Bà Hà Thị Nậy,sinh Đức Duẩn,Đức Quân,Đức Nguyên, Thị Lý,
Thị Thuyết
37 Ngô Đức Tác Bà Nguyễn Thị Hoạt, sinh Đức Phúc,Đức Dương,Đức Tuấn,
Đức Hải
37 Ngô Đức Hoạch Bà Võ Thị Nhân, sinh Thị Dung, Thị Hương, Thị Trang

36 Ngô Đức Toàn Bà Nguyễn Thị Tuệ, sinh Đức Vinh, Đức Quang
37 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Đôi, sinh Đức Quyết, Đức Thắng, Thị Hoa
37 Ngô Đức Quang Bà Võ Thị Khương, sinh Đức Phú, Đức Quý

36 Ngô Đức Du Bà Trần Thị Tuý, sinh Đức Hoàn, Thị Xoan, Thị Huệ, Thị Thường
37 Ngô Đức Hoan Bà Nguyễn Thị Nhật, sinh Đức Thanh, Đức Đạt

35 Ngô Đức Dị Bà Nguyễn Thị Thanh, sinh Đức Đoan
36 Ngô Đức Đoan Bà Nguyễn Thị Đích, sinh Thị Đoan

35 Ngô Cảnh Giới Bà Võ Thị Thảo, sinh Đức Điểu, Thị Kỳ, Thị Nhỏ, Thị Yên,
Thị Năm,Thị Sáu
36 Ngô Đức Điểu sinh Đức Cưu, Thị Cháu, Thị Bình
37 Ngô Đức Cưu Bà Trần Thị Quang, sinh Đức Hồng,Đức Thắng,Đức Thái,Đức
Thìn, Thị Minh
38 Ngô Đức Hồng Bà Lê Thị Hồng, sinh Đức Sơn, Thị Lan
Phái 2 Chi IX
Phái Đa Phúc,
xã Nghi Công, huyện Nghi Lộc,tỉnh Nghệ An
( Mới về nhận họ năm 1995)

30 Ngô Phúc Lạng sinh Phúc Nhu, Phúc Tư, Phúc Thâm
Phúc Tư họ Thương bình huyện La Sơn (Hương Khê),
Phúc Thâm ở quê gốc .

31 Ngô Phúc Nhu tự Ngô TứTăng, quê gốc ở thôn Bằng Khang xã Cổ Liêu sau dời
về xã Hảo Hiệp huyện Chân Lộc.Khoảng năm 1740 dời về Kẻ
Mươi tức thôn Đa Phúc,tổng Hải Đô,phủ Hưng Nguyên nay là xã
Nghi Công huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An
Bà Nguyễn Thị Thành ,sinh Tứ Liên,Trọng Đương.

32 Ngô Trọng Đương sinh Trọng Hài, Trọng Hoà, Trọng Hợp, Thị Bàn
Trọng Hoà chỉ truyền được 4 đời

33 Ngô Trọng Hài Bà cả và bà thứ sinh Trọng Cẩn, Trọng Khôi, Trọng Lăng
(Trọng Lăng chỉ truyền được 3 đời)

34 Ngô Trọng Cẩn sinh Trọng Chí, Trọng Cần, Duy Doãn và ba gái

35 Ngô Trọng Chí sinh Thị Khai, Thị Đoan, Trọng Lang (vt), Trọng Huệ
36 Ngô Trọng Huệ sinh Trọng Tín (vt), Trọng Giá
37 Ngô Trọng Giá sinh Trọng Lới
38 Ngô Trọng Lới sau đổi Ngô Đức Sinh, sinh Đức Minh
39 Ngô Đức Minh sinh Đức Phương, Thị Hường, Thị Nhung, Thị Vượng, Đức Lượng

35 Ngô Trọng Cần (1797- 1859) Bà cả sinh Trọng Trân, Thị Đố, Thị Xạ, Thị Tiên,
Thị Nghiên, bà thứ sinh Thị Biên, Thị Ngạo, Thị Nhưng, Thị Bạn,
Trọng Du ( mất tích)
36 Ngô Trọng Trân (1829- 1906) sinh Thị Phát, Trọng Quát, Trọng Thân, Trọng Bốn
37 Ngô Trọng Quát tự Ngô đại Cơ, sinh Thị Phương, Thị Vân, Thị Chương,
Trọng Khiêm, Thị Triệm, Đức Toàn, Đức Hồ, Đức Lưu
38 Ngô Trọng Khiêm (ông Thiều) tự Ngô Minh Châu, sinh Thị Thiều
38 Ngô Đức Toàn huý Ngô trọng Tốn, sinh Đức Uyên, Thị Nhiên, Đức Bàng,
Đức Bường.

39 Ngô Đức Uyên (1925-1991) sinh Thị Ngọc Anh (Đh)

39 Ngô Đức Bàng Ks,sinh Đức Chương, Thị Lan, Thị Tâm, Đức Dũng
40 Ngô Đức Chương sinh Thị Tuyết Mai, Thị Hồng Ngọc, Đức Tuấn

39 Ngô Đức Bường Bs,sinh Thị Giang, Thị Thanh, Đức Bình

38 Ngô Đức Hồ sinh Thị Hiên,Đức Dô, Thị Diêu,Đức Tiêu, Thị Đào,Đức Dào Ls,
Thị Giáo
39 Ngô Đức Dô sinh Thị Dơn, Thị Bôn, Đức Sơn, Đức Hà, Thị Hương, Thị Hoan,
Đức Quỳnh, Thị Phượng

39 Ngô Đức Tiêu sinh Đức Hải (Ls.), Đức Nhật, Đức Nguyệt, Đức Nga, Thị Ngạn,
Đức Đàn, Đức Đồng, Thị Thị nh

38 Ngô Đức Lưu sinh Đức Tao, Đức Tuynh (Ls.)
39 Ngô Đức Tao sinh Thị Thảo,Đức Tuyên,Đức Tân,Thị Song,Thị Hồng, Đức Phồn

37 Ngô Trọng Bốn sinh Đức Tuỳnh, Thị Tiềm, Thị Khôi, Thị Huy
38 Ngô Đức Tuỳnh huý Ngô trọng Tời, sinh Ngô Đức Kỳ, Đức Sam, Đức Siêm

39 Ngô Đức Kỳ sinh Đức Kỳ(Ls.), Đức Cường
39 Ngô Đức Sam sinh Đức Nam,Đức Luyên,Đức Tuyền, Thị Tứ, Thị Ngụ,Đức Lục,
Đức Trí, Thị Vị
39 Ngô Đức Siêm sinh Đức Vinh,Đức Lương,Đức Khương,Đức Khang,Đức Thái,
Thị Bình, Thị Minh, Thị Mai, Đức Hồng, Đức Lĩnh

34 Ngô Trọng Khôi sinh Trọng Tuế (vt), Trọng Xứ, Thị Thăng
35 Ngô Trọng Xứ sinh Thị Trí, Văn Chí , Văn Hàn , Văn Mặc, Thị Như,
Thị Nhưng, Văn Quý
36 Ngô Văn Mặc sinh Thị Gon, Trọng Tuỳ, Văn Huề, Văn Câu, Thị Diệu
37 Ngô Trọng Tuỳ sinh Đức Xong, Đức Trường
38 Ngô Đức Xong sinh Thị Châu, Đức Phong, Thị Phương
39 Ngô Đức Phong sinh Đức Giáp, Thị Hồng, Đức Trinh, Đức Chuyên, Thị Thêm

38 Ngô Đức Trường sinh Đức Trường
39 Ngô Đức Trường sinh Thị Hường,Thị Đường,Đức Dương,Đức Cảnh,Đức Khanh,
Thị Thu

37 Ngô Văn Huề tức Ngô Đức Đường sinh Văn Tuề, Thị Phúc ,Đức Lộc,
Đức Hùng
38 Ngô Đức Lộc sinh Đức Yên, Thị Tịnh,Đức Song,Đức Hào,Đức Thao,ĐứcBằng
38 Ngô Đức Hùng sinh Đức Dũng, Thị Thanh

37 Ngô Văn Câu tức Ngô Đức Tài, sinh Thị Tài, Thị Em

36 Ngô Văn Quý sinh Thị Dạnh,Đức Tiến,Đức Tửu,Đức Phướng,Đức Dịnh
37 Ngô Đức Tiến sinh Đức Tiến , Đức Hoá
38 Ngô Đức Hoá Bà cả sinh Đức Cung, bà thứ sinh Thị Hạnh, Thị Khánh, T.Thành
39 Ngô Đức Cung sinh Thị Hải, Thị Lý, Thị Thuyết, Đức Thắng, Đức Lợi, Đức Hoài

33 Ngô Trọng Hợp sinh Trọng Các, Trọng Thích

34 Ngô Trọng Các sinh Trọng Lôi, Trọng Bảo (vt)
35 Ngô Trọng Lôi sinh Trọng Tào, Trọng Thước
36 Ngô Trọng Tào sinh Trọng Giác, Trọng Tiếu, Trọng Kiêu, Thị Xen

37 Ngô Trọng Giác sinh Đức Xuốn, Đức Xuôn

38 Ngô Đức Xuốn sinh Đức Hoè, Thị Em, Thị Thực
39 Ngô Đức Hoè sinh Đức Hoà,Thị Thuận, Đức Cảnh, Thị Thanh, Thị Danh,
Thị Canh,Đức Cung, Thị Kính

38 Ngô Đức Xuôn sinh Thị Liên (Ls.), Thị Tuyết, Thị Hà

37 Ngô Trọng Tiếu sinh Đức Nuôi, Đức Ba, Đức Nghĩa

38 Ngô Đức Nuôi sinh Thị Xuân, Thị Xuyên, Đức Quyến, Thị Nhâm, Thị Nhuyên
39 Ngô Đức Quyến sinh Thị Soa, Thị Mai, Thị Thái, Thị Thương, Thị Thật

38 Ngô Đức Ba sinh Đức Châu, Thị Lựu,Đức Thạch,Đức Quang,Đức Vinh,
Thị Thị nh, Thị Bình, Đức Công

39 Ngô Đức Châu sinh Thị Niềm,Thị Thắng, Thị Thanh,Đức Hùng, Đức Cường
39 Ngô Đức Thạch sinh Thị Thắm, Thị Tình, Thị Duyên, Đức Trọng, Thị Thêm
39 Ngô Đức Quang sinh Thị Hoa,Đức Đại, Thị Thoả, Thị Bé
39 Ngô Đức Vinh sinh Đức Linh, Đức Nghiêm, Thị Trang

38 Ngô Đức Nghĩa sinh Đức Sỹ,Thị Nhị,Đức Đường,Thị Luyện, Thị Khuyên, Thị Liên,Thị Hồng, Đức Hoan, Đức Mười, Đức Khanh, Thị Hiền

39 Ngô Đức Sỹ sinh Thị Sen, Thị Soa, Đức Khoa
39 Ngô Đức Đường sinh bốn gái
39 Ngô Đức Hoan sinh Đức Hải, Đức Hưng

37 Ngô Trọng Kiêu tức ông Cháu Chíp, sinh Thị Cháu, Đức Hai, Đức Ba, Thị Tư, Thị
Địu, Đức Năm

38 Ngô Đức Hai sinh Đức Duyện, Đức Biên, Thị Diên, Thị Doan,Đức Loan,
Đức Hồng, Thị Hương

39 Ngô Đức Duyện sinh Đức Sơn,Đức Giang,Đức Dung,Thị Diệu,Đức Hiếu, T.Huyền
39 Ngô Đức Biên sinh Đức Tuấn, Thị Oanh, Thị Hiệp, Đức Hiến
39 Ngô Đức Loan sinh Thị Phượng, Đức Hùng, Thị Ngân, Đức Trung
39 Ngô Đức Hồng sinh Thị Trinh

38 Ngô Đức Ba sinh Đức Nhung (Ls.), Thị Trầm, Đức Ngọc, Thị Hường
39 Ngô Đức Ngọc sinh Thị Nguyệt, Đức Chiến, Thị Phương, Thị Lan, Đức Thắng

38 Ngô Đức Năm sinh Thị Hoa, Thị Hồng, Đức Long, Đức Châu, Thị Thanh, Thị
Chương, Thị Hào, Đức Lương, Thị Đào

39 Ngô Đức Châu sinh Đức Vinh,Thị Phương Thị Bình,Thị Minh,Đức Thắng,ĐứcLợi
39 Ngô Đức Lương sinh Thị Liên, Thị Lan

36 Ngô Trọng Thước sinh Đức Xí
37 Ngô Đức Xí sinh Thị Hoe, Thị Lý, Đức Nguyên, Đức Tý

38 Ngô Đức Nguyên sinh Đức Hiếu, Thị Thảo, Đức Tuấn
38 Ngô Đức Tý sinh Thị Thuý, Đức Sơn, Thị Bình, Đức An, Đức Toàn
34 Ngô Trọng Thích sinh Trọng Ngân
35 Ngô Trọng Ngân sinh Trọng Ất, Trọng Thính
36 Ngô Trọng Ất sinh Đức Lành,Đức Thiu,Thị Nhờn,Thị Thư,Thị Enh,Trọng Kinh

37 Ngô Đức Lành sinh Thị Cháu, Đức Lường
38 Ngô Đức Lường sinh Đức Cương, Thị Nhì, Thị Cúc, Thị Sáu, Đức Biên, Thị Diệu

39 Ngô Đức Cương sinh Đức Tùng, Thị Nết, Đức Năng, Đức Hội, Đức Lý
39 Ngô Đức Biên sinh Đức Tuấn, Thị Mai

37 Ngô Đức Thiu sinh Đức Thao, Thị Em
38 Ngô Đức Thao sinh Đức Thảo

37 Ngô Trọng Kinh sinh Đức Bường, Thị Yêm
38 Ngô Đức Bường Ls,sinh Đức Cường, Thị Liên, Thị Hương
39 Ngô Đức Cường sinh Đức Dũng, Đức Sỹ

Phái 3 Tiểu phái 2 Chi IX

34 Ngô Phúc Hồi Bà Võ Thị Tài, sinh Đức Phải, Đức Liên, Đức Phú, Đức Thắng,
(Hoằng) Đức Thấu, Thị Bồ, Thị Kỷ

35 Ngô Đức Phải Bà Nguyễn Thị Thuật, sinh Đức Kỵ, Đức Thường, Đức Son, Thị
Toan, Thị Khôi

36 Ngô Đức Kỵ Bà Võ T.Đông, bà thứ Phạm Thị Chuỳ và Hà Thị Sương, sinh Đức
Chước, Thị Phước, Đức Ba, Đức Bốn
37 Ngô Đức Chước Bà Phạm Thị Khuê sinh Đức Hiền,Đức Hựu, Đức Diễm,
Đức Thùy,Đức Lục, Thị Gọn, Thị Em

38 Ngô Đức Hựu Ls,Bà Phạm Thị Xuân, sinh Đức Ái, Đức Vân, Thị Thân
39 Ngô Đức Ái Bà Phạm Thị Lệ,sinh Đức Nghĩa Đức Quân, ĐứcTạo, Thị Nhân

38 Ngô Đức Thuỳ Bà Lê Thị Liên, sinhĐức Liên,Đức Hải,Đức Trung(Đh), Thị Mai,
Thị Huệ, Thị Thảo
38 Ngô Đức Lục Ls,Bà Võ Thị Em, sinh Đức Tâm

37 Ngô Đức Ba Bà Võ Thị Lựu ,sinh Thị Biện, Đức Vọng
38 Ngô Đức Vọng Bà Võ Thị Thỉ, sinh Đức Mạo,Đức Tý,Đức Luận, Thị Xuân, Thị
Khanh, Thị Hanh, Thị Bình, Thị Nghĩa

39 Ngô Đức Mạo Bà Phạm Thị Hân, sinh Đức Đạo,Đức Công,Đức Hảo, Thị Hồng
39 Ngô Đức Tý Đh,Bà Nguyễn Thị Luân, sinh Đức Bá, Thị Nguyệt

37 Ngô Đức Bốn Bà Nguyễn Thị Tư, sinh Đức Đoài,Đức Lập,Đức Việt,Đức Cư,
Đức Thuận, Đức Bút, Thị Huệ, Thị Lan

38 Ngô Đức Đoài Bà Phạm Thị Em,sinh Đức Duyên,Đức Khoa,Thị Cháu,Đức Linh,
Đức Minh, Thị Huyên

39 Ngô Đức Linh Bà Phạm Thị Hoa, sinh Đức Trung, Thị Thuý, Thị Thanh, T.Thảo
39 Ngô Đức Duyên Bà Phạm Thị Bình, sinh Đức Hiếu, Đức Hoà, Thị Hoài

38 Ngô Đức Lập Bà Nguyễn Thị Cháu, sinh Đức Tiến, Đức Bảo, Đức Bích,
Đức Xuân, Đức Ngân
39 Ngô Đức Tiến Bà Nguyễn Thị Huyền, sinh Đức Quý

38 Ngô Đức Việt Bà Nguyễn Thị Chiu,sinh Đức Hoà,Đức Dương,Thị Việt,Thị Hải,
Thị Thuỷ

36 Ngô Đức Son Bà Nguyễn Thị Sỹ, sinh Đức Thước, Thị Em
37 Ngô Đức Thước sinh Đức Thông, Đức Trâm, Đức Diệu, Thị Cảnh

38 Ngô Đức Thông Bà Phan Thị Vân,bà thứ Võ Thị Em, sinh Đức Chất,Đức Thảo, Thị
Sen, Thị Tâm, Thị Tứ, Thị Hiền, Đức Cần , Thị Thường
39 Ngô Đức Thảo Bà Võ Thị Thuỷ, sinh Đức Thành, Thị Thuý

38 Ngô Đức Trâm Bà Võ Thị Nuôi, sinh Đức Tâm,Đức Minh,Đức Anh,Đức Hùng,
Đức Liệu, Thị Thanh, Thị Vân

39 Ngô Đức Tâm Bà Trần Thị Bông, sinh Ngô Bính, Đức Quế, Thị Huệ, Thị Nhâm
39 Ngô Đức Minh Bà Võ Thị Tý, sinh Thị An, Thị Linh
39 Ngô Đức Anh Bà Bùi Thị Thanh ,sinh Thị Kim
39 Ngô Đức Liệu Bà Võ Thị Hòa sinh Đức Vinh,Đức Danh,Đức Huân

38 Ngô Đức Diệu Bà Nguyễn Thị Huyền, sinh Đức Chiến, Đức Thắng, Đức Lợi,
Đức Lộc, Đức Tới, Đức Thống, Đức Xanh
39 Ngô Đức Chiến Bà Phạm Thị Nuôi, sinh Đức Hiệp, Đức Định, Thị Huế
39 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Hường, sinh Đức Đại, Thị Lý

36 Ngô Đức Thường Bà Phạm Thị Cơ, sinh Đức Nhị, Đức Mục, Thị Ba, Thị Út
37 Ngô Đức Nhị Bà Võ Thị Viện, sinh Đức Lược, Đức Lịch, Thị Cháu, Thị Thích

38 Ngô Đức Lược Bà Nguyễn Thị Nhỏ, bà thứ Đặng Thị Em, sinh Đức Quang,Đức
Thanh, Thị Bình, Thị Hiển, Thị Thìn, Thị Xuân, Thị Thu

38 Ngô Đức Lịch Bà Lê Thị Lạc, sinh Đức Hồng, Đức Hoan, Đức Tịnh,Đức Vinh,
Thị Hà, Thị Vân

39 Ngô Đức Hoan Bà Hà Thị Dung, sinh Đức Hùng, Đức Hảo, Thị Huyền
39 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Hậu, sinh Đức Bảo

37 Ngô Đức Mục Bà Võ Thị Nhỏ, sinh Đức Sức (Ls.), Thị Ngoéc
35 Ngô Đức Liên Bà Lê Thị Vơn ,sinh Đức Phúc,Đức Trạo,Đức Đoan,Đức Vi,
Thị Thước, Thị Thiển, Thị Giăng

35 Ngô Đức Phú Bà Võ Thị Thu, bà thứ Võ Thị Chín, sinh Thị Đửu, Thị Bốn,
Đức Chức
36 Ngô Đức Chức Bà Phạm Thị Ngoé, sinh Đức Thuyết, Đức Mỹ, Đức Xoan

Phái 3 Tiểu phái 3 Chi IX

34 Ngô Phúc Trực sinh Đức Nghinh, Đức Lương, Đức Thái

35 Ngô Đức Nghinh Bà Nguyễn Thị Trinh, bà Thứ Nguyễn Thị Thuận và Nguyễn Thị
Tiến, sinh Đức Nhật, Đức Thành, Đức Lạc

36 Ngô Đức Nhật Bà Thị Tại, sinh Đức Nhu, Thị Ba, Thị Bốn
37 Ngô Đức Nhu Bà Võ Thị Trinh, sinh Đức Lai, Đức Nghinh,Đức Thỉnh,Thị Tình,
Thị Tiêu

38 Ngô Đức Nghinh Bà Nguyễn Thị Em, bà thứ Bùi Thị Tam ,sinh Đức Tý, Đức Thìn,
Đức Kỷ, Thị Trịnh

39 Ngô Đức Tý Bà Phạm Thị Nhân, sinh Thị Ngân
39 Ngô Đức Thìn Bà Trần Thị Chín, sinh Thị Thương, Thị Thuận, Thị Hoà, Thị Huệ
39 Ngô Đức Kỷ Bà Phạm Thị Đức, sinh Thị Hương

38 Ngô Đức Thỉnh Bà Nguyễn Thị Khuây, sinh Đức Bảy, Đức Vị, Đức Thanh,
Thị Cháu, Thị Em, Thị Thêm, Thị Dần

39 Ngô Đức Bảy Bà Nguyễn Thị Bằng, sinh Đức Danh, Thị Thuý
39 Ngô Đức Vỵ Bà Phạm Thị Trinh, sinh Đức Hùng, Thị Hiến

38 Ngô Đức Lai Bà Võ Thị Duận, sinh Đức Mạnh, Đức Dánh, Thị Mùi
39 Ngô Đức Mạnh Bà Tràn Thị Hoa, sinh Đức Viết, Đức Tương,Thị Nguyệt, Thị Ái
39 Ngô Đức Dánh Bà Võ Thị Hoa, sinh Đức Ngọc

36 Ngô Đức Thành Bà Võ Thị Tư, bà thứ Lương Thị Trì ,sinh Đức Cường,Đức Thọ,
Đức Ích, Thị Dị, Thị Mực

37 Ngô Đức Thọ Bà Lương Thị Trì, sinh Đức Tín, Thị Mực (di cư Thái Lan)
38 Ngô Đức Tín Bà Võ Thị Tứ, sinh Đức Bá, Đức Ngọ (Ls.),Đức Đường,
Đức Quyền,Thị Tín, Thị Soa
39 Ngô Đức Đường Bà Võ Thị Liên, sinh Đức Hùng, Đức Hải, Đức Thắng
39 Ngô Đức Quyền Bà Võ Thị Vinh sinh Ngô Đức , Thị Huyền

37 Ngô Đức Ích Bà Nguyễn Thị Đệ, sinh Đức Tân, Đức Dân, Đức Minh, Thị Ích,
Thị Tan, Thị Ất
38 Ngô Đức Tân Ls,Bà Võ Thị Kính, sinh Đức Nhân, Thị Mão
38 Ngô Đức Dân hai bà, sinh Đức Tiết, Đức Giáp, Thị Diện, Thị Phương, Thị Loan,
Thị Liên
38 Ngô Đức Minh Bà Nguyễn Thị Thức, sinh Đức Hồng, Đức Lĩnh, Đức Biên

37 Ngô Đức Cường Bà Phạm Thị Nhỏ, sinh Đức Hiệu, Đức Thị nh, Đức Chân
38 Ngô Đức Hiệu Bà Võ Thị Xuân, sinh Đức Vấn, Đức Luyện,Đức Cầu,Đức Mận,
Thị Huấn
39 Ngô Đức Vấn Bà Lê Thị Linh, sinh Đức Xuyến

38 Ngô Đức Thịnh sinh Đức Nam, Đức Ninh, Đức Đê
38 Ngô Đức Chân Bà Phạm Thị Hương,sinh Đức Thiết,Thị Thái, Thị Thuỷ, Thị Thám
Thị Hương

36 Ngô Đức Lạc Bà Võ Thị Di, sinh Đức Biên, Đức Khánh
35 Ngô Đức Lương hai bà, sinh Đức Khanh, Đức Mân
36 Ngô Đức Khanh Bà Nguyễn Thị Phong, sinh Đức Đáng, Đức Dong, Thị Đình,
Thị Ngạc
37 Ngô Đức Đáng Bà Võ Thị Khởi, sinh Đức Tựa, Đức Nựa, Thị Dáng, Thị Dưu,
Thị Hựu
38 Ngô Đức Tựa Bà Phạm Thị Cháu, sinh Đức Chinh,Đức Nhàn,Đức Phương,Đức
Tám, Thị Châu, Thị Ninh, Thị Tuyết, Thị Thu
39 Ngô Đức Chinh Bà Nguyễn Thị Hiến,sinh Đức Anh, Đức Tường, Thị Hoa,Hương

38 Ngô Đức Nựa Bà Nguyễn Thị Xuân, sinh Đức Lam, Đức Khánh, Đức Phú,
Thị Tuấn, Thị Hồng

36 Ngô Đức Mân Bà Phạm Thị Ngơi, sinh Đức Phấn
37 Ngô Đức Phấn Bà Trần Thị Lâm, sinh Đức Toán, Thị Thoán, Thị Xoan, Thị Tỵ
38 Ngô Đức Toán Bà Thị Loan, sinh Đức Lập,Đức Sơn,Đức Tùng,Đức Dũng,Đức
Hoàn, Đức Hải, Thị Xoan, Thị Bé
35 Ngô Đức Thái Bà Vũ Thị Uyển, sinh Đức Viên, Đức Hiên, Đức Nguyên,
Đức Tuyên (vt).
36 Ngô Đức Viên Bà Võ Thị Hậu,sinh Đức Lương,Đức Đương (vt),Đức Chương,
Thị Em
37 Ngô Đức Lương ba bà Vương Thị Em,Nguyễn Thị Chín và Phạm Thị Tam,
sinh Đức Lương , Đức Vịnh, Đức Tịnh, Thị Thuần, Thị
Nhuần, Thị Hà
38 Ngô Đức Vịnh Bà Võ Thị Thanh, sinh Đức Trung, Thị Hà
38 Ngô Đức Tịnh Bà Phạm Thị Hương, sinh Đức An

37 Ngô Đức Chương Bà Lê Thị Miên, sinh Đức Trình, Đức Tích,Đức Thích, Thị Thu,
Thị Xuân
38 Ngô Đức Trình Bà Võ Thị Hiên, sinh Đức Quang, Đức Bảo, Thị Cúc, Thị Mai, Thị
Hoa, Thị Hiền, Thị Hồng, Thị Huy
39 Ngô Đức Quang Bà Võ Thị Hoa, sinh Đức Diệu, Thị Trang, Thị Thuỳ Dương

38 Ngô Đức Tích Bà Lê Thị Quýt, sinh Đức Ánh, Đức Thuỷ, Thị Thanh, Thị Cảnh,
Thị Nguyệt
39 Ngô Đức Thuỷ Bà Thị Hồng, sinh Đức Hoàn
36 Ngô Đức Nguyên Bà Võ Thị Nhiên,sinh Đức Vượng,Đức Hướng, Đức Phúc, T.Lai,
T.Đỉnh, T.Thỉnh
37 Ngô Đức Vượng sinh Đức Dũng (Ls.), Đức Hùng

37 Ngô Đức Hướng bà Võ Thị Nhỏ, sinh Đức Toạ, Đức Tịch,Đức Được,Đức Lục,
Đức Quế, Thị Loan, Thị Nhâm
38 Ngô Đức Toạ Bà Nguyễn Thị Tân và bà Thị Quý, sinh Đức Tiệp, Thị Liệu, T.Việt
Thị Tuyết
38 Ngô Đức Tịch Bà Nguyễn Thị Hạnh, sinh Đức Bắc, Đức Tài, Thị Thái
38 Ngô Đức Được Bà Lương Thị Khai, sinh Đức Trung, Thị Hằng, Thị Hiền
38 Ngô Đức Quế Bà Phạm Thị Thuỷ, sinh Thị Hoa

37 Ngô Đức Phúc hai bà, sinh Đức Anh,Đức Thạnh,Thị Lan,Thị Huệ,Thị Lý,Thị Hoa,
Thị Hường, Thị Như
38 Ngô Đức Anh Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh Đức Tuấn, Đức Quang, Thị Kìều
38 Ngô Đức Thạnh Bà Nguyễn Thị Lý, sinh Thị Ngân , Thị Nga, Thị Nguyệt

Phái 3 Tiểu phái 4 Chi IX

34 Ngô Phúc Hào Bà Nguyễn Thị Ven và Đào Thị Trành,sinh Đức Kham,
Đức Thiện,Thị Nền,Thị Nhàn,Thị Nghiêm,Thị Nghị,Đức Luận,
Thị Dị, Thị Út

35 Ngô Đức Kham sinh Thị Sum, Thị Hợp, Thị Do, Đức Ký, Thị Yển

35 Ngô Đức Thiện Bà Vũ Thị Hường, sinh Đức Dượng, Đức Yên, Đức Yển, Thị
Trưởng, Thị Mậu, Thị Chi
36 Ngô Đức Dượng Bà Phan Thị Nhị, sinh Đức Dục, Đức Thắng,Đức Chí,Đức Bình,
Thị Năm
37 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Lai, sinh Dức Bích, Thị Lợi ,Thị Tuất

37 Ngô Đức Chí Bà Phạm Thị Cháu, sinh Đức Đính, Đức Lịnh, Thị Tuyên ,Thị Đôi
Thị Huấn
38 Ngô Đức Đính Bà Võ Thị Nhân, sinh Đức Thăng, Thị Diện, Thị Liệu, Thị Nguyệt,
Thị Long, Thị Huế
38 Ngô Đức Lịnh Bà Võ Thị Lý, sinh Đức Tuân, Đức Tú, Đức Phú
37 Ngô Đức Bình Bà Dương Thị Thuận, sinh Đức Thảo, Thị Hiền, Thị Liêu, Thị
Thương, Đức Phước
36 Ngô Đức Yên Bà Nguyễn Thị Hiểu và bà Võ Thị Liên,sinh Đức Trinh,Đức
Chính,Đức Duyệt,Thị Bình,Đức Hán,Đức Đề,Đức Danh,Đức
Phòng,Thị Thiêm
37 Ngô Đức Trinh Bà Võ Thị Chính, sinh Đức Hiển,Đức Vinh,Đức Tùng, Thị Hiền,
Thị Mạo
38 Ngô Đức Vinh Bà Võ Thị Lam, sinh Đức Trà, Thị Quyên, Thị Huệ
38 Ngô Đức Tùng Bà Nguyễn Thị Hà, sinh Thị Canh, Thị Nga, Thị Mai, Đức Trung

37 Ngô Đức Duyệt Bà Phạm Thị Tịnh, sinh Đức Ngọc, Thị Cháu, Đức Hảo, Đức An
Đức Lự
38 Ngô Đức Ngọc Bà Thị Phương, sinh Đức Hùng, Đức Cường

37 Ngô Đức Đề Đh,Bà Đinh Thị Thuý (Đh), sinh Đức Đạt, Đức Đỉnh

37 Ngô Đức Phòng Bà Trần Thị Luân (Ls.), bà thứ Phạm Thị Dân, sinh Thị Nhung,Đức
Trung

35 Ngô Đức Luận Bà Võ Thị Di, sinh Đức Ngự, Đức Giăng,Đức Trữ, Thị Nữ
36 Ngô Đức Ngự Bà Phạm Thị Khuyên, sinh Đức Bá, Đức Quý, Đức Ngân,
Thị Phượng, Thị Lanh, Thị Vỹ
37 Ngô Đức Quý Bà Nguyễn Thị Tám ,sinh Đức Thuận, Đức Hảo, Thị Huyền

36 Ngô Đức Trữ Bà Võ Thị Tặng, sinh Đức Đạo, Đức Kiên, Đức Kiểu,
Thị Như,Thị Kiều
36 Ngô Đức Giăng Bà Nguyễn Thị Phương ,bà thứ Nguyễn Thị Tăng, sinh Đức Thân,
Đức Nhàn, Thị Thuyết, Thị Minh, Thị Tuyết, Thị Hồng

Phái 3 Tiểu phái 5 Chi IX

34 Ngô Phúc Truỵ Bà Võ Thị Đào, sinh Đức Phương,Đức Gia, Thị Cù, Thị Uông,
Thị Bốn
35 Ngô Đức Phương Bà Phạm Thị Hai, sinh Thị Xuân, Thị Lạc, Thị Hèo

35 Ngô Đức Gia Bà Phan Thị Hoà, sinh Đức Nhập, Đức Thành, Thị Nhỏ, Thị Em
36 Ngô Đức Nhập Bà Phạm Thị Tín, sinh Đức Nhân,Đức Trí, Minh Đức, Đức Tính,
Thị Thiệp, Thị Ngại, Thị Chức, Thị Chát
37 Ngô Đức Nhân Bà Nguyễn Thị Loan,sinh Đức Tiền,Đức Hàn,Đức Văn,Thị Tuyên

37 Ngô Đức Trí Bà Nguyễn Thị Nhường, sinh Đức Vỹ, Thị Tăng, Thị Lý, Thị Lan,
Thị Huệ
37 Ngô Minh Đức Bà Phan Thị Thu sinh Đức Kỷ, Thị Yến

37 Ngô Đức Tính Bà Võ Thị Thư, sinh Thị Thanh.
Phái 4 – Chi IX
30 Ngô Phúc Lâm Khiêm Quận công , tự Hồng Tích, hiệu Thuần Trai ,đỗ
(1724-1784) Tiến sĩ năm 1766.Ông là người biên soạn “Tân kỷ Hoan châu
Ngô thị truyền gia tập lục” còn lại đến ngày nay, làm Hiến sát
sứ Thanh Hóa, Tham chính Sơn Tây, Tri tả Bình phiên, chức Thị
lang. Năm 1778 lên Lạng Sơn cầm đầu phái bộ cùng Trung Quốc
giải quyết vấn đề biên giới. Khi về nhiễm bệnh vẫn phải
đi Thanh Hóa.Có chỉ xuống đi Tham trấn Thuận Hóa, bệnh trầm
trọng phải về kinh điều trị, từ trần, tặng Khiêm Quận công, mộ
táng ở cồn Thịnh Quang.
Ông có hai bà sinh Phúc Lương ( lúc còn trẻ cầm quân đi đánh
ở Rú Bầng tử trận chưa vợ ), Phúc Trường.

31 Ngô Phúc Trường sinh Phúc Chinh, Ngô Phùng

32 Ngô Phúc Chinh Cử nhân, làm Tri huyện Gia Bình, sinh Cố Nhu
33 Ngô.. .(cố Nhu) sinh Ngô Phái, Ngô Hồ, Ngô Tuân, Thị Nhu
34 Ngô Phái sinh Thị Ngoéc, Thị Tiếu, Thị Tính, Thị Tình
34 Ngô Tuân sinh Thị Quý, Thị Hợi, T.Đa,Đức Miện (Ls.),Đức Phú,Đức Tân
35 Ngô Đức Phú sinh Thị Quỳnh Anh,Thị Thu Trang, và một trai.

32 Ngô Phùng Cử nhân, Giáo thụ Bắc Ninh, Toản tu Quốc sử quán,thăng
(1805-1863) Quang Lộc tự Thiếu khanh(tòng tứ phẩm)
sinh : -Ngô Huệ Liên,
-bà cụ Quản, Lạc thiện sinh Lê Văn Luyện ,
-bà cụ Nguỵ ,Xuân Viên sinh Ngụy Hiếu Tích,
-bà cụ Bang Kiều ,sinh Võ Liêm Sơn ,
-bà Tú Nguỵ Giang, sinh Ngô Bồi,Ngô Tương.

33 Ngô Huệ Liên (1840-1912),Tham tri Bộ Lễ -Tòng nhị phẩm
Có ba bà, bà cả sinh Ngô Đức Kế, Ngô Đức Thiệu, Ngô Đức Vóc
(chết trẻ).
Bà hai sinh Ngô Đức Diễn, Thị Ninh;bà thứ ba Nguyễn thị Viễn
sinh Thị Viện
34 Ngô Đức Kế (1878-1929)Tiến sỹ Mậu tuất 1901,Việt Nam Chí sỹ, hiệu Tập Xuyên.
sinh Ngô Đức Trì, Thị Mẫn, Thị Khiêm
35 Ngô Đức Trì (1902- 1941) Bà Lê Thị Sáu sinh Thị Hằng, Ngô Đức Thọ
36 Ngô Đức Thọ PGS-Ts,Bà Nguyễn Thị Thọ, sinh Thị Kim Chi, Thị Mai Hương,
Đức Anh.

34 Ngô Đức Thiệu sinh Thị Chương, Ngô Đức Đệ, Ngô Đức Tốn (vt)
35 Ngô Đức Đệ sinh 1905,bà người Điện bàn
sinh Đức Trung (Ls.),Đức Hiếu, Đức Hoà, Thị Thảo, Thị Việt Lan
36 Ngô Đức Hiếu sinh Đức Dũng, Thị Bích Ngọc

33 Ngô Bồi Đỗ đầu xứ ,sinh Ngô Thiện
34 Ngô Thiện sinh Ngô Cơ
35 Ngô Cơ sinh Ngô Mưu, Ngô Đức Hảo

36 Ngô Mưu sinh Đức Hùng, Đức Dũng, Thị Trâm, Thị Oanh
37 Ngô Đức Dũng Bà Nguyễn Thị Hạnh ,sinh Đức….

36 Ngô Đức Hảo Bà Trần Thị Hà, sinh Đức Thanh, Đức Tịnh, Thị Nga, Thị Tuyết,
Thị Xuyến, Thị Sáu
33 Ngô Tương sinh Ngô Ảnh, Ngô Xán
34 Ngô Ảnh sinh Thị Chắt, Đức Quảng, Đức Tri, Đức Đường, Đức Tân Ks
35 Ngô Đức Quảng đông con cháu

34 Ngô Xán sinh Ngô Chân, Ngô Quang, Ngô Toàn
35 Ngô Chân sinh Đức Sơn, Đức Hồng, Đức Phúc, Thị Lý, Thị Cẩm
36 Ngô Đức Hồng Bà Thị An, sinh Đức Mậm

Chi X Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều
Huyện Lệ Thủy,tỉnh Quảng Bình

28 Ngô Phúc Triều Khanh tương Hầu ,con trai thứ 10 Tào Quận công ,Trấn thủ bến
Trọng Đồng Hới ,vợ con ở lại không về, sinh ba con , con trưởng
trở về Trảo Nha, truyền đến đời 33 Ngô Phúc Duyện.
Dòng Trưởng Chi X

33 Ngô Phúc Duyện sinh Ngô Viến,
34 Ngô Viến có vợ và con trai nhưng đã mất vào những năm 80.

Dòng thứ 2 Chi X

Dòng Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều về sau theo đạo Thiên chúa, truyền đến đời 33 là

Ngô Đình Khả, làm Thượng thư Phụ Đạo Đại Thần triều Đồng Khánh nhà Nguyễn. Sau ngày vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt , phong trào Cần Vương Phan đình Phùng tan rã, thực dân Pháp đưa ra hai bản án đày vua Hàm Nghi và quật mộ Phan đình Phùng. Ngô Đình Khả

trong triều đình Nam triều không ký bản án đày vua, Nguyễn Hữu Bài không ký bản án

quật mộ. Đương thời có câu “Đày vua không Khả- quật mả không Bài”.

32  Ngô Đình Niệm               (có bản chép Ngô Đình Dinh), sinh Ngô Đình Khả

33 Ngô Đình Khả Thượng thư Phụ Đạo đại thần triều Đồng Khánh,Cố vấn của Vua

Thành Thái nhà Nguyễn,

Sinh Ngô Đình Khôi,Ngô Đình Thục ,Ngô Đình Diệm,

Ngô Đình Nhu,Ngô Đình Luyện ,Ngô Đình Cẩn.

34 Ngô Đình Khôi Tổng đốc,gia đình không rõ.

34 Ngô Đình Thục Tổng Giám mục,không vợ con,mất 1984 tại Mỹ.

34 Ngô Đình Diệm 1901-1963,Tốt nghiệp Trường Hậu bổ năm 1920 ,làm quan ở các tỉnh

miền Trung (Thứa Thiên,Quảng Trị,Ninh Thuận),1930 Tuần phủ

Bình Thuận.1933 Thượng thư Bộ lại trong Nội các Bảo Đại,Đại thần

Viện Cơ mật.Năm 1934 vì tranh chấp với Phạm Quỳnh nên từ chức

Thượng thư Bộ Lại,gia nhập phe Cường Để.

Tháng 7 năm1954 được Bảo Đại mời ra làm Thủ tướng thay Bửu Lộc.

Từ 1955 đến 1963 là Tổng thống Cộng hòa Việt nam.

Bị sát hại trong cuộc đảo chính quân sự ngày 1 tháng 11 năm 1963 tại Sài Gòn.

Không vợ con.

34 Ngô Đình Nhu Cử nhân luật,bà Trần Lệ Xuân, sinh Lệ Thủy(mất sớm),Đình Trác,

Đình Quỳnh,Lệ Quyên (Lệ Quyên lấy chồng người Italia,sinh con trai

Ngô Đình Sơn,hiện định cư tại Italia).

Bị sát hại trong cuộc đảo chính quân sự ngày 3 tháng 11 năm 1963 tại Sài Gòn.

35 Ngô Đình Trác Ks.sinh 1952,bà người Italia,sinh ba trai,một gái,định cư tại Italia.

35 Ngô Đình Quỳnh Cử nhân,đại diện thương mại một công ty Hoa Kỳ tại Brusselles (Bỉ).

Gia đình không rõ.

34 Ngô Đình Luyện mất 1990 tại Paris (Pháp),gia đình không rõ.

34 Ngô Đình Cẩn Bị Nguyễn Khánh xử bắn năm 1964,không vợ con.

Dòng thứ 3 Chi X
Dòng thứ 3 ở lại Lệ Thủy, truyền đến nay đời 36, trưởng phái là Ngô Thôn

36 Ngô Thôn sinh Ngô Khiêm là trưởng phái hiện nay ở Đội 4 hợp tác xã
Phổ Trạch xã Mỹ Thủy huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, cả phái có
trên 20 hộ .
Chưa có thế thứ.

NHÂN VẬT
Ngô Tử Án
Đại thần Tiền Lê,
Con Ngô Xương Sắc, cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều, quê quán Châu Ái,ngày sinh ngày mất không rõ, là tiên tổ 9 đời Hưng Quốc công Ngô Kinh.Ông là Đại thần nhà Tiền Lê,làm Châu mục dưới thời nhà Lý.
Vua Lê Đại Hành chuẩn bị cho cuộc hành quân đánh Chiêm Thành,thấy ông là người có tài về giao thông đường thuỷ,uỷ thác cho ông cầm ba vạn quân đào khúc sông nối liền sông Đáy với sông Hoát,để tránh cửa Thần Phù thường hay có bão tố nguy hiểm.Nạo vét khúc sông nối liền Yên Định với Tĩnh Gia, sông Kênh Son, Kênh Sắt (tục gọi là Kênh nhà Lê) tiếp đến khúc sông ở Hưng Nguyên, thành đường sông nối liền Hoa Lư với cửa biển Nam Giới (tức cửa Sót ở tỉnh Hà Tĩnh).
Lại tiếp lệnh mở con đường bộ từ cửa biển Nam Giới, vượt qua giải Hoành Sơn (Đèo Ngang) vào tận đất Chiêm Thành, tạo thành con đương thuỷ bộ hành quân bình Chiêm Thành.Di tích nạo vét Kênh Son, Kênh Sắt còn lưu lại ngày nay, là một ghế đá trong hang đá ở địa phận xã Quỳnh Lộc huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, gần bờ kênh, chổ tựa lưng có khắc ba chữ “Thuỷ thạch tiên”, trên vách đá có đề bài thơ,trong kháng chiến chống Mỹ, bị bom phá và vì khai thác đá, nên không tìm ra nữa.Các cụ già địa phương vẫn còn nhớ rõ là di tích của cụ Ngô Tử Án.
Sinh Ngô Tử Uy.

Ngô Thế Bang (…-1546)
Thái Bảo Dực Quốc công,
Thụy Chân Tâm,con trai Thanh Quốc Công Ngô Khế.
Tước phong trước niên hiệu Quang Thiệu triều Lê Chiêu Tông (trước năm 1516): Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự, Phụ quốc Thượng Trụ quốc,Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự,Thái Phó, gia Thái Bảo Dực Quốc công,tứ thụy Hiền Đức Thượng sỹ.
Mất 24 tháng 10 năm Bính Ngọ 1546,mộ táng tại xứ Mả Xám,làng Thung Thượng.
Đền thờ sắc phong Dực bảo Trung hưng Đoan Túc Tôn thần.
Họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông cùng các anh Ngô Văn Bính,Ngô Khắc Cung dẫn quân bản bộ về Thanh Hóa, chiếm cứ vùng Yên Định,cùng Lê Ý dấy nghĩa phù Lê. Lê Ý thất bại,ông gia nhập vào quân Nguyễn Kim ở Ai Lao,làm Đô tướng về đánh chiếm huyện Lôi Dương, Ông là người đã có dự kiến cử Ngô Lan đưa Hoàng tử Lê Duy Ninh sang dấu ở đất Lào,phòng sau này có người nối ngôi chính thống nhà Lê.
Bà Chính thất Quốc Phu nhân Lê Thị Ngọc Quyền hiệu Từ hòa Phu nhân,bà kế thất Nguyễn Thị Từ Ý,hiệu Ôn hòa Phu nhân.
Sinh:
Vũ Quận công Ngô Bạt tự Cảnh Cao,
Diễn giang Hầu Ngô Tùng,
Tây giang Hầu Ngô Chi tự Bình.
Ngô Phúc Bẩm
Họ Ngô Tam Đa huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh ,con trưởng Ngô Phúc Tông dòng Vỵ Quận công, đời thứ 31,họ Ngô Trảo Nha Thạch Hà,dòng Ngô Nước,có tám anh em trai và ba em gái.
Ngô Phúc Tông là con thứ Đô Chỉ huy sứ Ngô Phúc Cẩm,bốn anh em đều tước Hầu.
Ông Ngô Phúc Bẩm có ba con trai, con trưởng ở Tam Đa,con thứ Ngô Khải về ở Lộc Nguyên,thành Thuỷ tổ họ An Lộc huyện Can Lộc ngày nay.

Ngô Đức Bình (1824-1879)
Hòang giáp,
Có tên là Ngô Đức Tư lúc đi thi.Con trai Ngô Đức Hồng Cử nhân Tri huỵện Thọ Chân thuộc phái 4 chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha.Học giỏi nhưng thi hương mấy khóa không đỗ, ở nhà dạy học,tham gia “Bình Tây sát tả”. Năm 1865 triều đình vua Tự Đức mở Ân khoa Nhã sỹ, ai chưa đỗ cử nhân thi hương cũng được dự thí. Ông ứng thí thi hội đỗ, vào thi đình trúng Đệ nhị giáp Đồng tiến sỹ xuất thân ( Hoàng giáp ).Khoa Nhã sỹ này lấy năm người đỗ Nhã sỹ và Đồng Nhã sỹ xuất thân..
Lúc bấy giờ triều đình đang gặp nhiều khó khăn, khắp nơi mất mùa đói kém, dân nghèo nổi dậy tứ tung, ngoài thì quân Pháp vừa chiếm xong Đà Nẵng , đòi nhiều nhượng bộ mới. Đầu đề bài thi chính hỏi : Tình hình như thế nên hoà hay nên đánh. Bài thi của ông xoay quanh bốn chữ “Dương hoà Nhi chiến “(Giả hoà mà đánh ) hợp với chủ trương của đa số trong triều đình bấy giờ nên được đỗ cao. Khi vào diện kiến, vua Tự Đức thấy ông đã nhiều tuổi (lúc này ông đã 42 tuổi) lại có tên là Tư, bèn ra câu đối :
Thập khẩu tâm tư, tư thân tư gia tư phụ mẫu.
Ông ứng khẩu đối :
Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên tạ địa tạ quân vương.
Ý và nghĩa : Chữ thập, chữ khẩu, chữ tâm ba chữ ghép lại thành chữ tư,nghía là lo nhớ,
lo mình, lo nhà, lo cha mẹ.
Vế đối : Chữ thốn, chữ thân, chữ ngôn ghép ba chữ lại thành chữ tạ, nghĩa là tạ ơn,
tạ trời, tạ đất, tạ nhà vua.
Vua Tự Đức phê vào quyển bốn chữ ” Bác nhã lão thành “.
Ông làm quan Tế tửu Quốc tử giám mấy năm,sau đi làm Án sát tỉnh Quảng Bình. Năm Tự Đức kỷ mão1879,ông làm Phó chủ khảo trường thi hương Nam Định, khi trở về Quảng Bình nhiễm bệnh từ trần tại nhiệm sở. Thi hài được an táng tại quê nhà Trảo Nha.
Ông có bốn bà,sinh bảy con trai, bốn con gái, con cháu nội ngoại trai gái ngày nay có gần ngàn, có mấy chục Cử nhân, Kỹ sư, Bác sĩ, Giáo sư,Tiến sĩ. Đích Tằng tôn là Ngô Đức Mậu,nguyên Phó Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam.

Ngô Phúc Bình
Dật võ Hầu,
Con trưởng Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị, cháu nội Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,vào đời 29 chi 9 dòng Ngô Nước Trảo Nha, làm tướng cầm quân, đến thời Trịnh Doanh về nghỉ nghiên cứu đông y, trồng vườn thuốc đặt tên là Lạc thảo viên. Ông là thân sinh Tiến sĩ Khiêm Quận công Ngô Phúc Lâm,Tư lộc Hầu Ngô Phúc Sùng.

Ngô Phúc Bình
Thuỷ tổ họ Ngô Thụy Phương huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây (xưa là huyện Yên Sơn) gốc Trảo Nha dòng Ngô Nước, thiên cư sau ngày quân Tây Sơn vào Thăng Long,sau đổi sang họ Lê Ngô,sinh Lê Ngô Duệ là thân sinh Lê Ngô Cát.

Ngô Đăng Bính
Thuỷ tổ họ Ngô Loan Dã, huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, con thứ Ngô Đăng Khản họ Ngô Hà Linh, cháu nội Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu họ Trảo Nha, thiên cư về Loan Dã vào đời thứ 27.

Ngô Văn Bính (1473-1540 )
Thái Bảo Thuỵ Quận công,
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, quê quán xã Đồng Phang huyện Yên Định (nay là xã Định Hòa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).
Đại thần thời Lê Sơ, đề xướng công cuộc phù Lê diệt Mạc.Thời Lê sơ được phong Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần, Lưu thủ Đông Kinh, kiêm Đề lĩnh Tứ thành Thuỵ Quận công.
Lê Trang Tông lên ngôi (1533),phong Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự Thái Bảo Thuỵ Quận công, tứ thuỵ Trung Nghị Thượng sỹ.
Ông mất ngày 27 tháng 7 năm 1540,hưởng thọ 68 tuổi,mộ táng trên cồn Phác Cá.
Bà Lê Thị Hậu hiệu Từ Ân Quận Phu nhân,mộ táng ở xứ Mả Xý, bà thứ họ Nguyễn, bà thứ ba người Lào.
Sinh năm con trai:
Diễn đức Hầu Ngô Chiểu,
Thanh Quận công Ngô Khê,
An đức Hầu Ngô Thái,
Hoàng giáp Ngô Bật Lạng,
Vĩnh trung Hầu Ngô Hoán,
ngày nay thành nhiều dòng họ ở nhiều tỉnh.
Ngày đầu chuẩn bị công cuộc phò Lê diệt Mạc, trong buổi chuyện trò với Nguyễn Kim ông đã tỏ ra không tin lòng dạ Nguyễn Kim, đưa ra câu chuyện mộng Thiên Đình ” Diệt Mạc này sinh Mạc khác thì sao?”.
Con trai là Ngô Bật Lạng phải chạy trốn ra đất Mạc vì bị hiềm nghi ngoại thích, sau thi đỗ Hội nguyên (Hoàng giáp 1550) làm quan với nhà Mạc.

Ngô Văn Cang
Thuỷ tổ họ Ngô Kế Xuyên huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, con trai trưởng Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu, cháu nội Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, vào ở đây trong thời chiến tranh Trịnh Nguyễn.

Ngô Tử Canh
Đại thần nhà Tiền Lê,
Con trai Ngô Xương Sắc, cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều.
Thời Lê Đại Hành, cùng Từ Mục đi sứ Chiêm Thành bị giam giữ lại mấy năm, sau ngày Lê Đại Hành chiến thắng Chiêm Thành (năm 892) mới được trở về
Có nhiều công giúp nhà Tiền Lê xây dựng nền độc lập mới và mở mang văn hoá. Sau khi chết được lập đền thờ. Dòng dõi thất truyền.

Lê Ngô Cát
Họ Ngô Thụy Phương huyện Chương Mỹ Hà Tây.
Cử nhân mậu thân 1848,Án sát.
Vốn là họ Ngô đổi làm họ Lê Ngô, dòng Vỵ phái Hầu con Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ,vào đời 32.Cha là Lê Ngô Duệ, đỗ cử nhân.
Có bốn con trai và một con gái.

Ngô Phúc Cẩm
Thuận lộc Hầu,
Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ thời Lê trung hưng.
Con trai Diên Quận công,cháu Vỵ Quận công dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,vào đời 29.
Sinh Ngô Phúc Lới,Ngô Phúc Tổng, con cháu thiên cư về xã Quang Lộc cùng huyện, một chi về thôn Yên Lai huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa.
Ngô Phúc Chánh
Lãng phương Hầu,
Con Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Đẩu,cháu đích tôn Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,vào đời 31 họ Ngô Trảo Nha tỉnh Hà Tĩnh.
Quả cảm Tướng quân(Chánh Thất phẩm) Chánh Vệ úy.
Bà Mai Thị Vượng, sinh :
Ngô Phúc Phương Đại tư đồ Hoành Quận công ,
Ngô Phúc Bích,
Ngô Phúc Điền.

Ngô Chiểu
Diễn đức Hầu,
Con trưởng Ngô Phúc Trường, cháu nội Khiêm Quận công Ngô Phúc Lâm, đời thứ 32 chi 9,họ Ngô Trao nha Hà Tĩnh, làm Tri huyện huyện Gia Bình.

Vỵ Quận công
(Không rõ tên), con thứ Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh và bà Lê Thị Đệ .
Bà là Quận chúa họ Trịnh, sinh hai con trai:
Ngô Phúc Diên Diên Quận công,Thủy Tổ họ Ngô Tam Đa nay ở xã Quang Lộc huyện Can Lộc và
Đề đốc Lý Quận công (thất truyền).
Dòng Diên Quận công phân chi họ Ngô An Lộc và họ Ngô Yên Lai.

Ngô Phúc Cơ
Thủy Tổ dòng họ Ngô Thì,Ngô Gia Văn phái.Nguyên có tên là Ngô Sử Hậu (Nậu).
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,sau vụ án Lệ Chi Viên, là một trong sáu người con Ngô Khế phải đổi tên đi lánh ẩn,mà phả cũ gọi là “Cư biệt quán”.Ông về làng Tó xã Tả Thanh Oai ,cho đến nay đã gần 20 đời.

Ngô Khắc Cung (1452-1541)
Thái Phó Nam Quận công,
Con Thái Úy Thanh Quốc công Ngô Khế, quê Đồng Phang huyện Yên Định ( nay là xã Định Hóa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).
Ông sinh năm Nhâm Thân 1452, mất ngày 10 tháng giêng năm Tân Sửu 1541.
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu tham dự triều chính,gia thụ Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc Đại phu ,Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự, Thượng Trụ quốc,gia Thượng Trí,Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,Thái Phó Nam Quận công,thuỵ Sùng Nghị Thượng sỹ.
Làm tướng thời Lê sơ,khi Mạc cướp ngôi nhà Lê, anh em ông đưa quân bản bộ về quê Yên Định lo việc phù Lê diệt Mạc cùng Lê Ý được vài năm. Lê Ý thất bại, anh em ông cùng Nguyễn Kim xây dựng lực lượng phù Lê, sau ngày chiếm lại được huyện Lôi Dương,ông bị bệnh từ trần ngày 10 tháng giêng năm Tân Sửu 1541,thọ 90 tuổi.
Ông là người trung dũng trụ cột của vương triều, trong thì phò thiếu chúa, ngoài lo việc quân cơ, công nghiệp trung hưng anh em ông là người xướng lên trước.
Bà Thái Bình Trường quốc Công chúa Lê Thị Ngọc Phiến, hiệu Bà Dịch Quận Phu nhân. Bà người thôn Dựng Tú, con gái Sấm thọ Hầu Lê Đài (Lê Hùynh), mất ngày 24 tháng 9, mộ ở tang Đào Ao xã Sinh Dược huyện Gia Viễn, gần sơn lăng, có đền thờ trên đỉnh núi (do họ ngoại phụng tự) .
Sinh : Tham đốc Triều an Hầu Ngô Diệp,
Ngô Thị Ngọc Phỉ lấy Dũng Quận công,
Ngô Thị Ngọc Phương lấy Uy Quận công.

Ngô Thị Ngọc Dao (1420 -1496)
Quang thục Hoàng Thái Hậu,
Con gái Chương Khánh Công Ngô Từ, đời thứ 20, Tiệp dư,chị là Ngô Thị Ngọc Thung Cung phi,cả hai đều là vợ Lê Thái Tông.
Vào cung năm 1436, sinh Công chúa Hương Long (chết trẻ) và Lê Tư Thành tức Vua Lê Thánh Tông.
Kỵ ngày 26-3 ( nhuận ), mộ táng ở xã Phụng Công huyện Đức Quang.
Lê Thánh Tông dựng Thuần Mẫu đường thờ tiên tổ bên ngọai (họ Ngô), lại dựng Điện Thừa Hoa để Hoàng Thái Hậu thay áo,sau trở thành nơi thờ Bà, hàng năm hương khói.
Ngày nay đã được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa (tại xã Định Hòa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).

Ngô Đình Diệm (1901-1963)
Thượng thư,
Quê xã Đại Phong huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình.
Con trai Thượng thư Ngô Đình Khả một Đại thần các triều Đồng Khánh,Thành Thái,Duy Tân nhà Nguyễn.
Ngô Đình Khả vốn dòng họ Ngô gốc Trảo Nha (chi 10).Tiên tổ là Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều,con trai thứ 10 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, trấn thủ Bến Trọng ( Thời Lê Trịnh ) vợ con ở lại không về, lập nghiệp ở xã Phổ Trạch huyện Lệ Thủy. Bố Ngô Đình Khả theo Đạo thiên chúa, gặp lúc phong trào “Bình Tây sát tả” Thời vua Tự Đức, ở Phổ Trạch ít người công giáo, sợ bị tàn sát, ông chạy vào xã Đại Phong,nơi có cơ sở công giáo mạnh để được an toàn.
Thuở nhỏ bố làm quan, ông học ở Huế, tốt nghiệp Trường Hậu bổ năm 1920.Ra làm quan ở các tỉnh miền Trung (1923Tri huyện Quảng Điền Thừa Thiên,Tri phủ Hải Lăng Quảng Trị,Ninh Thuận). Năm 1930 lên đến chức Tuần phủ Bình Thuận (Tòng Nhị phẩm). Năm 1932 được cử làm Thượng thư Bộ lại trong Nội các Bảo Đại,Đại thần Viện Cơ mật. Năm 1934 từ chức vì tranh chấp với Phạm Quỳnh và mâu thuẫn với Pháp, gia nhập phe Cường Để. Sau cách mạng tháng 8 ở Đà Lạt cùng em trai là Ngô Đình Nhu. Năm 1950 sang Mỹ. Tháng 7 năm 1954 được Bảo Đại mời về làm Thủ tướng,thay Bửu Lộc. Năm 1955 lên làm Tổng thống Cộng hòa Việt Nam (miền nam Việt Nam).
Ngô Đình Diệm cùng Ngô Đình Nhu bị các thế lực khác do Mỹ dàn dựng chỉ đạo giết chết trong cuộc đảo chính quân sự ngày 1-11-1963.
Mộ phần của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu ở cạnh nhau tại nghĩa trang Lái Thiêu (nghĩa trang nhân dân số 6),không có tên mà chỉ có tên Thánh,và Huynh chỉ Ngô Đình Diệm,Đệ chỉ Ngô Đình Nhu.Mộ phần thân mẫu họ và Ngô Đình Cẩn cũng gần đó.
Ngô Đình Diệm không có vợ con.
Ngô Phúc Diên
Diên Quận công,
Con trai Vỵ Quận công,cháu Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh,đời thứ 28 dòng Ngô Nước Trảo Nha.
Bà là Quận chúa họ Trịnh,sinh :
Ngô Phúc Cẩm Thuận lộc Hầu,
Ngô Phúc Thuận Phó Trung úy Chân Lộc Hầu ,và
Tại bá Hầu Chánh Đội trưởng(không rõ tên).
Thủy Tổ dòng họ Tam Đa, An Lộc, Yên Lai.

Ngô Đức Diễn ( 1898-…)
Con trai Ngô Huệ Liên, em Tiến sỹ Ngô Đức Kế, dòng Ngô Nước Trảo Nha, đời thứ 34. Đỗ Diplome, dạy học ở trường Quốc học Vinh Nghệ An, đồng sáng lập viên Hội Phục Việt,sau đổi Tân Việt cách mệnh Đảng,rồi đổi Đảng Tân Việt,tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương,là Ủy viên Thường vụ, năm 1929 bị Pháp bắt tại Vinh, đưa vào giam ở nhà lao Phủ Thừa (Huế), bị tra tấn, lâm bệnh chết trong nhà tù ,chưa có vợ con.

Ngô Phúc Diễn
Diễn phái Bá,
Con trai Phái trung Hầu, cháu nội Thuyên phái Hầu, đời thứ 31 phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha, sinh Ngô Đức Hồng Cử nhân,có cháu là Hoàng giáp Ngô Đức Bình.

Ngô Phúc Diễn (1770-1838)
Diễn võ Bá,
Tự Pháp Nghĩa,con trai thứ 5 Hòanh Quận công Ngô Phúc Phương và bà Trương Thị
Từ Thiên Á Quận quân,tiểu phái 3 phái trưởng chi 5 đời 33 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh
dòng Ngô Nước, Thủy tổ phái nội thành Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Bốn,con gái Đại vương Nguyễn lang Linh Đường,
Sinh Ngô Phan,Ngô Đào,Ngô Dương,Ngô Uông(vt),Thị Lê,Thị Trần,Thị Ngoan.

Ngô Xuân Diệu (1916-1985)
Nhà thơ,
Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 (ngày 29 tháng Giêng Bính Thìn) ,tại Vạn Gò Bồi,xã Tùng Giản,huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định.Cha là Ngô Xuân Thụ đỗ Tú tài kép Hán học vào làm thầy dạy học ở Bình Định kết duyên với bà Nguyễn Thị Hiệp.
Quê ở Trảo Nha Thạch Hà/nay là huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Là nhà thơ,nhà lý luận và phê bình,con Tú tài Ngô Xuân Thụ, cháu nội Tú tài Ngô Phúc Bổn,vào đời 39, chi 5 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước.Đỗ Tham tá thương chính,từ 1940-1943 làm tại Sở Đoan Mỹ Tho(Tiền Giang)
Sau cách mạng tháng 8 là Đại biểu Quốc hội khoá 1 của tỉnh Hải Dương ( 1946-1960 ),UVBCH Hội Văn Nghệ Việt Nam 1948,UV BCH Hội nhà văn Việt Nam khóa I,II,III.,Viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm nghệ thuật CHDC Đức 1983.
Mất ngày 18-12-1985, không có vợ con.
Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996.
Tác phẩm: Thơ,thơ 1938
Gửi hương cho gió1945
Sáng 1953
Mẹ con 1954
Riêng chung 1960
Tôi giàu đôi mắt 1970
Thanh ca 1980.
v.vv…
Truyện ngắn Phấn thông vàng 1939
Nhiều bút ký,tiểu luận phê bình và dịch thơ nhiều nhà thơ nổi tiếng trên thế giới.

Ngô Nhật Dụ
Đại nho gia,
(Khoảng thế kỷ thứ 8, thời thuộc Đường),con Triệu tổ Ngô Nhật Đại, Tằng tổ Ngô Vương Quyền.
Đại nho gia đầu tiên của họ Ngô Việt Nam, làm Liêu tá trong Phủ Đô hộ thời thuộc Đường.

Lê Ngô Duệ
Họ Lê Ngô Thụy Phương, huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây. Nguyên họ Ngô dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,cháu Vỵ phái Hầu,thời Tây Sơn ra bắc, đổi họ Lê lánh nạn về làng Lang Điền huyện Yên Sơn trấn Sơn Nam,nay là xã Thụy Phương huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây ,thuộc phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha,vào đời 31,sinh Cử nhân Lê Ngô Cát.

Ngô Nhật Đại
Triệu Tổ họ Ngô Việt Nam.
Tiên tổ các đời trước phả cũ không ghi chép,có thể là vào thời kỳ chưa có phả.
Quán Ái Châu (vùng thuộc Thanh Hóa ngày nay), sống vào thời cuối Đường (Bắc thuộc thế kỷ thứ 8).Sinh con trai Ngô Nhật Dụ làm Liêu tá trong phủ Đô hộ, Cao Tổ của Ngô Vương Quyền.
Phả cũ chép:”Quán Ái Châu dĩ nông nghiệp khởi, sinh Ngô Nhật Dụ”.Con cháu dòng dõi đến nay (cuối thế kỷ 20) gần 50 thế hệ,trên 1300 năm, gồm hàng triệu người, hơn hai trăm chi họ lớn nhỏ cư trú trên khắp mọi miền đất nước Việt Nam, ở nước ngoài cũng có hàng vạn người.
Có một thuyết nói rằng: Cụ Ngô Nhật Đại vốn là một Hào trưởng vùng Cửa Sót, châu Phúc Lộc thời thuộc Đường, cùng quê với Mai Thúc Loan, giúp Mai Thúc Loan khởi nghĩa.Sau khi thất bại,Mai Thúc Loan rút vào động Khuất Liêu,Ngô Nhật Đại chạy ra châu Ái ẩn náu,sinh cơ lập nghiệp ở đó.

Ngô Đạm (1880-1953)
Họ Ngô Kế Xuyên xã Bình Trung huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam, vào đời thứ 42. Có tên Nghi Ngô. Con trai Ngô Văn Toản, dòng Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu thuộc chi VII ,gốc Trảo Nha Thạch Hà,tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1897 tham gia phong trào Đông du. Đỗ Tú tài khoa 1905. Năm 1905 tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa thục,1907 tham gia phong trào xin sưu ở Trung kỳ bị bắt,bị kết án tám tháng tù.Năm 1917 tham gia phong trào Duy tân do cụ Thái Phiên vận động, bị thực dân bắt lần thứ 2. Năm 1928-1938 ứng cử Hội đồng quản hạt Quảng Nam,Nghị viên Nghị viện Trung kỳ trong nhóm Phan Thanh chống thuế tỷ lệ, đòi ân xá chính trị phạm, thi hành luật lao động.
Sau Cách mạng tháng 8 làm Hội trưởng Liên Việt huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam.
Sinh Ngô Hoan.

Ngô Phúc Đang
Hàn Quận công,
Đồn trưởng đồn Bố Chính, mất tại nhiệm sở,con trai thứ hai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, Tiên tổ Chi II Thổ Sơn xã Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh (vào đời thứ 28).
Được phong tước Quận công năm Vĩnh Trị thứ 3(1678), phong cùng ngày với Đằng Quận công Ngô Phúc Hạp, Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ (ba anh em trai).
Sinh: Huân cơ Hầu Ngô Phúc Huân,
Trạc võ Hầu Ngô Phúc Kỳ,
Thuật võ Hầu (không rõ tên).

Ngô Phúc Đẩu 1668-1718
Nhuệ võ Hầu,
Con trưởng Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ vào đời 32, dòng trưởng Chi 5 họ Ngô Trảo Nha Thạch Hà ,dòng Ngô Nước.
Thân sinh Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh,ông nội Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương,

Ngô Phúc Điền
Thuỷ tổ họ Ngô Phú Điền xã Hưng Phú huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, con thứ Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hà,cháu Tổng binh Đồng tri Ngô Phúc Hải,dòng Ngô Nước Trảo Nha, ở quê mẹ ở Phú Điền ( vào đời thứ 24 ).

Ngô Phúc Điền
Diên Quận công,
Con Vỵ Quận công dòng Ngô Nước Trảo Nha ( đời thứ 28 ), con cháu thiên cư về làng Tam Đa, nay là xã An Lộc huyện Can Lộc,Thuỷ tổ họ Ngô Tam Đa, phân chi về An Lộc huyện Can Lộc Hà Tĩnh và Yên Lai huyện Nông Cống Thanh Hóa.

Ngô Phúc Điền
Kiêm lộc Hầu,
Cẩm y vệ Thự vệ,Chánh cai đội.
Con trai thứ sáu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn ( đời thứ 28 ), Thuỷ tổ họ Ngô Văn Cử ( Chi 6 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh ), xã Xuân Lộc huyện Can Lộc Hà Tĩnh.
Sinh Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm,Thụy tường Hầu Ngô Phúc Giang.

Ngô Phúc Điền
Chi 5 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh, vào đời thứ 32, con Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh,dòng Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ, thiên cư trở thành Thuỷ tổ họ Ngô làng Nguyệt Ao ( Lai Thạch ).

Ngô Độ
Tùng khê Hầu,
Tên cũ là Ngô Hữu Phái, có bản chép là Ngô Thế Thái.Thụy Trung Mẫn,Thủy Tổ họ Ngô An Mô huyện Triệu Hải tỉnh Quảng Trị,.
Con thứ 10 Thanh Quốc công Ngô Khế. Năm 1558 theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, đóng quân ở Ái Tử, về qua sông Thạch Hãn sinh cơ lập nghiệp, thành dòng họ Ngô An Mô, Tước Quận Công của Vua Lê phong trước khi đi theo giúp Nguyễn Hoàng.
Sinh :Ngô Văn Bài, Ngô Văn Sỹ.
Sau thành bốn chi :
Ngô Văn Cảnh-Ngô Văn Minh-Ngô Văn Lương-Ngô Văn Dũng.
Ngô Thị Ngọc Lâm là con gái dòng họ An Mô.
Có đền thờ,sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù Tôn thần.

Ngô Phúc Giám
Khoát võ Hầu,
Con thứ hai Hoành Quận công Ngô Phúc Phương, họ Trảo Nha thiên cư Yên Viên huyện
Gia Lâm Hà Nội ( quê vợ họ Đinh ) thành một phái của Chi 5 Trảo Nha dòng Ngô Nước.
Bà họ Đinh,hiệu Từ Cung,sinh:Ngô Phúc Long (tức Ông Cả Hiệu),Cụ Trung,Cụ Trùm,
Ngô Phúc Tấn (tức Ông Tú Lương),Cụ Tuần ở Vạn Phúc,Cụ Dơi ở Thanh Trì.

Ngô Phúc Giang
Thuỵ tường Hầu,
Con Kiêm lộc Hầu Ngô Phúc Điền, vào đời 29 chi 6 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước,
cháu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn.
Sinh Chính đạo Công (thất truyền), Pháp minh Công Ngô Phúc Minh.

Ngô Phúc Hải
Tổng binh Đồng tri,
Họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước.Tổng binh Đồng tri ,Trấn thủ trấn Thái Nguyên, con trai Quản Lĩnh Công Ngô Nước họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh, vào đời 22.Có sức khoẻ hơn người, 13 tuổi đã bắt được trộm cướp, hơn 20 tuổi đã đi Trấn thủ Thái Nguyên thời Lê sơ, khi chết được thiên táng, mộ ở chân rú Rum ( Mã Yên Sơn )cũng gọi là rú Thành, ở huyện Hưng Nguyên Nghệ An, đến nay vẫn còn. Con trai là Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hà, cháu là Ngô Phúc Thanh Vĩnh lộc Hầu Trấn thủ trấn Nghệ An và Ngô Phúc Điền Thủy tổ họ Ngô Phú Điền Hưng Nguyên Nghệ An.

Ngô Phúc Hạp
Đằng Quận công,
Con trai thứ ba Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,vào đời 28 họ họ Ngô Trảo Nha dòng
Ngô Nước.
Sau ngày Tào Quận công từ trần(1652),ông là Chân kỳ Hầu mới 25 tuổi,là tướng trẻ có tài,
được Chúa Trịnh giao cầm quân vào đất Chiêm Thành cũ,đánh sau lưng quân Chúa
Nguyễn.Đi quá sâu vào Châu Đốc,vợ con Ông ở lại đó không trở về quê củ Trảo Nha.
Nay thành Thủy tổ họ Ngô ở ấp Châu thới 2,Thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang.

Ngô Phúc Hiển
Tuần phủ Bắc Ninh.
Họ Ngô Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội.
Con trai Ngô Phúc Thước Thiên kỵ Thị vệ Thước võ Bá, cuối Lê trung hưng về ở làng Quan Thổ xã Thổ Quan, nay là phường Thổ Quan, quận Đống Đa Hà Nội.
Đời 32 dòng Ngô Nước Trảo Nha.

Ngô Cảnh Hoàn (1720-1786)
Thu lĩnh Hầu,
Thiên tướng quân thủy Quản lãnh đội Tiền trạch thời Lê Hiển Tôn, tử trận cùng hai con trai trên sông Hồng ở bến Thúy Ái trong khi chỉ huy chiến thuyền ngăn cuộc tiến quân của Nguyễn Huệ vào Thăng Long ( 1786 ). Vợ ba là bà Phan Thị Thuấn tử tiết theo chồng ,được phong Liệt nữ và biển vàng “Trung Liệt Nhất Gia “, có đền thờ ở Thúy Ái Hà Nội và Trảo Nha ,nay thuộc thị trấn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Ông là con trai Cảnh Quận công, cháu Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh.
Ông có ba bà.Bà thứ ba là Liệt nữ Phan Thị Thuấn.
Con trai là Trâm ngọc Hầu Ngô Lượng Lang,những người con trai khác đều chết trận.

Ngô Phúc Hoành
Hoành phố Hầu,
Con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu , vào đời thứ 26 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước , có nhiều con phân tán trở thành thuỷ tổ nhiều chi họ, dòng trưởng ở xã Chỉ Châu, nay là xã Thạch Trị huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Phúc Hộ (1634-1704)
Phượng Quận công,Đô đốc
Con trai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, tiên tổ chi 5 ở Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, phân chi Hà Nội, Hà Tây, Quảng Nam, Nghệ An, Phú Yên.
Năm Vĩnh Trị thứ 3 đời Lê Hy Tôn năm 1678, ba anh em được phong tước Quận công cùng ngày.
Đạo sắc phong nguyên văn chữ Hán, tạm dịch như sau:
“Thuận thiên thừa vận,
Hoàng thượng xuống chế rằng :
Trời sinh anh tài hào kiệt, cốt để phù vận nước,
Vua hiền cầm cân khen thưởng , cốt để chính công lao
Việc tốt nêu gương toả ra khắp cõi
Vũ huân tướng quân thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Phượng lân Hầu Ngô Phúc Hộ, trong ngạch bộ binh, kẻ sỹ vuốt nanh, người tài lỗi lạc,
Gặp lúc Càn Thống tiếm xưng vua, Tiên khảo nhà ngươi quyết tâm đuổi bắt, vừa ngày tang tóc sinh nội biến, Tiên khảo nhà ngươi phò giá tiến công,
Tướng môn tất sinh tướng tài, Võ công liền thăng võ trật
Luyện gang thép vượt khó lập công to,
Cầm cán cân đắn đo sao cho đúng
Vậy cứ công mà thăng quan tước, lấy đó mà sáng tỏ thù lao.
Hiến thân cho nước, chí trung, để dốc lòng làm tròn nghiệp lớn.
Cha ngươi trước đã có công tiềm để, nhà ngươi lại đã phụng thị lâu ngày, đã cầm quân đánh dẹp, nhiều lần lập công to,
Phụng Nguyên soái điển quốc chính,
Cung phụng Đại nguyên soái Chưởng quốc chính, Thượng sư đại phụ Minh khang Thái vương xuống chỉ ra ân, đã được đình thần kiểm nghị, xứng đáng phong tước Quận công,được là Phụ quốc Thượng tướng quân phụ quốc thượng trật Phượng Quận công,
Khâm thử!
Vĩnh Trị năm thứ 3 tháng 11 ngày 19 (1678)”
Ông sinh các con trai:
Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ (phái trưởng),
Tuấn đức Hầu (phái 2)ở phủ Quảng Trạch Quảng Bình,
Vỵ phái Hầu (phái 3) ở huyện Lang Điền, nay là xã Thụy Phương huyện Chương Mỹ Hà Tây,
Thuyên phái Hầu (phái 4) ở Trảo Nha,
Suyên cung Hầu thất truyền.

Ngô Hồng
Phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng Ngô Nước. Con trai Diễn phái Bá, đỗ Cử nhân làm Tri huyện huyện Thọ Chân dưới triều Thiệu Trị(1841-1847),đánh mất ấn, bị cách chức về làng dạy học, sinh Ngô Đức Bình đỗ Hoàng giáp.

Ngô Phúc Huân
Huân cơ Hầu,
Con trưởng Hàn Quận công Ngô Phúc Đang,cháu Thái bảo Tào Quận công
Ngô Phúc Vạn,đời 29 dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh,sinh Long võ Hầu,
Long võ Hầu sinh Thanh vân Hầu,Thanh vân Hầu sinh Đoan thọ Bá.(Đều không rõ tên)

Ngô Cảnh Hựu ( 1520-1596)
Thái bảo,Thế Quận công,
Có tên là Ngô Phúc Trừng (đổi tên vì kỵ huý vua Lê Lê Duy Hữu ), tự Minh Trứ, thuỵ Đôn Hậu phủ quân, con trai Vĩnh lộc Hầu Ngô Phúc Thanh, dòng Ngô Nước Trảo Nha, đời thứ 25. Xếp Nguyên công trong công cuộc Trung hưng nhà Lê .Được mở Quân doanh Bật nghĩa, vào hàng “Luỹ đại công thần dữ quốc đồng hưu”.
Năm quý tỵ 1593 có công trong lúc thu phục Kinh thành, thăng Thiếu bảo, phong Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc. Sau khi Kinh thành đã ổn định, Chúa sai bách quan rước xa giá vua Lê về ngự triều, đại xá thiên hạ, luận công khen thưởng, ông được thăng Thiếu bảo, dự vào hàng 11 người có công đầu,
Phụ Quốc công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thiếu bảo Thế Quận công,gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc Thượng tướng quân,Bật nghĩa Doanh .
Có ba bà:Từ Quang,Diệu Hằng,Trịnh Thị Diệu Minh.
Sinh: Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh,
Ngô Thị Ngọc Nguyên Thứ phi Bình An Vương Trịnh Tùng,
Hòanh phố Hầu Ngô Phúc Hòanh họ Chỉ Châu,
Khang trạch Hầu Ngô Phúc Mai họ Cổ Bái,
Câu kê Hầu họ Thạch Mỹ,
Ngô Đăng Khản họ Hà Linh,
Ngô thuận Tâm họ Trần Vỵ Xuyên.
Trên 70 tuổi, năm 1594, Ông xin về trí sĩ.
Ông mất ngày 25 tháng 5 năm bính thân 1596 thọ 77 tuổi,mộ ở thôn Chi lễ xã Thái Hà.

Ngô Đức Kế (1878-1929)
Tiến sỹ,
Việt Nam Chí sỹ, hiệu Tập Xuyên, con trai Tham tri Ngô Huệ Liên, cháu Cử nhân Ngô Phùng, anh Ngô Đức Diễn, thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha,dòng Ngô Nước.
Ông thông minh từ nhỏ,18 tuổi đỗ Cử nhân, 23 tuổi đỗ Tiến sỹ khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 1901, Ông không ra làm quan, cùng Đặng Nguyên Cẩn , Lê Văn Huân lập Triều dương Thương điếm ở Vinh , làm nơi liên lạc thân sỹ Bắc Trung Nam, vận động cách mạng chống thực dân Pháp, dành độc lập tự do cho đất nước.
Năm 1908 bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo , năm 1921 được trả tự do ,trở về tiếp tục hoạt động cách mạng (xem phần nhân vật đột xuất).
Năm 1929 nhiễm bệnh mất ở Bạch Mai (Hà Nội), mộ táng ở làng Phương Mai Hà Nội, nay đã được cải táng về quê ,đặt trên đồi Nghèn thuộc Thị trấn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Sinh con trai Ngô Đức Trì, con gái Ngô Thị Mận, Ngô Thị Khiêm,có cháu đích tôn là PGS Tiến sỹ Ngô Đức Thọ.

Ngô Khải
Thuỷ tổ họ Ngọ An Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, con trai Ngô Phúc Bẩm, dòng Diên Quận công,vào đời thứ 30. Gốc Trảo Nha dòng Ngô Nước.

Ngô Đăng Khản
Thuỷ tổ họ Ngô xã Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh.Thường gọi là Ngôn,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước. Gặp phải lúc quân Mạc Kính Điển đánh vào Nghệ An, chiếm đóng bờ nam sông Lam hai tháng, Ngô Cảnh Hựu còn cầm quân ở Thanh Hóa, con nhỏ phải chạy lánh nạn, nhân đó thiên cư luôn không trở về. Con cháu ngày nay cư trú khắp các vùng Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, Tuyên Hoá ,Quảng Trạch, Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.

Ngô Phúc Khê
Vinh thái Hầu,
Con thứ Khang trạch Hầu ở Cổ Bái, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, vô tự, có đền thờ ở hai thôn Gia Thiện và Hữu Phường ở Cửa Sót huỵện Thạch Hà Hà Tĩnh (Thờ chung với Phan Quận công), sắc phong Linh phù Tôn thần.

Ngô Khế (1426- 1514)
Thái úy Thanh Quốc công,
Hiệp mưu thuần tín tá lý đồng đức Hoàng tôn Công thần,thăng thụ Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu,gia thụ Đặc tiến khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu, Tham dự triều chính Cố mệnh Đại thần, Đông bình chương Quân quốc trọng sự, Tư đồ Thượng Trụ quốc,Thái uý, gia Thượng Trí, Thanh Quốc công, thuỵ Sùng Thịnh Thượng sỹ, lập đền thờ phong Trác vỹ Thượng đẳng Tôn thần.
Ông là con thứ Dụ vương Ngô Từ,em trai Quang thục Hòang Thái hậu mẹ vua Lê Thánh Tông.
Ngô Khế làm quan trải các triều: Thánh Tông 38 năm,Hiến Tông 7 năm, đến Túc Tông, đều làm Cố mệnh Đại thần. Phụ tá triều Quang Thuận,Hồng Đức,Cảnh Thống đến triều Đoan Khánh, tái tôn lập vua Hồng Thuận.
Ông sinh giờ dần, tháng 9 năm bính ngọ 1426,mất ngày 6 tháng 10 năm giáp tuất 1514.
Bà là Vũ Thị Ngọc Hoàn,hiệu Ôn thục, Thái trường Trường quốc Phu nhân, người xã Chân Trị huyện Chí Linh, mất ngày 6 tháng 10, mộ táng tại thôn Châu Trường xã Ngọc Trường tổng Hải Quật huyện Chí Linh.
Ông có 11 con trai,trở thành Thủy tổ của 11 dòng họ Ngô:
-Ngô Bá Dị, tự Hải Sơn,xã Tam Sơn huyện Đông Ngạn trấn Kinh
Bắc,nay là huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh;
-Ngô Sử Toàn, đổi là Ngô Nguyên, xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong trấn Kinh Bắc,nay thuộc xã Tam Giang,huyện Yên Phong,tỉnh Bắc Giang;-Ngô Sử Hậu, đổi Ngô Phúc Cơ, xã Tả Thanh Oai nay thuộc huyện Thanh Trì,Hà Nội;
-Ngô Công Tín, Tây Quận công, xã Bách Tính huyện Nam Chân Sơn Nam hạ,nay là xã Nam Hồng,huyện Nam Ninh,tỉnh Nam Định;
-Ngô Ngữ, xã Địch Lễ , nay là thôn Địch Lễ xã Nam Vân huyện Nam Ninh,Nam Định;
-Ngô Lợi, đổi tên Ngô Nước, xã Trảo Nha huyện Thạch Hà trấn Nghệ An,nay thuộc xã Đại Lộc và Thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh;
-Ngô Khắc Cung, Thái phó Nam Quận công ở nguyên quán Đồng Phang,nay là xã Định Hòa,huyện Thiệu Yên,tỉnh Thanh Hóa;
-Ngô Văn Bính, Thái bảo Thuỵ Quận công ở nguyên quán Đồng Phang;
-Ngô Thế Bang,Thái bảo Dực Quốc công ở nguyên quán Đồng Phang;
-Ngô Thế Thái, tức Ngô Hữu Phái,còn có tên là Ngô Độ và Ngô Quốc Trinh,Tùng khê Hầu,tước phong Quận công, thiên cư vào An Mô (đi theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa năm 1558);
-Ngô Ngọc Phác,Đốc dự Bá Đốc thiêm Hầu, đổi họ Hoa lấy tên Hoa Phúc Quảng, thuỷ tổ họ Ngô xã La Phù huyện Từ Liêm Hà Nội;
-Sáu người con gái trong đó có Kim hoa Nữ sỹ Ngô Chi Lan vợ Tiến sỹ Phù Thúc Hòanh ở Phù Gia Trang thuộc Phù Lỗ,còn lại đều cư biệt quán.

Lý Thường Kiệt (1019-1105)
Thái úy Việt Quốc công,
Tức Ngô Tuấn, con Ngô An Ngữ,cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều, anh Lý Thường Hiến (Ngô Chương), thuỵ Quang Châu, sinh ở phường Thái Hòa (quận Ba Đình ngày nay) .Giúp trải 3 triều nhà Lý,làm đến chức Thái Uý đứng đầu trăm quan, nhiều công lao an dân, bình Chiêm Thành, ngự Tống.
Suy thành hiệp mưu thủ chính tá lý dực đới Công thần,Thủ Thượng thư lệnh,Khai thủ Nghị đồng Tam ty,Nhập nội Nội Thị tỉnh đô Đô tri Kiểm hiệu,Thái uý kiêm Ngự sử Đại phu,Giao thụ Chư trấn Tiết độ sứ,đồng tráng thủ môn hạ,Bình chương Thượng trụ quốc,Thiên tử nghĩa đệ, Phụ quốc Thượng tướng quân, Việt Quốc công.
Thực ấp 10.000 hộ,thực phong 4000 hộ.
Hiện nay từ đường hương khói ở thôn Bắc Biên xã Ngọc Thuỵ huyện Gia Lâm Hà Nội, chi họ Ngô ở đó phụng tự. Nhân dân nhớ công ơn lập đền thờ ở nhiều nơi. (Xem nhân vật đột xuất ở phần trên).
Được suy tôn Anh hùng dân tộc.

Ngô Kinh (1350-1437)
Thái phó, Thượng Trí tự ,Hưng Quốc công,
Bảo chính Công thần Nhập nội Kiểm điểm Thượng tướng quân Kiến tường Hầu,thăng thụ Thái phó Thượng Trí tự Hưng Quốc công,thụy Dụ Khê Thượng sỹ,lại được ban thụy Trung Hiền Thượng sỹ,Công thần khai quốc triều Hậu Lê, con Ngô Tây và bà Trịnh Thị Kim hiệu Từ Đức Á Quận chúa phu nhân, người xã Đồng Phang huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên tỉnh Thanh Hóa,vị Tiên tổ khai phục dòng họ Ngô ở Thanh Hóa sau nhiều đời luân lạc (xem Nhân vật đột xuất).
Ông mất ngày 27 tháng 7 năm đinh tỵ 1437(Có bản chép 1433),gia phong Quang liệt Đại vương,mộ táng tại làng Thung Thượng,gần lăng Tổ,đông cận mộ Dụ Vương,tây cận đường lớn,nam cận xứ Hối Thị ,bắc cận ruộng dân.
Bà Lê Thị Mợi,húy Mười,còn có tên Quỳnh Hòan,hiệu Du Tâm Quý nương Thắng thiện,là cháu họ Lê Khóang,mất ngày 7 tháng 7 năm thìn,mộ táng ở xứ ngõ Miếu,xã Lâm Hạ huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc.
Ông bà sinh:
-Chương khánh Công Ngô Từ ,Thái úy Diên ý Dụ vương;
-Tả Tướng quân, Diên mỹ Công Ngô Đức ;
-Thận Quận công Ngô Khiêm;
-Đô đốc Thượng Tướng quân Ngô Đam
-và Ngô Thị Ngọc San là vợ Lương Quận công Nguyễn Tín(Thủy tổ dòng họ La Sơn Phu tử).

Ngô Phúc Kỳ
Trạc võ Hầu,
Con thứ Hàn Quận công Ngô Phúc Đang ,cháu Thái bảo Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, đời 29
dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh.
Tự Diên Khánh,Điện tiền Đô kiểm điểm ty Hữu Kiểm điểm,Đại tiến vụ Huân tướng quân Thự vệ sự.
Hai bà, sinh: -Ngô Phúc ở Trảo Nha,
-Dự võ Hầu (không rõ tên) ở Bảo Sơn

Ngô Lượng Lang
Trâm ngọc Hầu,
Con trưởng Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn, cháu Cảnh Quận công, chi 5 họ Ngô Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Ngô Cảnh Hoàn tử trận ở bến Thúy Ái, bà Phan Thị Thuấn tuẫn tiết, ông phân tán vợ con về Sơn Tây, đến Sơn Nam hạ cùng bạn hữu tổ chức lực lượng đánh Tây Sơn báo thù nhà trả nợ nước. Trong một trận đánh không ngang sức, ông bị quân Ngô Văn Sở tiêu diệt trên sông Hồng, ông cũng chết trên dòng sông .Triều Nguyễn ban biển vàng đề bốn chữ ” Trung liệt nhất gia”. Con cháu có nhiều vị phải đi ẩn náu, nên mất liên lạc.

Ngô Phúc Lâm (1722-1784)
Tiến sỹ,Khiêm Quận công,
Tự Hồng Tích, hiệu Thuần Trai,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước, cháu Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị, con Dật võ Hầu Ngô Phúc Bình.
45 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa bính tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27 triều Lê Hiển Tôn 1766, làm Giám sát Ngự sử Lạng Sơn, Đốc đồng Sơn Tây, Hiến sát sứ Thanh Hóa, về làm Tri tả Bình phiên chức Thị lang, rồi lại đi Tham chính Sơn Nam, Trưởng phái bộ đi Lạng Sơn giao thiệp với phái bộ Trung Quốc về việc biên giới, về bị ốm nhưng vẫn phải đi công cán Thanh Hóa. Ở Thanh Hóa được cử đi Thuận Hóa giữ chứcTham trấn, bệnh nặng phải về kinh điều trị, năm 1784 mất ở Thăng Long. Lý Trần Quán chọn đất táng ở cồn Thịnh Quang. Tặng Gia hành Đại phu, Công bộ Hữu Thị lang Khiêm Quận công.
Có hai bà sinh: -Phúc Lương ( lúc còn trẻ cầm quân đi đánh ở Rú Bầng tử trận chưa vợ ),
-Phúc Trường, sinh Ngô Phúc Chinh, Ngô Phùng.
Ông là người viết “Tân kỷ Hoan châu Ngô Thị truyền gia tập lục” vào năm Bính Dần 1746.
Ngô Phúc Lâm theo học Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm ở Tiên Điền (là thân sinh của Nguyễn Khản Tiến sĩ 1760,Nguyễn Du Đại thi hào),cùng học có La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Khi Ông thi đỗ Tiến sỹ, Nguyễn Thiếp làm bài thơ mừng, nguyên văn:

Hạ Thạch Hà Trảo Nha Ngô Tiến sỹ
Kỷ độ Hồng ngư lập tuyết đình
Kim bích lan khứu kiến giao tình
Kỉnh cuồng trợ ngã Kỳ lâm tịch
Tiên thủ vinh quân giáp đệ danh
Tây phủ luỵ truyền quang vũ phục
Nam phương bán bích lạng văn tinh
Giang hồ vị ngãi tiên ưu chí
Hảo tế thương sinh uỷ hưu sinh.
Tạm dịch:
Hồng ngư mấy độ mái tuyết đình
Thềm lan vách quế kết giao tình
Kinh cuồng giúp đệ rừng cài ẩn
Tiến thủ đưa huynh giáp đệ vinh
Tây môn vốn dĩ dòng võ tướng
Trời nam nửa bức rạng văn tinh
Giang hồ chưa thoả lòng ưu ái
Cứu khổn an dân cậy bạn hiền.

Ngô Huệ Liên (1840-1912)
Tham tri Lễ Bộ
Đỗ Cử nhân khoa quý dậu 1873 triều Tự Đức, làm Đốc học Quảng Ngãi, về làm Toản tu Quốc sử quán, 1895 Phó chủ khảo trường thi Hội khoa Ất Mùi Thành Thái 7 , 1900 thăng Quang Lộc tự Khanh,sau thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ , về hưu. Con Ngô Phùng, tằng tôn Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm, thân sinh Tiến sĩ Ngô Đức Kế, Ngô Đức Diễn.Khi Ngô Đức Kế bị thực dân Pháp bắt, ông đang làm quan ở Huế, sợ con mình không chịu nỗi đòn tra tấn, biên thơ khuyên nếu không đủ nghị lực chịu đựng, thì nên tự xử trước, đừng để ô danh tiên tổ. Ngô Đức Kế không nghe theo, cố sức chiu đựng đến cùng, cho đến khi thành án bị đày đi Côn Đảo.

Ngô Phúc Liêu
Hào mỹ Hầu,
Con trai thứ bảy Tào Quận công Ngô Phúc Vạn dòng Ngô Nước Trảo Nha,
Sinh hai con trai: trưởng Ngô Văn Cang thiên cư Quảng Nam, thành Thuỷ tổ họ Ngô Kế Xuyên huyện Thăng Bình ,
con thứ Ngô Phúc Cẩm, làm quan triều Lê, vài đời sau con cháu có người làm chức Thiên kỵ Thị vệ của Lê Chiêu Thống, về ở làng Quan Thổ xã Thổ Quan (nay là phường Thổ Quan quận Đống Đa, Hà Nội) thành thuỷ tổ dòng họ Ngô ở đó.

Ngô Pháp Lượng
Hạo Quận công,
Con thứ Vinh Quận công, cháu Phượng Quận công, chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha,vô tự. Dân hai thôn Nha Kỳ và Gia Lạc thờ ở đền Linh Nha trên núi Nghèn (hiện nay thuộc Thị trấn Can Lộc Hà Tĩnh) làm Phúc thần.

Ngô Phúc Lý
Lý Quận công,
Con Vỵ Quận công ,em Diên Quận công, dòng Ngô Nước Trảo Nha, thất truyền.

Ngô Phúc Mại
Một tên khác của Ngô Phúc Vạn ,Tào Quận công.( Xem Ngô Phúc Vạn).

Ngô Phúc Mại
Khang trạch Hầu,
Con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, dòng Ngô Nước Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô làng Cổ Bái xã Thạch Ngọc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Đình Mân
Tiên Tổ họ Ngô Việt Nam,
Thân sinh Ngô Vương Quyền, hậu duệ Triệu tổ Ngô Nhật Đại, con Hào trưởng Ngô Đình Thực, sinh quán châu Ái (nay là tỉnh Thanh Hóa), chưa rõ ở huyện xã nào.(Có thuyết nói ở Làng Mía tức Thịnh Mỹ huyện Thọ Xuân, nhưng không đủ cứ liệu.) Ông theo Nho học trở thành Đại nho gia, du học vào Cửa Sót, rồi đến quận Đường Lâm, Tiết độ sứ Khúc Thừa Hạo trao cho chức Mục Phong châu. Bà là Phùng Thị Tịnh Phong, con Phùng Hải ,cháu Bố cái Đại vương Phùng Hưng ,ở thôn Cam Lâm quận Đường Lâm, nay là thôn Cam Lâm xã Đường Lâm Thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây.
Sinh hai con trai : Ngô Quyền ( tức Lý Thường Kiệt),
Ngô Tịnh (tức Lý Thường Hiến).

Ngô Mậu
Con ông Ngô Lợi, em ông Ngô Soạn, họ Ngô xã Thạch Mỹ huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh,dòng Ngô Nước Trảo Nha.Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 20 vùng chợ Cồn đói kém, sưu cao thuế nặng , có trên 50 gia đình phải bỏ đất bỏ làng tha phương cầu thực. Gia đình ông Ngô Lợi lưu lạc qua các vùng chợ Chế Đức Thọ, định cư ở xóm Hưng Xá xã Phú Xá huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Ngô Mậu tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Phú Xá, năm 1931 gia nhập Đảng CSĐD. Năm 1941 bị thực dân Pháp bắt kết án 15 năm tù khổ sai đày đi Ban Mê Thuột. Sau Nhật đảo chính Pháp, trở về quê Hưng Nguyên hoạt động, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện, làm Chủ tịch Uỷ ban huyện Hưng Nguyên, Tỉnh uỷ viên Tỉnh đảng bộ Nghệ An. Năm 1951 làm Chủ tịch Uỷ ban tỉnh Hà Tĩnh, rồi đi công tác khác. Năm 1955 làm Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1960 về Bộ Ngoại giao, đi làm Đại sứ tại Mông Cổ, rồi Đại sứ tại Cu Ba, sau về làm Thường vụ Ban cán sự Đảng ngoài nước. Tuổi cao về hưu,mất ở Hà Nội. Bà họ Mạc là cán bộ phụ nữ, sinh Ngô Hoài Lam,Ngô Hồng Hạnh,Ngô Đức Hùng, Ngô Đức Cường đều là Kỹ sư hoặc Tiến sỹ.

Ngô Đức Mậu (1908-1987)
Đích Tằng tôn Hoàng giáp Ngô Đức Bình, con trai Ngô Đức Chánh, đời 36 chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tỉnh.Năm 1925 tốt nghiệp Tiểu học (Primảie), làm thầy giáo ở các huyện Thạch Thành, Hà Trung tỉnh Thanh Hóa, tham gia Tân Việt cách mệnh Đảng(1927) ,vào Đông dương Cộng sản Đảng năm 1930, làm Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa.
Năm 1931 bị thực dân Pháp bắt ở Thanh Hóa, kết án khổ sai chung thân đày đi nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị). Năm 1936 giảm án được trả tự do, về giúp việc các trường tư thục ở Vinh (trường Phan Kiêm Huy, trường Thăng Long). Gặp vụ đình công của công nhân nhà máy Trường Thi, bị Mật thám Pháp bắt lần thứ hai, nhưng không có đủ chứng cớ nên được thả.
Năm 1945 tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Can Lộc, làm Uỷ viên quân sự Uỷ ban lâm thời huyện. Tiếp đó liên tục làm công tác tuyên truyền báo chí ở Hà Tĩnh, ở Liên khu IV.
Sau ngày giải phóng, về Bộ Văn hoá làm Chủ nhiệm Báo ảnh, là Phó Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam.
Bà họ Hà thôn Vịnh Phong cùng xã, sinh Ngô Đức Bào Tiến sỹ, Ngô Đức Trà PGS Tiến sỹ, Ngô Đức Danh Kỹ sư, Ngô Thị Hồng Hà Kỹ sư.

Ngô Công Mênh
Thuỷ tổ chi họ Ngô Công giáo Thổ Hoàng. Lâu ngày thất truyền không biết rõ gốc, đến nay trên 10 đời.
Vốn biết hai anh em Ngô Mông, Ngô Mênh cùng nhau đến Thổ Hoàng thuộc huyện Hương Khê lập nghiệp phát triển dòng họ, ngày nay có phái ở Vũng Tàu Bà Rịa, đều theo công giáo.
Theo gia phả họ Thượng Bồng huyện Hương Sơn, vốn là một dòng con cháu Nghĩa võ Hầu, dòng Ngô Nước Trảo Nha thiên cư vào đời 28-29. Đến đời thứ 30 có bốn anh em trai sống chung với nhau, gặp lúc anh em bất hoà, người anh cả cõng người em út bỏ nhà ra đi cách đó vài xã làm ăn sinh sống ở đất Thổ Hoàng, về sau gia nhập đạo Thiên chúa cho đến nay nên ít đi lại về gốc tổ.
( Xem thế thứ họ Thượng Bồng và họ Thổ Hoàng .)

Ngô Đăng Minh
Án trung Hầu,
Thái giám, con Ngô Đăng Khản họ Hà Linh, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu ở Trảo Nha dòng Ngô Nước, vào đời 27. Năm Chính Hoà thứ 24(1685) có công đi đánh Bồn Man, phong Án trung Hầu. Sau khi chết dân làng Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh lập đền thờ làm Phúc thần, sắc phong Dực Bảo trung hưng Trung đẳng tôn thần. Năm 1995 đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.

Dương Văn Nga
Con gái Dương Tam Kha,cháu Dương Diên Nghệ, lấy Nam Tấn vương Ngô Xương Văn con Ngô Vương Quyền sinh Ngô Nhật Khánh Sứ quân Đường Lâm và một con gái lấy Đinh Liễn. Đinh Bộ Lĩnh bức hàng Nhật Khánh,lấy bà làm vợ phong làm Hoàng Hậu(một trong năm Hòang hậu của Đinh Tiên Hòang), sinh con trai Đinh Toàn(Vệ Vương Tòan).Sau khi Đinh Bộ Lĩnh và con là Đinh Liễn bị đầu độc chết,Đinh đế Toàn lên ngôi, bà là Hòang Thái hậu nhiếp chính,Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn làm Phó vương.Nhân một phiên chầu,Đại tướng quân Phạm Cự Lượng thay mặt ba quân suy tôn Lê Hoàn làm vua, Dương Văn Nga khoác áo Long Cổn vào vai Lê Hoàn, nhường ngôi vua. Lê Hoàn lên làm vua năm 980 lại lấy bà làm vợ, phong làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu ở Kinh đô Hoa Lư (một trong năm Hòang hậu của Lê Hòan-Đại Thắng Minh là tên hiệu trước đây của Đinh Tiên Hòang).Ngày nay còn có đền thờ chung Bà với Đinh Tiên Hoàng ở khu Di tích lịch sử Hoa Lư. Tương truyền cũng đã có thời người ta đưa tượng Bà sang thờ ở đền thờ Lê Đại Hành.

Ngô Phúc Ngạn
Ngạn trung Hầu,
Con thứ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương, thuộc chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng Ngô Nước.Tháng 11 năm 1786 Án Đô Vương Trịnh Bồng (triều vua Lê Chiêu Thống ) chống nhau với quân Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra,Ngạn trung Hầu và em là Thuần trung Hầu (con rế Trịnh Bồng) cùng tham chiến và tử trận,cả hai đều chưa có con.

Ngô Nước
Tên trước là Ngô Lợi, con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, một trong sáu người cư biệt quán đi lánh nạn sau vụ án Lệ Chi Viên. Ông lánh về xã Chỉ Châu, một thời gian sau dời ra ở thôn Thổ Sơn xã Đan Liên huyện Thạch Hà trấn Nghệ An, sau đổi là xã Trảo Nha, nay là xã Đại Lộc và thị trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Thuỷ tổ họ Ngô Trảo Nha, sinh Ngô Phúc Hải làm Tổng binh trấn thủ Thái Nguyên .Được phong tặng Nghệ An Quản lĩnh. Mộ hai ông bà táng ở Dăm nhà quan, thôn Thổ Sơn , ngày nay vẫn còn.
Dòng họ đến nay phát triển đến hàng vạn con cháu, trên 20 đời, Từ đường chính ở Thổ Sơn , nguyên là vườn cũ của ông bà ở nuôi lợn nấu rượu, đến nay đã trên 500 năm, vừa được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá năm 1993.

Ngô Phúc Phái
Phái trung Hầu,
Con Thuyên phái Hầu, sinh Nhiệm phái Hầu, Diễn phái Bá. Là 2 dòng chi 5 phái 4 họ Ngô Trảo Nha, 1 dòng ở Chương Mỹ Hà Tây ( xưa là xã Lang Điền huyện Yên Sơn ) có Lê Ngô Cát, một dòng ở Trảo Nha có cử nhân Ngô Hồng, Hoàng giáp Ngô Đức Bình ( Chú thích: Nhiệm phái Hầu hoặc Vỵ phái Hầu có thể lẫn lộn vì 2 chữ gần giống nhau, hơn nữa chữ Nhiệm kỵ huý viết bỏ nét sổ đứng nên càng giống chữ Vỵ ). Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép Vỵ phái Hầu, phả chi 5 Trảo Nha chép Nhiệm phái Hầu .

Ngô Phúc Phổ
Vân lĩnh Hầu,
Lúc nhỏ tên là Ngô Phúc Bạc, con trai thứ 8 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, vào đời thứ 28, thất truyền trong chiến tranh Trịnh -Nguyễn.Có phả ghi là Nghĩa võ Hầu ,có dòng dõi ngày nay ở huyện Hương Sơn Hà Tĩnh, Thanh Chương Nghệ An, tức là họ Ngô Thượng Bồng và họ Ngô chợ Rạng .
Gần đây lại có họ Ngô Văn ở huyện Tuy Hòa tỉnh Phú Yên nhận là dòng Ngô Phúc Phổ.
(Còn là tồn nghi ).

Ngô Phúc Phổ
Phổ Quận công,
Vào đời 30 dòng Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ họ Ngô Trảo Nha. Con thứ Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, anh Cảnh Quận công, bác Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn. Bà vợ người làng Canh Hoạch, chị ruột bà Dương Thị Hoan mẹ đẻ Trịnh Tông. Khi có người tố giác, vụ án Canh tý 1780 nổ ra, Trịnh Tông bị hạ ngục, hàng chục đại thần bị hại, ông cũng là một trong số đó. Sau ngày Trịnh Tông được Quân Tam phủ lập làm Chúa ( Đoan nam Vương Trịnh Khải 1782), ông được truy tặng tước Đại Vương. Ông chỉ có con gái.

Ngô Phùng(1805-1863)
Tự Nguyên Trọng, tường gọi cụ Thiếu,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha, con Ngô Phúc Trường, cháu Tiến sỹ Ngô Phúc Lâm, em Cử nhân Ngô Phúc Chinh, thân phụ Cử nhân Tham tri Ngô Huệ Liên, ông nội Chí sỹ Tiến sỹ Ngô Đức Kế.
Học giỏi nhưng đến năm 37 tuổi mới đậu Cử nhân khoa Thiệu Trị 1 (1841). Sau khi thi đỗ được ra làm Hậu bổ ở Hà Nội, lĩnh chức Đốc học Bắc Ninh rồi lại điều về Hà Nội. Năm Tự Đức 4 (1851) vua mở cuộc khảo hạch để chọn người sung chức Kinh diên giảng quan, Ngô Phùng được vua phê là “ sảo thông” (khá thông) được điều về kinh bổ chức nói trên. Năm 1853 thăng hàm Trước tác, lĩnh chức Thị độc ở Viện Tập Hiền, chuyên đọc duyệt các bài thơ vịnh sử của vua. Năm Tự Đức 9 (1856) vì hay đau ốm, lại ở quê còn có mẹ già, vua chuẩn cho về làm Giáo thụ ở đạo Hà Tĩnh.Năm thứ 15 (1862) lại có chiếu chỉ triệu về kinh bổ chức Thị độc, thăng hàm Quang lộc tự Thiếu khanh, sung Quốc sử quán Toản tu. Không bao lâu lại đau ốm phải xin nghỉ, rồi qua đời, thọ 59 tuổi .

Ngô Phúc Phương (1710-1804)
Đại tư đồ Hoành Quận công
Huý Túc, Đại tư đồ Hoành Quận công, con Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh, cháu Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Điền, tằng tôn Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, là trưởng chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng dõi sau này truởng là Nhà thơ Ngô Xuân Diệu. Là con rể Chúa Trịnh Cương, lấy Quận chúa Phương Huệ, tặng Ôn dung Công chúa, sinh ra có dị tướng có 36 cái răng, miệng rộng đút lọt nắm tay, 20 tuổi ra Quản quân , 30 tuổi thi võ đỗ Tạo sỹ, là một tướng có tài, nhưng cũng gặp không ít trở lực, bị các nhà Chúa thành kiến.Suốt cả cuộc đời tận tuỵ phụng sự Chúa Trịnh, Chúa chạy chạy với Chúa, Chúa này chết tôn lập Chúa khác, đem cả nhà ra chống Nguyễn Hữu Chỉnh, để mưu bảo vệ ngôi của Chúa,hai con trai là Tướng mang tước Hầu bỏ mình trên chiến trận.
Ngô Văn Sở, Tổng trấn Bắc Thành sai người bảo ông đem gia phả ra đối chiếu nhận họ, ông nói :” Ta với vua tôi người ấy là không đội trời chung “, thoái thác là phả đã bị cháy trong cơn binh lửa. Ngô Văn Sở đành chịu, phải đối chiếu với phả ở Trảo Nha.
Sau khi Trịnh Tông (tức Trịnh Khải )được lập làm Đoan Nam Vương năm 1782,ông được trọng dụng giữ chức Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự,quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội ,năm sau (1783)nhận thêm chức Mật điện Nội sát kiêm Phụ dực Nội điện,con trai là Ngô Phúc Trọng ra quản Tiên ưu đội.
Chiêu Thống triệu,ông không ra giúp chỉ phò một Chúa Trịnh. Ông có năm con trai, hai trai tử trận vô tự, nay còn ba dòng lớn, ở Hà Nội hai và ở quê Trảo Nha một .Mộ táng ở Dăm cửa làng Tôn Tổ ( nay là Tuân ) thuộc huyện Thanh Oai,nay thuộc huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây,hiện đang được tôn tạo thêm sau gần một trăm năm hoang phế.

Ngô Vương Quyền ( 897-944 )
Tiền Ngô Vương
Sinh ở Đường Lâm ngày 12 tháng 3 năm đinh tỵ 897, mất ở Cổ Loa ngày 18 tháng 1 năm giáp thìn 944. Mộ táng trên đồi thôn Cam Lâm quận Đường Lâm nay là xã Đường Lâm Thị xã Sơn Tây, tiền lăng hậu miếu.
Hai cụ thân sinh là Phong châu Mục Ngô Đình Mân và Phùng Thị Tịnh Phong con Phùng Hải, cháu Bố cái Đại vương Phùng Hưng , ông nội là Hào trưởng Ngô Đình Thực ở Ái Châu .
Ngô Quyền là vị Tổ dựng nước Trung đại, mở nền độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam mãi muôn đời về sau, được suy tôn Anh hùng dân tộc. Là một vị tướng tài được chủ tướng Dương Diên Nghệ nhận làm con nuôi, rồi gả con gái Dương Thị Như Ngọc.Đã cùng Dương Diên Nghệ đánh bại quân Nam Hán xâm lược lần thứ nhất (930-931),được bố vợ uỷ quyền trông coi châu Ái.
Năm đinh dậu (937), Kiều Công Tiễn phản bội ,đầu độc chết Dương Diên Nghệ, rồi cấu kết với Nam Hán. Ông dấy binh từ châu Ái ,giết Công Tiễn,đánh bại quân xâm lược Nam Hán do Thái Tử Hoằng Tháo thống lĩnh sang xâm lược lần thứ 2, trên sông Bạch Đằng.
Năm Kỷ Hợi (939) ông xưng Vương, đặt nền móng độc lập tự chủ cho đất nước, định đô ở Cổ Loa , ở ngôi được 6 năm , bị bệnh từ trần, truyền ngôi cho con trưởng Ngô Xương Ngập có cậu là Dương Tam Kha phụ chính.
Phụ lời uỷ thác, Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu, tiếm xưng Bình Vương ( 945-950 ).Năm 950, Ngô Xương Văn lật đổ Bình Vương ,phế làm Trương dương Công, đón anh Xương Ngập về cùng coi việc nước. Các nhà sử học xưa chia kỷ nhà Ngô thành triều đại Tiền Ngô Vương và Hậu Ngô Vương (Thiên sách Vương ,Nam tấn Vương ).
Theo sử và phả ghi chép thì vợ Ông là bà Dương Thị Như Ngọc .Theo thần tích ở đền làngỴên Nhân huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, thờ Bà Dương Phương Lan, nói rằng:Năm 20 tuổi Ngô Quyền kết thành vợ chồng với người con gái huyện Thượng phúc ( nay là Thường Tín ) tên là Dương Phương Lan. Đền làng Ninh xá xã Lệ ninh huyện Kinh môn nay thuộc thành phố Hải Phòng, thờ Vua Bà Càn Lương phu nhân , nói rằng ở đây bà đã đóng trại quân thời tham gia trận đánh Bạch Đằng Giang.
Ngô Vương Quyền có bốn con trai,Ngô Xương Ngập,Ngô Xương Văn do bà Dương Thị Như Ngọc sinh ra, Càn Hưng , Nam Hưng ( thất truyền ) chưa rõ con bà nào.
Tất cả các chi họ Ngô Việt Nam ngày nay đã liên lạc với nhau ( ngoài số chi họ Ngô từ Trung Quốc sang gọi là gốc Trung Quốc, và một số họ Ngô từ họ khác lấy họ Ngô , cải làm họ Ngô vì hoàn cảnh nào đó ) đều là cùng chung huyết thống thuộc dòng dõi Ngô Vương Quyền. Đến nay (1996) đã liên lạc được trên 200 chi họ cư trú trên tất cả các tỉnh thành từ Bắc đến Nam. Phần lớn đã được đưa vào ” Hệ Phả ” họ Ngô Việt Nam, nhân khẩu hàng triệu
người nam và nữ.

Ngô Văn Sở
Đại Tư mã Chấn Quận công,
Danh tướng nhà Tây Sơn, người gốc Trảo Nha, con cháu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, cha ông thiên cư vào Bình Định, trong phả ông có tên là Ngô Văn Tàng,khi ký giấy tờ bang giao lấy tên là Ngô Hồng Chấn.Ông nội là Ngô Mãnh,Đô Thống chế thời Chúa Nguyễn. Ông theo giúp Tây Sơn lập rất nhiều chiến công,lừng danh trong trận đánh đuổi quân Thanh năm Kỷ dậu 1789.
Năm 1787 được cử làm Tham tán Quân vụ cùng Tiết chế Vũ Văn Nhậm ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, đánh chiếm Thăng Long.Khi Vũ Văn Nhậm sinh lòng phản trắc bị Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ giết, Ngô Văn Sở được cử làm Đại tư mã Tổng trấn Bắc thành.
Tháng 11 năm mậu thân 1788, trước sức tấn công của 20 vạn quân Thanh do Tôn Sỹ Nghị thống lãnh tràn sang xâm lược nước ta dưới chiêu bài giúp Lê chiêu Thống, ông nghe theo kế sách của Ngô Thì Nhiệm rút quân về trấn giữ ở núi Tam Điệp, cấp cáo về Phú Xuân. Bắc Bình Vương làm lễ đăng quang lấy niên hiệu Quang Trung năm thứ 1, giao cho ông và Phan Văn Lân đi tiên phong đạo quân chủ lực dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Quang Trung tiến đánh quân Thanh,thắng trận Hạ Hồi, Ngọc Hồi,tiến vào Thăng Long, sau đó tiếp tục trấn thủ Bắc Hà.
Năm canh tuất 1790 phụng mạng cầm đầu phái đoàn 100 người đưa Vua Quang Trung (giả) sang Yên kinh dự lễ Bát tuần Đại thọ vua Thanh Càn Long, khi về được phong Thuỷ sư Đô đốc. Năm 1792 vua Cảnh Thị nh lên ngôi tấn phong chức Đại Đổng lý, tước Chấn Quận công, coi sóc cả việc quân và dân ở Bắc thành ( Tổng trấn Bắc thành kiêm Quản binh dân tài phú).
Lúc bấy giờ ở Phú Xuân Thái sư Bùi Đắc Tuyên lộng quyền,nội chính nHà Tây Sơn rối loạn.Vũ Văn Dũng nghe theo lời Trần Văn Kỷ, phối hợp với Đô đốc Hoà bắt cha con Bùi Đắc Tuyên giam vào ngục,sợ Ngô Văn Sở đem quân về hỏi tội, sai Đô đốc Hải giả chiếu Quang Toản ra Thăng Long sai Bắc thành Hoàng Đệ Nguyễn Quang Thuỳ lừa bắt Ngô Văn Sở đưa về Phú Xuân,thêu dệt thành tội trạng làm phản, bỏ vào cũi dìm xuống sông Hương cho chết (1795).Từ đó con cháu thất tán đổi họ tên, nay chưa liên lạc được.

Ngô Văn Sự
Thuỷ tổ họ Ngô Tây vịnh xã Thạch vịnh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh, dòng Hoành Quận công Ngô Phúc Phương chi 5 họ Ngô Trảo Nha, đến nay 7,8 đời.

Ngô Phúc Tại
Diên Quận công,
Tại bá Hầu, Diên Quận công, cháu Tứ Quận công, con Vy Quận công, sinh ba con trai:Ngô Phúc Cẩm Đô Chỉ huy sứ dòng họ Tam Đa,Ngô Phúc Thuận Phó trung uý Chân Lộc Hầu thất truyền,Ngô Phúc Tại Chánh Đội trưởng Tại bá Hầu cũng thất truyền, chưa rõ con cháu ở đâu, vào đời thứ 29, cuối thế kỷ 17.

Ngô Thụân Tâm
Quê làng Cổ Bái huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh, con Thế Quận công ,em Khang trạch Hầu, sinh Ngô Tất Thắng ra ở thừa tự hai bà cô là Quỳnh Hoa và Quế Hoa Công chúa ở hai thái ấp Vị Xuyên, Cầu Gia huyện Mỹ Lộc Nam Định, nay đã cải làm họ Trần.Hai ông bà sống ở Cổ Bái, mộ táng tại Cổ Bái .Họ Vỵ Xuyên thờ làm Thuỷ tổ.

Ngô Phúc Tân
Đáng Quận công
Con thứ tư Tào Quận côngNgô Phúc Vạn.
Đang tước Khiêm cung Hầu,mới tuổi trên 20,ông cầm quân vào đánh Điện bàn thuộc
trấn Quảng Nam. Bị sa cơ trong chiến đấu,không trở về được,phải ở lại huyện Phù ly,sau chia
thành hai huyện là Phù Mỹ và Phù cáT.Trở thành Thủy tổ chi 4 Bình Định.
Tước Quận công là tước phong tặng sau này.

Ngô Thanh (1911-1969)
Người họ Ngô xã Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh dòng Ngô Nước Trảo Nha, Đảng viên ĐDCSĐ 1930-1931, bị thực dân Pháp bắt đày đi Kon tum với bản án khổ sai chung thân. Sau Nhật đảo chính Pháp,về Hương Khê tham gia lãnh đaọ Tổng khởi nghĩa ở Hương Khê, sau đó vào quân đội.Sau hòa bình chuyển ngành làm Giám đốc Sở lương thực Hà Nội, Thành uỷ viên Đảng bộ Hà Nội.Mất ở Hà Nội năm 1969.

Ngô Phúc Thanh
Thái bảo Vĩnh lộc Hầu ,
Thuỵ Trung Túc phủ quân.Con Thuần trung HầuNgô Phúc Hà , cháu Tổng binhNgô Phúc Hải, tằng tôn Quản Lĩnh công Ngô Nước ,thân sinh Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, vào đời thứ 24 họ Ngô Trảo Nha. Ông làm Trấn thủ trấn Nghệ An 10 năm được mệnh danh “Nam diện Trường thành”
Nghệ An xứ Đô Tổng binh sứ ty Đô tổng binh sứ, tặng phong Thái Bảo.
Mất trước ngày họ Mạc cướp ngôi vua Lê. Mộ táng trên núi Ngũ lão huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Ông sinh Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu.

Ngô Phúc Thạnh
Dự võ Hầu,
Con thứ Trạc võ HầuNgô Phúc Kỳ, cháu nội Hàn Quận côngNgô Phúc Đang, vào đời thứ 29 dòng Ngô Nước Trảo Nha, thuỷ tổ hai chi Bảo Sơn và Tiên lương huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Trung Thận (Tên tự)
Cảnh Quận công,
Con Vinh Quận công, thân sinh Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn vàNgô Phúc Thiện, chi 5 họ Trảo Nha dòng Ngô Nước.

Ngô Bá Thi
Thuỷ tổ họ Ngô Mông lãnh huyện Quế sơn tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, con Khuông lễ BáNgô Phúc Thiện, cháu nội Cảnh Quận công ,thuộc chi 5 Trảo Nha dòng Ngô Nước thiên cư vào thời Tây Sơn ra Bắc.

Ngô Phúc Thiêm (1628-1662)
Nhuận Quận công,
Con trưởng Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, vào đời 28 dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, tự Chân Thể, thuỵ Thận Ý phủ quân.
Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tham đốc thần vũ Tứ vệ, tặng Nam quân Đô
đốc phủ Đô đốc Thiểm sự Nhuận Quận công, Thượng Trụ quốc.
Ông là một tướng kiêu dũng, đã đánh là thắng, không thua trận nào.Năm 13 tuổi được phong tước Nham Quận công,15 tuổi thi trận pháp đỗ đầu thí sinh cả nước, 17 tuổi cầm quân đánh Mạc ở Cao Bằng, 18 tuổi tham gia dẹp nội biến Trịnh Lạc, Trịnh Khâm được phong Đô đốc Phủ Đề đốc.Chúa Trịnh Tráng cho đổi họ Trịnh, thành Trịnh Phúc Thiêm và gả Quận chúa cho.Năm 22 tuổi ly dị Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Mai ,bị biếm, lại bị vu oan tư thông cung phi nên bị hạ ngục,đổi sang họ Phạm, thành Phạm Phúc Thiêm, tước quyền thừa kế hương hoả họ Ngô.
Gặp khi quân Chúa Nguyễn ra đánh và chiếm đóng từ bờ nam sông Lam trở vào sáu bảy năm, Chúa Trịnh Tạc phải xoá tội, điều vào Nghệ An cầm quân dưới trướng Tô Quốc doanh Trịnh Căn.
Ông đem hết mọi hùng tài thao lược ra thi thố, chỉ qua vài trận kịch chiến, đánh tan Quận Hùng, Quận Nhuệ ở núi Ngưu sơn (Nghi xuân), tiến đánh phá quân Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đóng ở Mai sơn (Can Lộc), truy kich quân Chúa Nguyễn đến tận bờ sông Nhật Lễ,thu phục toàn bộ đất đai bị chiếm đóng gần 7 năm.
Sau khi chiến thắng, triều đình luận công,ông được công đầu ,phong Nhuận Quận công ,chức Đề đốc, đóng quân ở huyện nhà, trấn giữ phía nam, lại cho phục hồi họ Ngô, trả lại quyền thừa kế hương hoả.Chưa đầy một năm ông bị bệnh từ trần.
Bà cả là Quận chúa Ngọc Mai,ông ly dị khi chưa có con,bà thứ Lê Thị Điều,tục gọi là
Bà Thượng cũng không có con.
Trong thời kỳ bị biếm ở Thăng Long,ông có bà thiếp họ Nguyễn sinh một con trai.
Bà đã đem con trai về Hải Dương, sinh con đẻ cháu thành chi họ Ngô ở xã Chi Lăng Bắc,
huyện Ninh thanh Hải Hưng (thuộc trấn Hải Dương cũ).
Sau ngày chiến thắng ở bờ nam sông Lam được phục hồi chức tước đóng quân tại huyện
nhà,ông có lấy thêm bà thiếp họ Mai,người làng Hàm Anh (nay thuộc xã Tân Lộc huyện Can Lộc).
Vừa lúc ông từ trần,bà sinh một con trai,sinh sống tại quê Hàm Anh.
Người con trai ấy trở thành Thủy tổ chi họ Ngô Tân Lộc ngày nay.
Dân làng Nghiện hùng, xã Trảo Nha, huyện Can Lộc Hà Tĩnh trọng tài của ông thờ làm Phúc thần.Sắc phong Dực bảo Trung hưng Trung đẳng Tôn thần.

Ngô Phúc Thiện
Khuông lễ Bá
Con trai thứ Cảnh Quận công ,em Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn, chi 5 họ Ngô Trảo Nha. Sa cơ trong khi đánh quân Tây Sơn, rút vào Phú Xuân, cha con bị bắt đưa vào Quảng Nam. Sau con ở lại Mông lãnh Quế sơn, cha trở về quê Trảo Nha.

Ngô Phúc Thụ (1650-1724)
Vinh Quận công,
Con trưởng Phượng Quận côngNgô Phúc Hộ chi 5 họ Ngô Trảo Nha, sinh Nhuệ võ Hầu, Phổ Quận công,Hạo Quận công, Cảnh Quận công, có cháu tằng tôn là Đại tư đồ Hoành Quận công, con cháu ngày nay vào đời thứ 40.

Ngô Phúc Thuần
Thuần trung Hầu,
Con trai Đại tư đồ Hoành Quận công, con rể Án đô Vương Trịnh Bồng, tử trận khi đánh chặn quân Nguyễn Hữu Chỉnh, không có con.

Phan Thị Thuấn
Tiết liệt Phu nhân,
Người làng Nha Kỳ xã Trảo Nha huyện Can Lộc,vợ thứ ba Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn ,tử tiết theo chồng năm 1786.Khỏang năm Chiêu Thống truy xét đến những người tiết nghĩa Bà và Thu lĩnh Hầu đều được dự phong,Triều đình còn hạ lệnh cho dân sở tại lập đền thờ Bà tại thôn Thúy Lĩnh,xã Lĩnh Nam,huyện Thanh Trì Hà Nội.
Năm Tự Đức thứ 12 (1859) được ban cho chữ:”Lê triều tiết liệt phu nhân Phan Thị chi từ”(Đền thờ Phan Thị ,người đàn bà tiết liệt triều nhà Lê),dựng bia ở phía đông đền.Sắc phong Thượng đẳng Tôn thần.(Xem nhân vật đột xuất ở phần trên).

Ngô Phúc Thuận
Chân Lộc Hầu,
Con Diên Quận công, em Đô Chỉ huy sứNgô Phúc Cẩm, anh Tại bá Hầu, vào đời 29 dòng Vỵ Quận công họ Ngô Trảo Nha. Bà Nguyễn Thị Hành (phả cũ khôn ghi con cháu).
Tại bá Hầu và Chân Lộc Hầu đều thất truyền.Ngô Phúc Cẩm là Thuỷ tổ họ Ngô Tam Đa.

Ngô Phúc Thước
Thước võ Bá,
Tiên tổ chi họ Ngô ở phường Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội,chức Thiên kỵ Thị vệ thời Lê Chiêu Thống.Vốn dòng dõiNgô Phúc Liêu ở Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,khi Lê Trịnh sụp đổ, Bắc thành thuộc vế Tây Sơn, ông lánh về làng Quan Thổ xã Thổ Quan, con cháu ngày càng Đông Thành chi họ. Ông sinh con traiNgô Phúc Hiển.

Ngô Phúc Thuyên
Thuyên phái Hầu,
Con thứ tư Phượng Quận côngNgô Phúc Hộ,không rõ tên huý, cháu nội Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, là tiên tổ phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha ở Thị trấn Can Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,phân chi đi Đông thôn huyện Hưng Nguyên Nghệ An, huyện Bình Chánh tỉnh Quảng Bình.

Ngô Phúc Tịnh
Thái bảo Tứ Quận công,
Tự Minh Triết, thuỵ Đức Long phủ quân.Con trưởng Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, cháu Vĩnh lộc HầuNgô Phúc Thanh, dòng Ngô Nước Trảo Nha.Giúp Lê Trịnh có nhiều chiến công đánh Mạc,Trấn thủ Nghệ An, tham dự Nghị sự đường.
Hiệp mưu dương võ Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,
Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Tứ Quận công,gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc.
Thời còn trẻ ở Thanh Hóa, lấy bà Lê Thị Đệ con gái Lê Tướng công người huyện Đông Sơn, có hai con trai là Tào Quận côngNgô Phúc Vạn,Vỵ Quận công và ba con gái.
Sau ngày Lê Trịnh thắng Mạc về Thăng Long,Triết Vương Trịnh Tùng gả Quận chúa Ngọc Mai cho ông.Quận chúa không có con,là con Chúa nên làm Chánh thất

Ngô Phúc Trạch
Con trai Hoành phố Hầu Ngô Hoành, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, dòng Ngô Nước Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô xã Thái Hà Vạn lộc Hà Tĩnh.

Ngô Phúc Trị
Toản võ Hầu,
Tiên tổ chi 9 họ Ngô Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, con trai Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, đời 28 dòng Ngô Nước. Là chi họ có Ngô Đức Kế, Ngô Đức Diễn.
Thị võ ở phủ, trúng cách ra làm Quản quân, dòng dõi Quân thần được phong tước Hầu,
làm Lực sĩ Ty lực sỹ Hiệu uý, sau được thăng Đô chỉ huy sứ ty Chỉ huy Đồng tri,
Thượng Trụ quốc,
sinh Dật võ Hầu Ngô Phúc Bình.

Ngô Phúc Triều
Khanh tương Hầu,
Con trai thứ mười Tào Quận côngNgô Phúc Vạn ở Trảo Nha, Trấn thủ đồn Bến Trọng (Đồng hới),vợ con ở lại đó không về, nay thành thuỷ tổ họ Ngô ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình,một chi ở Phổ Trạch,một dòng theo công giáo vào ở xã Đại Phong ,tức là dòng có Ngô Đình Diệm.Con trưởng ông Ngô Phúc Triều sau trở về Trảo Nha ,qua bốn đời độc đinh đến Ngô Viến đời thứ 34, sinh con trai vô tự.

Ngô Phúc Trinh
Con Hoành phố HầuNgô Phúc Hoành, xã Chi châu huyện Thạch Hà, dòng Ngô Nước họ Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô Cẩm Tiến huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh. Phân một chi ra Yên Hồ huyện Đức Thọ.

Ngô Phúc Trọng
Trọng võ Hầu,
Con trưởng Đại tư đồ Hòanh Quận côngNgô Phúc Phương, chi 5 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước, đỗ Tạo sỹ, làm Quân tả bộ hiệu thời Lê Trịnh. Sau ngày Lê Chiêu Thống chạy(1788), về ở Ninh Sơn, nay là xã Ninh hiệp huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, con cháu về quê Trảo Nha. Ông lấy con gái Trung Quốc công Vũ Tất rất giàu có. Nhà thơ Ngô Xuân Diệu là trưởng chi sau này.

Ngô Truân
Ông bố người họ Ngô xã Mông lãnh huyện Quế sơn, gốc Trảo Nha Hà Tĩnh.Nổi tiếng thần đồng từ nhỏ.
Ông sinh năm quý dậu 1873, thi đỗ Cử nhân năm giáp ngọ 1894,đỗ Phó bảng khoa mậu tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1898). Khoa thi này tỉnh Quảng Nam năm người trúng Đại khoa là Phạm Liệu, Phạm Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân, Dương hiến Tiên. Tổng đốc Quảng Nam thêu lá cờ có năm con chim phượng đón Tân khoa,đương thời gọi là “Ngũ phượng
tổ phi “.
Ông ra làm Tri huyện Hương Sơn, được vài năm bị bệnh từ trần.

Ngô Từ (1370-1453)
Diên ý Dụ vương,
Thái úy ,Thái bảo Chương khánh Công,
Con trưởng Hưng Quốc công Ngô Kinh, phong Bình Ngô Khai quốc Đệ nhất Công thần, Thái úy Bàng khê Hầu,thăng thụ Thái bảo Chương khánh Công, gia phong Bảo chính Công thần, Tả Kim ngô Vệ tướng quân, Chỉ nội Đại Hành khiển Thượng tướng quân, phụ quốc chính, gia Thượng Trí tự, ban thuỵ Bàng Khê Thượng sỹ, gia tặng Dụ vương. Triều Lê Thánh Tông gia tặng Diên ý Dụ vương. Qua các triều đại đều được phong Thượng đẳng Phúc thần.
Triều Gia Long nhà Nguyễn lựa chọn các công thần khai quốc triều Lê được 15 người, trong đó có Dụ Vương Ngô Từ, cho mỗi họ một người được miễn tất cả mọi sai dịch, lo việc phụng sự hương khói.
Ông sinh giờ dần ngày 2 tháng 2 năm canh tuất 1370,mất ngày 8 tháng 3 (nhuận) năm quý dậu 1453, mộ táng ở xứ Lò đó, làng Thung Thượng, gần mộ Tổ Ngô Rô.
Ông có hai bà:
Đinh Thị Ngọc Kế, sinh năm giáp thìn 1364,Kiêm bảo Từ cung Đại Hòang Kiền,hiệu Diệu Thiện phu nhân ,tặng Chính quốc phi Quốc Phu nhân,người xã Đô kha huyện An lão,em Đinh vĩnh Thái,con gái Đinh thế Biểu và bà Trần Thị Ngọc Huy con Trần Tướng công người xã Yên lão huyện Thư trì,mộ táng sau miếu làng Yên lão huyện Thư trì,do Vua Thánh Tông nhà Lê sai thầy chọn đất táng tại đó và lệnh cho dân địa phương phụ tử.
Đinh Thị Ngọc Son,phong Túc Huệ Chiêu cảm Hòang Kiền,hiệu Từ Nhan, Á Quận Phu nhân,con gái Tướng quân Đinh vĩnh Thái,người xã Đô kha huyện An lão.Bà mất ngày 18 tháng 8.Sau này Vua Lê Thánh Tông sai thầy địa lý chọn huyệt tốt táng tại xứ Bạch long sa xã Kỳ La huyện Kỳ Hoa,đền thờ gọi là Điện Hòang kiền.
Ông sinh 11 con trai và 8 con gái:
Ngô Việt Thái bảo Nghĩa Vương ,Chiêu nghĩa Hầu,
Ngô Lộc Mỹ Quận công,
Ngô Hồng Điện bàn Hầu,
Ngô Ký Thái uý Nghĩa Quận công,
Ngô Khế Thái úy Thanh Quốc công,
Ngô Lan Thái bảo Hán Quốc công,
Ngô Nạp Huệ Quốc công ,
Ngô Hộ Đức Quận công,
Ngô Lương Tả Kiểm điểm,
Ngô Hữu Tề Quận công ,
Ngô Nhạn Thái bảo Từ Quốc công,
Ngô Thị Ngọc Liêu Hoa dung Công chúa,lấy Lương Quận công Nguyễn Lương ,
Ngô Thị Ngọc Phúc Á Quận quân,lấy Trịnh Khả, Thái phó Đình thượng Hầu Liệt
Quốc công ,
Ngô Thị Ngọc Đức Á Quận quân,lấy Bùi Ban, Minh Quận công,
Ngô Thị Ngọc Thung Cung phi, vợ Lê Thái Tôn,
Ngô Thị Ngọc Dao Tiệp dư,vợ Lê Thái Tôn,mẹ Lê Thánh Tông,
phong Quang Thục Hòang Thái hậu ,
Ngô Thị Ngọc Lũy Á Quận quân,lấy Tuấn vũ Hầu Lê Ngọc Kiệt,
Ngô Thị Ngọc Vỹ Á Quận quân,lấy Bình giang Hầu Lê Trung,
Ngô Thị Ngọc Hạ Á Quận quân,lấy Lương Quốc công Lê Thụ.

Ngô Phúc Vạn (1577-1652)
Phó tướng,Thái bảo Tào Quận công,
Con Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, anh Vỵ Quận công.Ông có tên khác là Phúc Mại,tự Tử Hán, hiệu Huân Dương chân nhân,sinh giờ dần ngày 20 tháng 5 năm Đinh Sửu, mất 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn(1577-1652).
Là một danh tướng, một trọng thần thời Lê trung hưng, phía bắc dẹp Mạc bắt Mạc Kính Cung, phía nam chống Nguyễn,10 năm Trấn thủ trấn Nghệ An,quân Nguyễn không dám xâm phạm bờ cõi, năm con trai đều trọng trấn mỗi người một nơi. Được mở “Trung nhuệ Quân doanh”, tham gia Nghị sự đường, cuối đời được Chúa Trịnh Tráng uỷ thác cầm Kim sách lên Long trì nhận trăm quan lạy mừng.
Đền và mộ ở Thị trấn Can Lộc Hà Tĩnh, ngày nay đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.
Ông có bảy bà vợ, sinh 25 con trai gái .Chính thất là Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Uyên con gái Trịnh Tùng,em Thanh Đô Vương Trịnh Tráng.Mười con trai, năm người tước Quận công, ba người phong tước cùng một ngày là Ngô Phúc Đang,Ngô Phúc Hạp,Ngô Phúc Hộ (ngày 19 tháng 4 năm Vĩnh Trị thứ 3 -1678) và năm tước Hầu. 15 con gái có hai người vào cung làm vợ Chúa: Ngô Thị Ngọc Phương phong Khắc Noãn, Ngô Thị Ngọc Tôn phong Hoa Dung.
Mười con trai nay thành mười chi họ:
Ngô Phúc Thiêm Đô đốc Nhuận Quận công,chi trưởng;
Ngô Phúc Đang Thiếu Bảo Hàn Quận công;
Ngô Phúc Hạp Đô đốc Đằng Quận công;
Ngô Phúc Tân Đáng Quận công;
Ngô Phúc Hộ Đô đốc Phượng Quận công;
Ngô Phúc Điền Kiêm lộc Hầu;
Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu;
Ngô Phúc Phổ (Bạc)Vân lĩnh Hầu;
Ngô Phúc Trị Toản võ Hầu;
Ngô Phúc Triều Khanh tương Hầu.
Ngô Xương Văn (934-965)
Nam Tấn vương,
Con thứ hai Ngô Vương Quyền.
Năm 945 Dương Tam Kha dành ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập tiếm xưng Bình Vương, khi đó Ngô Xương Văn còn ít tuổi được Dương Tam Kha nhận làm con nuôi trong cung.
Năm 950 ,được Dương Tam Kha cử cùng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi dẫn quân đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở Thái Bình (Sơn Tây ngày nay), nửa đường quay binh về phế Tam Kha làm Trương dương Công, đón anh Xương Ngập về cùng coi việc nước, tôn anh làm Thiên Sách vương,tự mình làm Nam Tấn vương.
Năm 954, Ngô Xương Ngập từ trần,Nam Tấn vương cầm quyền chính.
Năm 965 đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở Thái Bình(thuộc Sơn Tây ngày nay),bị trúng tên độc từ trần.Ngô Xương Xý con trưởng Ngô Xương Ngập kế vị,bị sức ép của các tướng,thế yếu nên rút quân về Bình Kiều tự thủ,trở thành 1 trong 12 Sứ quân.
Ngô Xương Văn có hai bà:
Bà Dương Văn Nga là con gái Dương Tam Kha,cháu Dương Diên Nghệ,sau trở thành Hòang hậu nhà Đinh(vợ Đinh Tiên Hòang sinh Đinh Đế Tòan) và là Hòang hậu nhà Tiền Lê (vợ Lê Hòan), sinh Ngô Nhật Khánh.
Bà Lý Thị Ngọc Dư sinh Ngô Nhật Chung.
Nhật Chung trở thành Đại Điền chủ ở Đỗ động sinh Nhật Minh.
Nhật Khánh sau xưng là An Vương, trở thành một trong 12 Sứ quân.
HỌC VỊ-QUAN TƯỚC
Tổng hợp chung những người họ Ngô ở Việt Nam
(có gốc Trảo Nha)
(Tính đến trước năm 1945)
TƯỚC VƯƠNG

1 Tiền Ngô Vương 5 Ngô Vương Quyền
2 Thiên Sách Vương 6 Ngô Xương Ngập
3 Nam Tấn Vương 6 Ngô Xương Văn
4 Diên ý Dụ Vương 19 Ngô Từ Thái Úy, Chương khánh Công
5 Nghĩa Vương 20 Ngô Việt Thái Bảo,Chiêu nghĩa Hầu
6 Diễn Nghĩa Vương 21 Ngô Tông, Thái Bảo
7 Nhân Nghĩa Vương 21 Ngô Nhân Tổng Thái Bảo,Diễn Quốc công

QUỐC CÔNG

1 Dực Quốc công 21 Ngô Thế Bang Thái Bảo, Tả Đô đốc
2 Diễn Quốc công 21 Ngô Nhân Tổng Thái Bảo,Nhân nghĩa Vương
3 Hán Quốc công 20 Ngô Lan Thái Bảo, Đô Kiểm điểm
4 Hoa Quốc công 20 Ngô Ưng Chưởng Bắc phủ
5 Huệ Quốc công 20 Ngô Nạp Đô Chỉ huy sứ
6 Hưng Quốc công 18 Ngô Kinh Thái Phó
7 Nghị Quốc công 25 Ngô Nhân Trừng (Trầm) Hoàng giáp1580,Thái Úy
8 Sùng Quốc công 20 Ngô Xuyến Họ Ngọc Giả
9 Thanh Quốc công 20 Ngô Khế Thái Úy,Tư đồ,Thái Bảo
đốc
10Từ Quốc công 20 Ngô Nhạn Thái Bảo,Chưởng Bắc phủ
11Uy Quốc công Ngô Liễu Tả Hiệu điểm Dũng lược Hầu
12Vinh Quốc công 21 Ngô Lê Chính Thái Bảo / Họ Phạm Xá
13Vinh Quốc công 29 Ngô Đình Phúc Mậu nghĩa Hầu,
gia phong Thái tể Vinh Quốc công,
tái gia phong Mậu nghĩa Công
14 Việt Quốc công 09 Lý Thường Kiệt Thái Úy,Phụ quốc Thái Phó

TƯỚC CÔNG
Chương khánh Công 19 Ngô Từ Thái Úy
Diên mỹ Công 19 Ngô Đức Tả tướng quân
Mậu nghĩa Công 29 Ngô Đình Phúc Mậu nghĩa Hầu,gia phong Thái tể

QUẬN CÔNG
Cảnh Quận công 30 Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ
Chấn Quận công Ngô Văn Sở Đại tư mã
Diên Quận công 28 Con Vỵ Quận công
Diễn Quận công 21 Ngô Tông Thái Bảo
Đáng Quận công 28 Ngô Phúc Tân Khiêm cung Hầu
Đằng Quận công 28 Ngô Phúc Hạp Đô đốc,Chân kỳ Hầu
Đức Quận công 20 Ngô Hộ Đô đốc
Đức Quận công 20 Ngô Lương Chính thắng Hầu
Hàn Quận công 28 Ngô Phúc Đang Thiếu Bảo
Hạo Quận công 30 Con Vinh Quận công Đô Chỉ huy sứ
Hoành Quận công 32 Ngô Phúc Phương Đại tư đồ,Phương kỳ Hầu,
Tả Đô đốc
Khiêm Quận công 30 Ngô Phúc Lâm Tiến sĩ 1766, Thị lang ,Tham
chính
Lý Quận công 28 Con Vỵ Quận công Đề đốc
Mỹ Quận công 20 Ngô Lộc Tứ vệ Đô đốc,Nhập nội Kiểm
điểm.
Nam Quận công 21 Ngô Khắc Cung Thái Phó,Đông quân Đô đốc phủ
Chưởng Phủ sự
Nghi Quận công 20 Ngô Trầm (Con Ngô Khiêm)
Nghĩa Quận công 22 Ngô Công Tín Thái Bảo,Nghĩa Lộc Vương
Nhuận Quận công 28 Ngô Phúc Thiêm Đô đốc
Phổ Quận công 30 Con Vinh Quận công
Phượng Quận công 28 Ngô Phúc Hộ Đô đốc
Quận công 23 Ngô Phúc Thưởng
Tào Quận công 27 Ngô Phúc Vạn Tả Đô đốc, Trung quân Đô đốc
phủ Thiếu Phó,Phó tướng Thái
bảo,Tào khê Hầu
Tây Quận công 21 Ngô Công Tín
Tề Quận công 20 Ngô Hữu Tham đốc
Thân Quận công 21 Ngô Tây Đô Chỉ huy sứ,Đại Tướng quân
Thận Quận công 19 Ngô Khiêm
Thế Quận công 25 Ngô Cảnh Hựu (Phúc Trừng)Thái Bảo,Thái Phó
Thụy Quận công 21 Ngô Văn Bính Thái Bảo,Tả Đô đốc,Chưởng Phủ
sự
Tứ Quận công 26 Ngô Phúc Tịnh Thái Bảo,Tả Đô đốc
Vinh Quận công 29 Ngô Phúc Thụ
Vỵ Quận công 27 Em Tào Quận công

TƯỚC HẦU

Câu kê Hầu 26 Con Thế Quận công
Chân kỳ Hầu 28 Ngô Phúc Hạp Đằng Quận công
Chân lộc Hầu 29 Ngô Phúc Thuận Phó Trung úy
Chiêu nghĩa Hầu 20 Ngô Việt Thái Bảo,Phong tặng Nghĩa
Vương.
Chính thắng Hầu 20 Ngô Lương Đức Quận công
Dật trung Hầu 31 Ngô Phúc Trường
Dật võ Hầu 29 Ngô Phúc Bình
Dự võ Hầu 30 Con Trạc võ Hầu
Đàm dương Hầu 21 Ngô Tuyên Minh dực Tướng quân
Điện bàn Hầu 20 Ngô Hồng Đô đốc Thân quân,Hữu Hiệu điểm
Đôn mỹ Hầu 20 Ngô Lộc Tứ vệ Đô đốc, Mỹ Quận công
Hào mỹ Hầu 28 Ngô Phúc Liêu
Hoán trung Hầu 24 Ngô Đà Chánh Đội trưởng
Hoành phố Hầu 26 Ngô Phúc Hoành
Huân cơ Hầu 29 Ngô Phúc Huân
Khang trạch Hầu 26 Ngô Phúc Mai (Mai Trai)Đô Chỉ huy sứ
Khanh tương Hầu 28 Ngô Phúc Triều
Khiêm cung Hầu 28 Ngô Phúc Tân Đáng Quận công
Khóat võ Hầu 33 Ngô Phúc Giám
Kiêm lộc Hầu 28 Ngô Phúc Điền Cấm y vệ Thự vệ,Chánh Cai đội
Kiên thọ Hầu 27 Ngô Phúc Tiến Tả Thị lang Bộ lễ, Đô Ngự sử
Kiến tường Hầu 17 Ngô Tây Hổ bôn vệ Thượng Tướng quân
Lãng phương Hầu 31 Ngô Phúc Chánh Quả cảm Tướng quân,Chánh Vệ úy
Ngạn trung Hầu 33 Con Hoành Quận công
Nghĩa tường Hầu 21 Ngô Hóan Bảng nhãn,Tao đàn tướng
Lại bộ Thượng thư
Nhiệm phái Hầu 31 Con Phái trung Hầu
Nhuệ võ Hầu 30 Ngô Phúc Đẩu
Nhưỡng thọ Hầu 27 Ngô Bá Khánh
Phái trung Hầu 30 Con Thuyên phái Hầu
Phú vinh Hầu 30 Phan (Ngô) Chính Đức
Suyền cung Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tại bá Hầu 29 Con Diên Quận công Chánh Đội trưởng
Thanh vân Hầu 31 Con Long võ Hầu
Thu lĩnh Hầu 31 Ngô Cảnh Hoàn
Thuận lộc Hầu 29 Ngô Phúc Cẩm Tham đốc,Câm y vệ Đô Chỉ huy sứ
Thuận trung Hầu 23 Ngô Phúc Hà (tặng phong)
Thuần trung Hầu 33 Con Hoành Quận công
Thuật võ Hầu 29 Con Hàn Quận công
Thụy tường Hầu 17 Ngô Tây Tặng phong
Thuyên phái Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tín vũ Hầu 28 Con Vân lộc Hầu Chánh Đội trưởng
Tỏan võ Hầu 28 Ngô Phúc Trị Chỉ huy Đồng tri
Trà lĩnh Hầu 23 Ngô Đức Trung
Trạc võ Hầu 29 Ngô Phúc Kỳ Hữu Kiểm điểm
Trâm ngọc Hầu 32 Ngô Lượng Lang
Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm
Triều phương Hầu 23 Ngô Bình Đô đốc Đồng tri
Triều thiên Hầu 24 Ngô Phúc Thắng Tả Hiệu điểm
Trọng võ Hầu 33 Ngô Phúc Trọng
Trung dũng Hầu 09 Lý Thường Hiến (Ngô Chương)
Trung tráng Hầu 21 Ngô Thọ Pháp Thái Bảo
Suy trung Dực vận Tán trị Công thần
Tuấn đức Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tuấn võ Hầu 33 Con Ngô Phúc Phương
Tư lộc Hầu 30 Ngô Phúc Sùng
Úy vũ Hầu 23 Ngô Hoằng Nghị Đô chỉ huy Đồng tri,
Minh dực Tướng quân
Vân lĩnh Hầu 28 Ngô Phúc Phổ (Bạc)
Vân lộc Hầu 27 Con Khang trạch Hầu Đô Chỉ huy sứ
Vinh thái Hầu 28 Ngô Phúc Khê
Vĩnh Lộc Hầu 24 Ngô Phúc Thanh Thái Bảo,Trấn thủ Nghệ An
Vĩnh sơn Hầu 27 Ngô Vỵ (tự An Sơn) Tả Thị lang
Vỵ phái Hầu 29 Con Phượng Quận công

TƯỚC BÁ

Chuẩn tường Bá 28 Ngô Phương Viên
Diễn phái Bá 31 Con Phái trung Hầu
Diễn võ Bá 33 Ngô Phúc Diễn
Đoan thọ Bá Con Thanh vân Hầu
Khuông lễ Bá 31 Ngô Phúc Thiện
Kiều phong Bá Ngô Thanh Tu Hồng lô Tự Khanh
Phàn thọ Bá 30 Con Thuyên phái Hầu
Thước võ Bá 31 Ngô Phúc Thước Thiên kỵ Thị vệ

TƯỚC NAM

Kiên thọ Nam 27 Ngô Phúc Tiến Lễ bộ Tả Thị lang,Kiên thọ Hầu
QUAN TƯỚC

Hàm Chánh Nhất phẩm

Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Khế 20 Thanh Quốc công ,Thái Úy Tư đồ
2 Ngô Thế Bang 21 Dực Quốc công ,Thái Bảo

3 Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc,Thượng trụ quốc
4 Ngô Tẩy 21 Thân Quận công
5 Ngô Nguyễn(Nghiễm) Xuân lệnh Hầu,Tiến sĩ 1731, Thị lang
6 Ngô Văn Bính 21 Thụy Quận công,Tây Kinh Đô đốc Chưởng Phủ sự,
Thái Bảo
7 Ngô Phúc Thắng 24 Triều thiên Hầu,Tả Hiệu điểm
8 Ngô Phúc Tiến 27 Kiên thọ Hầu,Ngự sử Đài Đô Ngự sử,Lễ bộ Tả Thị lang
9 Ngô Phúc Thứ Lễ bộ Tả Thị lang, gia tặng Ngự sử đài Đô Ngự sử

Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công, Phụ quốc Công thần, Tây quân Đô đốc
phủ Tả Đô đốc ,Thiếu Bảo gia phong Thái Bảo Thượng
Trụ quốc Thượng Tướng quân, Bật nghĩa Doanh
Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Hiệp mưu Dương võ Công thần,Nam quân
Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thái Bảo,Thượng Trụ quốc.
Ngô Phúc Vạn: 27 Tào Quận công, Dương võ Uy dũng Công thần,
Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,
Trung nhuệ Quân doanh, Phó tướng Thiếu Úy
gia phong Thái Bảo Thượng Trụ quốc Vạn Quận công.
Ngô Phúc Thiêm 28 Nhuận Quận công, Tham đốc Thần vũ Tứ vệ, tặng Nam
quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiểm sự Thượng Trụ quố
Hạo Quận công 30 Thượng Trụ quốc,
Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,tước Hạo Quận công.

ThượngTrụ quốc
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1. Lý Thường Kiệt 9 Việt quốc công,Phụ quốc Thái Phó,Lâm Bình Tíet độ sứ,
Phụ quốc Thượng tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử Nghĩa đệ,Thái Úy đồng Trung thư môn hạ,
Đông Bình chương quân quốc trọng sự.
2. Ngô Khế 20 Thái Úy Thanh Quốc công
3. Ngô Thế Bang 21 Thái Bảo Dực Quốc công,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc
Đại phu,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc,Chưởng Phủ sự Phụ quốc,Đông Bình chương Quân quốc trọng sự
4. Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc
5. Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Phụ quốc Công thần,Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thiếu Bảo,gia phong Thái Bảo,
Thượng Tướng quân Bật Nghĩa doanh
6. Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Hiệp mưu Dương võ Công thần,Đặc tiến
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Nam quân Đô đốc phủ
Tả Đô đốc,Thái Bảo
7. Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Dương võ Uy dũng Công thần,Đặc tiến
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,Trung nhuệ Quân doanh,
Phó tướng Thiếu Úy gia phong Thái Bảo
8. Ngô Phúc Trị 28 Toản võ Hầu,Lực sĩ Ty Lực sĩ Hiệu úy,
Đô Chỉ huy sứ ty Chỉ huy Đồng tri
9. Ngô Phúc Thiêm 28 Nhuận Quận công,Đặ tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân
Tham đốc Thần vũ tứ vệ,tặng Nam quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiêm sự
10. Hạo Quận công 30 Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,
Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân,Cai cơ Đô Chỉ huy sứ,tước Hạo Quận công

Thái Sư
Ngô Chân Lưu 7 Khuông Việt Thái Sư,Tăng thống

Thái Úy
Lý Thường Kiệt 9 Việt Quốc công,
Phụ quốc Thái Phó Lâm Bình Tiết Độ sứ,
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử Nghĩa đệ, Đồng Trung thư môn hạ,
Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự,Thượng Trụ
quốc.
Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Diên ý Dụ Vương.
Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Tư đồ,Thái Bảo.
Ngô Ký 20 Nghĩa Quận công.

Thái Phó
Ngô Kinh 18 Hưng Quốc công.
Ngô Nhân Duyên 21 Đoan Quận công,Tây khê Hầu.
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc Chưởng Phủ sự.
Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Thái Bảo,Phó tướng.

Thái Bảo
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Thái Úy, Diên ý Dụ Vương .
2 Ngô Tuy Tiến sĩ 1499,Hàn lâm Viện Hiệu thảo.
3 Ngô Nhạn 20 Hán Quốc công.
5 Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Đức Quận công,Tư Đồ.
6 Ngô Phúc Thanh 24 Vĩnh lộc Hầu,Đô Tổng binh
7 Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Tây quân Tả Đô đốc,Thái Phó.
8 Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Tả Đô đốc.
9 Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Phó tướng,Tả Đô đốc Tào khê Hầu.
Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Lý Thường Kiệt 9 Thái Úy Việt Quốc công,Thượng Trụ quốc,
Phụ quốc Thái Phó, Lâm Bình Tiết Độ sứ
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử nghĩa đệ, Đồng Trung thư môn hạ .
Ngô Khế 20 Thái Úy Thanh Quốc công,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công
thần,ĐTKTVLĐP.
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn
Công thần,ĐTKTVLĐP.
Ngô Thế Bang 21 Dực Quốc công,Tả Đô đốc,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn
Công thần,Suy trung Tuyên lực Dực bảo Trung hưng
Công thần,ĐTKTVLĐP.

Tư Đồ
Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Thái Úy.

Chánh Nhị phẩm

Thiếu Phó

Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Thái Bảo,Phó tướng.

Thiếu Bảo
Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Thái Bảo, Tả Đô đốc.
Ngô Phúc Đang 28 Hàn Quận công.

Tùng Nhị phẩm

Thái tử Thiếu Bảo
Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Diên ý Dụ Vương.
Ngô Lan 20 Hán Quốc công,Thượng Tướng quân,Đô Kiểm điểm.

Tả Hữu Kiểm điểm/Tả Hữu Hiệu điểm

Ngô Phúc Thắng 24 Triều thiên Hầu
Tả hổ vệ
Ngô Lương 20 Tả Hiệu điểm

Tham đốc
Khang trạch Hầu 26 thụy Mai Trai,Phụ quốc Thượng Tướng quân,
Đô Chỉ huy sứ ty
Ngô Phúc Cẩm 29 Thuận lộc Hầu ,Cấm y vệ Đô Chỉ huy sứ ty,

Đô đốc phủ Chưởng Phủ sự
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Đông quân Đô đốc phủ,Thượng trụ
quốc
Ngô Văn Bính 21 Thụy Quận công,Tây Kinh,Phụ quốc Thượng Tướng
Quân

Đô đốc
Ngô Đam 19 Thượng Tướng quân
Ngô Phúc Vạn 27 Tả Đô đốc Trung nhuệ Quân doanh,Phó tướng
Chưởng phủ sự,Thái Bảo Tào Quận công

Chánh Tam phẩm

Đô Ngự sử
Ngô Phúc Tiến 27 Kiên thọ Hầu,Lễ bộ Tả Thị lang
Ngô Phúc Thứ Lễ bộ Tả Thị lang

Thị lang
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Ngô Vỵ tự An Sơn 27 Hiển cung Đại phu,Vĩnh sơn Hầu
Ngô Phúc Tiến Kiên thọ Hầu,Ngự sử Đài Đô Ngự sử
Ngô Phúc Lâm 30 Tiến sĩ 1766,Khiêm Quận công,Tham chính
Sơn Tây,Tham trấn Thuận Hóa
Ngô Phúc Thứ Ngự sử đài Đô Ngự sử

Tổng binh Đồng tri
Ngô Phúc Hải 22 Trấn thủ Thái Nguyên
Tùng Tứ phẩm

Tế tửu Quốc Tử Giám

Ngô Trí Hòa 27 1592 Thượng thư Bộ hộ,Tế tửu Quốc Tử Giám,
Phú Xuân Hầu,truy phong Xuân Quận
công
Ngô Hải 1664 Phó Đô Ngự sử,Tế tửu
Ngô Đức Bình 33 1865 Án sát Quảng Bình
Triều liệt Đại phu
Ngô Huyền Sơn 26 Thông chính sứ

Hàn lâm viện Thị giảng

Ngô Soa 37
Ngô Thuần Cẩm 29 (Thổ Quan) Kiệt trung hiệu lực Tướng quân
Thước võ Bá 31 (Thổ Quan)

Cấm y vệ Thự vệ
Ngô Phúc Điền 28 Kiêm lộc Hầu Chánh Cai đội

Chánh Lục phẩm

Quang Lộc tự Thiếu khanh
Ngô Phùng 32
Tùng Lục phẩm

Quả cảm Tướng quân
Ngô Phúc Chánh 31 Lãng phương Hầu,Chánh Vệ úy

Tao đàn Nhị thập Bát tú
(Tháng 11 năm 1495 niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông)

Lê Thánh Tông Tao đàn Nguyên soái

Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung (TS 1469) và Đỗ Nhuận (TS 1466): Phó Nguyên soái;
Đông các Hiệu thư Ngô Luân (TS 1475) và Ngô Hoán (BN 1490),
Hàn lâm viện Thị độc: Nguyễn Trùng Xác và Lưu Hưng Hiếu (BN 1481),
Hàn lâm viện Thị thư :Nguyễn Quang Bật (TN 1484), Nguyễn Đức Huấn (BN 1487), Vũ Dương (TN 1493) và Ngô Thầm (BN 1493);
Hàn lâm viện Thị chế: Ngô Văn Cảnh (HG 1481), Phạm Trí Khiêm (HG 1484), Lưu Thị Mậu (Lưu Thư Ngạn-TH 1490);
Hàn lâm viện Hiệu lý: Nguyễn Nhân Bị (TS 1481),Nguyễn Tôn Miệt (TS 1481), Ngô Quyền ( Ngô Hoan-HG 1487), Nguyễn Bảo Khuê (HG 1487), Bùi Phổ (HG 1487), Dương Trực Nguyên (HG 1490) và Chu Hãn(Nguyễn Hoản-HG 1493),
Hàn lâm viện Kiểm thảo:
Phạm Cẩn Trực (TS 1484), Nguyễn Ích Tốn (TS 1484), Đỗ Thuần Thứ (Đỗ Thuần Nhân TS 1472), Phạm Như Huệ, Lưu Dịch (TS 1490), Đàm Thận Huy (TS 1490), Phạm Đạo Phú (TS 1490) và Chu Huân(TS 1493)

Họ Ngô có: Đời Năm thi đỗ Tước vị
Ngô Luân 23 1475 Tiến sĩ,Lễ bộ Thượng thư,Đông các Hiệu thư
Ngô Văn Cảnh(Ngô Trầm) 21 1481 Hoàng giáp,Tham đốc,Hán lâm viện Thị thư
Ngô Hoan (Ngô Quyền) 21 1487 Hoàng giáp,Đô Ngự sử,Hán lâm viện Hiệu lý
Ngô Hóan 21 1490 Bảng nhãn,Lại bộ Thượng thư, Nghĩa tường Hầu,Đông các Hiệu thư
Ngô Thầm 23 1493 Bảng nhãn,Thái Bảo, Hàn lâm viện Thị thư
HỌC VỊ
Tổng số Tiến sĩ từ đời Lý, Trần, (đời Trần gọi Tiến sĩ là Thái Học Sinh), đến triều
Thành Thái nhà Nguyễn(từ 1075 đến 1919)khoảng:
3277 Bảng nhãn,Thám hoa,Hoàng giáp,Tiến sĩ ,
56 Trạng Nguyên
Lý 41
Trần 376
Hồ 45
Lê Sơ: 1008 26 khoa thi
Triều Mạc 490 22
Lê trung hưng 759 73
Nguyễn 558/263 Chánh bảng

Tổng số 3277

HỌ NGÔ:
Trạng Nguyên 1
Bảng Nhãn 4
Thám Hoa 4
Hoàng Giáp 26
Tiến Sĩ 84
= 119
Hệ thống bia Tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội:
Từ năm Đại Bảo 3,1442- đến năm Cảnh Hưng 40,1779: Tổng số 82 bia

Tổng số Họ Ngô
Đệ Nhất giáp:
Trạng nguyên,Bảng nhãn,Thám hoa 85 7
Đệ Nhị giáp: Chánh Tiến sĩ,tức Hoàng Giáp 283 20
Đệ Tam giáp: Đồng Tiến sĩ xuất thân 939 19
Cộng chung 1307 46

Họ Ngô Việt Nam
1.Trạng nguyên Đệ Nhất giáp Đệ Nhất danh
Ngô Miễn Thiệu 24 1518 Lễ bộ Thượng thư,Đô Ngự sử,
Trình khê Hầu,Lý khê Bá

2.Bảng nhãn Đệ Nhất giáp Đệ Nhị danh
1 Ngô Hóan 21 1490 Tao đàn tướng,Lại bộ Thượng thư
Nghĩa tường Hầu,Thượng đẳng thần
2 Ngô Thầm 23 1493 Thái Bảo, Tao đàn tướng
Hàn lâm Viện Thị thư
3 Ngô Nhân (Ngô Ứng) 21 Đốc dự Bá
4 Ngô Bảo Thái Họ Ngô Bách Tính

3.Thám hoa Đệ Nhất giáp Đệ Tam danh

1. Ngô Sơn Khoái (Ngô Khôi) 1532 Tả Thị lang Hình bộ
2.Ngô Khiêm 1562 Tả Thị lang
3.Ngô Khuê 1661 Hộ bộ Thị lang, Bồi tụng
4.Ngô Sách Tố (Ngô Sách Hân) 1721 Thiếu Bảo,Hộ bộ Thị lang,
Hàn lâm Viện Thị thư
4.Hoàng giáp Đệ Nhị giáp/Chánh Tiến sĩ
Tên họ Đời thứ Năm thi đỗ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Khắc 1239 Đệ Nhị Giáp khoa Thái học sinh
2 Ngô Tần 1247 Đỗ Giáp khoa
3 Ngô Sở Ngọc 1478
4 Ngô Văn Cảnh 21 1481 Tao đàn tướng,Tham đốc,Hiến sát sứ
5 Ngô Văn Phòng 1484 Tả Thị lang
6 Ngô Hoan 1487 Đô Ngự sử,Tao đàn tướng
7 Ngô Ngọc 22 1487 Đô Cấp sự trung
8 Ngô Đạt Nho 1490 Tham chính
9 Ngô Kính Thần 1493 Phó Đô Ngự sử
10 Ngô Thái Đoan 1493 Tự khanh,Đô Chỉ huy sứ
11 Ngô Văn Huy 1502
12 Ngô Nhân Hải 23 1508 Giám sát Ngự sử
13 Ngô Tòng Củ 1514 Lễ bộ Tả Thị lang
14 Nguyễn Chính Tuân 1514 Ngọc Quận công,Đoan sứ,Thượng thụ
15 Ngô Ước 22 1526 Hàn lâm Đại Học sĩ
16 Ngô Quang 1541 Hàn lâm Viện Kiểm thảo
17 Ngô Thái Cẩn 1550 Giám sát Ngự sử
18 Ngô Nhân Trừng 25 1580 Thái Úy,Nghị Quốc công,
Đốc đồng nam bắc 13 Đạo
19 Ngô Cung 1583 Đông các Đại Học sĩ
20 Ngô Trí Hòa 27 1592 Thượng thư Bộ hộ,Tế tửu Quốc Tử Giám,
Phú Xuân Hầu,truy phong Xuân Quận công
21 Ngô Vi Thực 1691 Lễ khoa Đô Cấp sự trung/Tả Thanh Oai
22 Ngô Thì Sỹ 32 1766 Đông các Hiệu thư,Tham chính
23 Ngô Điền 1841 Tri phủ
24 Ngô Chấn 1841 Tri phủ
25 Ngô Đức Bình 33 1865 Án sát Quảng Bình,Tế tửu Quốc Tử Giám
26 Ngô Quang Bích 29 1869 Án sát Sơn Tây,Tuần phủ Hưng Hóa
5.Tiến sĩ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân
Tên họ Đời thứ Năm thi đỗ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Thế Dụ 1442 Tả Thị lang Hộ bộ
2 Ngô Sĩ Liên 1442 Ngự sử, Hữu Thị lang,Triều liệt Đại phu ,QTG Tư nghiệp,Sử quán Tu sọan
3 Ngô Nhân Tuấn(Duệ) 1460 Thượng thư (Công,Hộ)
4 Ngô Lôi 1466 Tổng binh Thiểm sự
5 Ngô Anh (Gián) 23 1472 Đông các Đại Học sĩ
6 Ngô Luân 23 1475 Tao đàn tướng ,Lễ bộ Thượng thư
7 Ngô Trinh Chấp 1478 Tả Thị lang Công bộ
8 Ngô Kim Húc 1478 Đô Cấp sự trung
9 Ngô Khắc Tuấn 1481 Hiến sát sứ
10 Ngô Quyền 21 1487 Tao đàn tướng (Con Ngô Nhạn)
11 Ngô Tuy 1499 Thái Bảo,Hàn lâm hiệu thảo
12 Ngô Tháo 1505 Tham chính
13 Ngô Quang Tổ 1508 Hiến sát sứ
14 Ngô Văn Thông 1508 Thượng thư
15 Nguyễn Xuân 1508 Họ Ngô Lâm Thao,đổi họ Nguyễn
16 Ngô Đình Thực 1511 Hàn lâm viện Kiểm thảo,Thị lang
17 Ngô Sĩ Kiện 1511 Hiến sát sứ
18 Ngô Mậu Đôn 1523 Thượng thư
19 Ngô Hoành 1526 Hiến sát sứ
20 Ngô Úc 1532 Đề hình Giám sát Ngự sử
21 Ngô Phúc Tinh 1535 Thừa Chính sứ
22 Ngô Trang 1538 Thị lang,Thụy xuyên Bá
23 Ngô Tĩnh 1544 Tham Chính,Nho lâm Nam
24 Ngô Khắc Khoan 1547 Hiến sát sứ,Tổng binh Thiêm sự
25 Ngô Thuật Khổng 1547 Hiến sát sứ
26 Ngô Bật Lãng 22 1550 Thống lĩnh Hữu Đề đốc,Tả Thị langlại ,tặng Binh bộ Thượng thư,
27 Ngô Diễn 25 1550 Lễ bộThượng thư,Hàn lâm Viện Thị giảng Gia hành Đại phu,Nhân sơn Bá,KTVLĐP
28 Ngô Chấp Trung 1553 Hiến sát sứ
29 Ngô Uông 1553 Binh khoa Đô Cấp sự trung
30 Ngô Đức Cơ 1553 Thượng thư,Thừa chính sứ
31 Ngô Dịch (Trạch) 25 1556 Thượng thư,Lễ bộ Tả Thị lang
ĐTKTVLĐP,Lĩnh hải Nam
32 Ngô Khánh Nùng 1556 Đô Ngự sử
33 Ngô Gia Mưu 25 1559 Tham chính
34 Ngô Mậu Du 1565 Giám sát Ngự sử
35 Ngô Tháo 1571 Tả Thị lang
36 Ngô Vỹ 1571 Đạt lê Hầu,Tả Thị lang
37 Ngô Trí Tri 26 1592 Hiến sát sứ,Khánh diễn Bá
38 Ngô Nhân Triệt 26 1607 Thái Bảo,Lễ phái Bá,Thái thường tự Khanh
39 Ngô Triệt 1637 Tả Thị lang,Thượng thư,Quận công
40 Ngô Văn Chính 1637 Phủ dõan Phủ Phụng Thiên
41 Ngô Nhân Tuấn (Duệ) 27 1640 Tả Thị lang Bộ lễ,tặng Thượng thư Hộ bộ, Phong Lộc Hầu
42 Ngô Sĩ Vinh 28 1646 Lý hải Hầu,Công bộ Hữu Thị lang
43 Ngô Sách Thúy 1657
44 Ngô Sách Thí 1659
45 Ngô Sách Dụ 1664 Thiếu dõan Phủ Phụng Thiên
46 Ngô Hải 1664 Phó Đô Ngự sử,Tế tửu
47 Ngô Cầu 1670 Tham chính
48 Ngô Sách Tuân 1676 Lại bộ Hữu Thị lang
49 Ngô Tuấn Dị 28 1688 Hàn lâm Viện Hiệu thảo,Thị lang
50 Ngô Công Trạc 30 1694 Hiến sát sứ
51 Ngô Vi Nho 1694 Giám sát Ngự sử/Tả Thanh Oai
52 Ngô Đình Thạc(Oanh) 29 1700 Thiếu Bảo,Công bộ Thượng thư,Tham tụng,Huy Quận công
53 Ngô Hưng Giáo 30 1710
54 Ngô Nhân Hân 1715 Đô Cấp sự trung
55 Ngô Đình Chất(Oánh) 29 1721 Binh bộ Thương thư,Xuyên Quận công
56 Ngô Nguyễn (Nghiễm) 1731 Xuân lệnh Hầu,Thị lang
57 Ngô Trần Thực 29 1760 Đông các Đại học sĩ,Thiêm Đô Ngự sử
58 Ngô Phúc Lâm 30 1766 Khiêm Quận công
59 Ngô Duy Viên 1769 Giám sát Ngự sử / Bồi tụng,Thị lang,Cảo
phong Bá Họ La Khê
60 Ngô Duy Trưng 1775 Thiêm Đô Ngự sử/ /Họ La Khê
61 Ngô Thì Nhậm 33 1775 Thượng thư,Phương Quận công
62 Ngô Thế Trị (Dụng) 1775 Hàn lâm Viện Thị chế
63 Ngô Tiêm 1779 Nghĩa phái Hầu,Mỹ phái Hầu,Đốc trấn Lạng Sơn,Thái Hòa điện Học sĩ
64 Ngô Nho 1785 Đô Cấp sự trung ,Hàn lâm Viện Hiệu thảo
65 Ngô Thế Vinh 29 1829 Họ Bái Dương
66 Ngô Đình Điền 1841
67 Ngô Khắc Kiệm 1842 Án sát
68 Ngô Tòng Nho 1849 Thị giảng Học sĩ
69 Ngô Văn Độ 1856 Quang Lộc tự Khanh
70 Ngô Đức Kế 34 1901 Việt Nam Chí sĩ
71 Ngô Bích Giang 1903
72 Ngô Tòan Thượng thư Theo gia phả Tôc họ
73 Ngô Bửu Tế trị Hầu Ghi trong Bảng liệt kê Danh nhân
74 Ngô Chân Đại Học sĩ –nt-
75 Ngô Cửu Lễ bộ Thượng thư –nt-
76 Ngô Diệu Hiến sứ –nt-
77 Ngô Được Hiến sát sứ –nt-
78 Ngô Kiến Văn thành Bá –nt-
79 Ngô Lân Đại tư Đồ –nt-
80 Ngô Nghiêm Đại Học sĩ –nt-
81 Ngô Cách Thành Quận công –nt-
82 Ngô Thức Tấn Quốc công –nt-
83 Ngô Thiện Thái Sư –nt-
84 Ngô Viêm Đôn hậu Bá –nt-

6.GIẢI NGUYÊN (con số chưa đầy đủ)
1 Ngô Hiệu 24 Ngô Thì Tả Thanh Oai
2Ngô Tùng Hiên 29
3 Ngô Phúc Tòan 25 Dòng Ngô Sử Hậu
4 Ngô Tuấn Lương 28 Ngô Thì Tả Thanh Oai
5 Ngô Tưởng Đạo 32 (31) Dòng Ngô Sử Hậu
6 Ngô Duệ Họ La Khê/Đô Cấp sự trung

7.Giám sinh(con số chưa đầy đủ)
1 Ngô Thời Bá
2 Ngô Văn Cẩm Lương Tài Hầu, Tham đốc,
3 Ngô Trí Cẩn Tham chính sứ (Hàm Tùng Tứ phẩm),
4 Ngô Chấp Thiệu thắng Hầu
5 Ngô Phúc Chung (Phúc Trung)Đồng Dương Hầu,
5 Ngô Thông Chương làm Tri phủ,người họ Bái Dương
6 Ngô Thì Diễn con Ngô Thì Nhậm.
7 Ngô Nhân Do Thiếu khanh Giảng dụ,
8 Ngô Minh Dõan (Thất truyền) Họ Ngô Vi Tả Thanh Oai
9 Ngô Bao Dung làm ở Quốc Tử Giám
10Ngô Đại Trung Quốc Hầu.
11Ngô Đức Phú Vinh Hầu
12Ngô Hạo Họ Ngô Vân Động
13Ngô Hoành Tham đốc(?)
14Ngô Gia Hội Họ Ngô Cự Thôn Hà Trung
15Ngô Trí Kính Họ Ngô Vy Tả Thanh Oai, Hải Dương Đạo Hành quân Thư ký
16Ngô Khuông Đại tư đồ
17Phan Hữu Lập Thao Vũ Hầu
18Ngô Luông Chính thắng Hầu.
19Ngô Trực Lượng (Thất truyền Họ Ngô Vi Tả Thanh Oai
20Ngô Vi Mạch Tự Đạo Diễn,hiệu Thông Hiếu,
21Ngô Mưu Trung nghĩa Hầu ( ? )
22Ngô Thế Nghiêm huý Đỉnh, tự Bột Chính,Giám sinh 1689
23Ngô Phục Trung ái Hầu,
24Ngô Phúc Quảng Họ Ngô Vy Tả Thanh Oai
25Ngô Xuân Thành Đàm Quận công, Thủy Tổ họ Ngô Cự Thôn
26Ngô Thọ Tham Đốc (?)
27Phan Phúc Thọ Cương dũng Hầu
28Ngô Thế Thuộc Huấn Đạo,
29Ngô Thượng Tấn Quận công (?)
30Ngô Tiêu Sùng Đạo Bá (?)
31Ngô Lý Tính Thừa điện Nha doanh
32Ngô Tòng Thuần tín Hầu
33Ngô Lạc Trai
34Ngô Trạc tự Liên Bạt,đỗ Hương cống,Hoành từ,
35Ngô Nhã Trực hai lần Giám sinh, Tri huyện Kim Bảng,họ Nguyễn Ngô Trình Phố
36Ngô Tu Trung dũng Bá ( ? )
37Ngô Đình Tú Đô Hiệu điểm Bình Giang Hầu, Ninh Quận Công,
38Ngô Nhân Tùng (Ngô Văn Tổng), dòng Ngô Nguyên.
39Ngô Nguyên Vinh Ấm sinh, người xã Mỹ tục.
CHÂN DUNG TÁC GIẢ
Sinh tháng 1 năm 1912,tại xã Trảo Nha huyện Can Lộc,nay là xóm Nam Sơn,thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.Cháu nội Hoàng Giáp Tế Tửu Quốc Tử Giám,Án sát Quảng Bình Ngô Đức Bình.
Lúc trẻ học trường Trung học Vinh,tham gia các cuộc vận động chống Pháp,năm 1927 bị đuổi học.
Năm 1930 tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh,là thanh niên Cộng sản,cuối 1930 bị bắt giam tại nhà lao Hà Tĩnh.Năm 1931 được trả tự do,bị quản thúc tại nhà.
Cuối 1944 tham gia phong trào Việt Minh tại Can Lộc Hà Tĩnh,chủ trì việc cứu tế nạn đói đầu 1945 ở huyện Can Lộc Hà Tĩnh.Thường trực Việt Minh huyện Can Lộc.Tháng 8 -1945 được cử làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Can Lộc.Tham gia Ủy viên Ủy ban Lâm thời huyện Can Lộc.
Được điều vào tham gia Giải phóng quân Trung đoàn Phan Đình Phùng .
Trải qua các đơn vị:Trung đoàn 103,Sư đoàn 304,Bộ Tổng Tham mưu.
Tham dự các trận và các Chiến dịch:Chiến dịch Mộ Dạ 1947, Chiến dịch Nape (Chỉ huy trưởng),Chiến dịch Hoàng Hoa Thám,Chiến dịch Quang Trung,Chiến dịch Trần Hưng Đạo,Chiến dịch Hà Nam Ninh,Chiến dịch Điện Biên Phủ, và Giải phóng tiếp quản Hà Nội 1955.
1955-1960 công tác tại Bộ Tổng Tham mưu.
Từ 1961 là Cục phó và sau đó là Quyền Cục trưởng Cục quy hoạch Bộ nông trường,
Nghỉ hưu tháng 9 năm 1970.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ,cán bộ Cách mạng Tiền khỡi nghĩa.
Huân chương Kháng chiến hạng 3,
Huân chương Chiến thắng hạng 2,
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 3,
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Bà Lê Thị Tam(còn gọi là Lê Thị Liệu),sinh năm 1911,mất ngày 02 tháng 9 năm 1966 tức ngày 18 tháng 7 năm Bính Ngọ,con gái đầu Hồng Lô tự Thiếu Khanh Lê Hữu Duy,Quan Ngự y thuộc triều đình nhà Nguyễn,người xã Đồng Bàn huyện Thạch Hà,nay là xã Thạch Liên huyện Thạch Hà ,Hà Tĩnh.
Sinh Ngô Thị Liệu,Ngô Đức Bằng, Ngô Song Bổng (1936-1992),Ngô Đức Uy(mất sớm), Ngô Đức Hàm, Ngô Đức Lợi.
Mất hồi 7 giờ 15 phút ngày 2 tháng 5 năm 1998,tức ngày Bảy tháng Tư năm Mậu Dần tại Hà Nội,hưởng thọ 87 tuổi.
Mộ táng tại nghĩa trang xóm Nam Sơn thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Hà Nội,ngày mồng Bảy tháng Tư năm Mậu Tý 2008

Biên tập,sửa chữa,bổ sung và hiệu đính cho lần in thứ 6

Thứ nam NGÔ ĐỨC LỢI

Đăng bởi: nghienson | Tháng Mười Hai 16, 2019

VỀ GIA PHẢ HỌ NGÔ VIỆT NAM(Tiếp theo)

VỀ GIA PHẢ HỌ NGÔ VIỆT NAM(Tiếp theo)
PHẦN X.
HỆ PHẢ HỌ NGÔ VIỆT NAM
Từ cuối thế kỷ thứ VIII đến cuối thế kỷ thứ XX
(Viết theo tư liệu đã sưu tầm nên chưa được đầy đủ)

I.Tổng đồ thế thứ từ đời 1 đến đời 24 (thế kỷ VIII đến thế kỷ XVII)
Thế thứ Huý Tự Hiệu Chức vị Con ai

1 Ngô Nhật Đại Quán ở Ái Châu (Thanh Hóa) Triệu tổ họ Ngô

2 Ngô Nhật Dụ Liêu tá thời Đường Ngô Nhật Đại

3 Ngô Đình Thực Hào trưởng Nối dòng Nhật Dụ

4 Ngô Đình Mân Phong Châu Mục Ngô Đình Thực

5 Ngô Quyền (897-944) Tiền Ngô Vương Ngô Đình Mân
Dương Thị Như Ngọc Vợ Ngô Vương Quyền Dương Diên Nghệ
Dương Phương Lan nt-

Ngô Tịnh Trấn thủ Kỳ Hoa Ngô Đình Mân

6 Ngô Xương Ngập Thiên Sách Vương Ngô Quyền
Ngô Xương Văn Nam Tấn Vương nt
Nam Hưng (thất truyền) nt
Càn Hưng (thất truyền) nt
Phạm Thị Uy Duyên Vợ Ngô Xương Ngập Phạm Tướng công
Dương Văn Nga Vợ Ngô Xương Văn Dương Tam Kha
Lý Thị Ngọc Dư nt

Ngô Tiến Quản Thiên Tích tự Ngô Tịnh
Ngô Hoán Hào trưởng Kỳ Hoa nt (Cả năm
Ngô Vi Hoan Châu Mục nt người đều
Ngô Ngân Quản Nhu Hành tự nt thất
Ngô Mục Ái Châu Mục nt, truyền)

7 Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều Ngô Xương Ngập
Ngô Xương Tỷ Tức Ngô Chân Lưu nt
Khuông Việt Thái sư
Ngô Nhật Khánh Sứ quân Đường Lâm Ngô Xương Văn và
Dương Văn Nga
Phất Kim Công chúa Vợ Ngô Nhật Khánh Đinh Bộ Lĩnh
Ngô Nhật Chung Đại Điền chủ Đỗ Động Ngô Xương Văn

8 Ngô Xương Sắc Ngô Xương Xý
Ngô Ích Vệ (An Ngữ) Sùng ban Lang tướng nt
Ngô Nhật Minh (thất truyền) Ngô Nhật Chung

9 Ngô Tử Canh Đại thần Tiền Lê(t.t.) Ngô Xương Sắc
Ngô Tử Án Đại thần Châu mục nt

Ngô Tuấn Lý Thường Kiệt Ngô An Ngữ
Ngô Chương Lý Thường Hiến nt

10 Ngô Tử Uy Châu mục Ngô Tử Án

Ngô Khảo Tích Trấn thủ Ái Châu Ngô Chương
Ngô Thị Mỹ Lương nt
Ngô Thị Duyên Lương nt

11 Ngô Tử Vĩnh Châu mục Ngô Tử Uy
Ngô Tịnh Quốc sư Tăng thống Ngô Khảo Tích

12 Ngô Đắc Dụng Ngô Tử Vĩnh
Ngô Thực Đại Ngô Tịnh

13 Ngô Đấu Lăng Đại lão Hương quan Ngô Đắc Dụng
Ngô Giáo Phủ mục Diễn Châu Ngô Thực Đại

14 Ngô Hữu Liêu Đại lão Hương quan Ngô Đấu Lăng
Nguyễn Thị An Vợ Ngô Hữu Liêu

Minh Đức Quản Trấn Quốc tự Ngô Giáo
Lý Thị Cao Vợ Minh Đức
Minh Hiếu nt
Lý Thị Phùng Giao Vợ Minh Hiếu
Minh Nghĩa nt
Trần Thị Ứng Nguyệt Vợ Minh Nghĩa

15 Ngô Ma Lư Đại lão Hương quan Ngô Hữu Liêu
Nguyễn Thị Đào Vợ Ngô Ma Lư
Ngô Phúc (thất truyền) Minh Đức
Ngô Hậu nt nt
Ngô Sinh nt nt
Ngô Thị Ngọc Giao nt nt
Ngô Thị Ngọc Dung nt nt

Ngô Tự Viện Quản Nho giáo học đường Minh Hiếu
ở Phả Lại (Thất truyền)
Ngô Tự Lạc Lão tử tướng quân nt
(Thất truyền)

Ngô Bệ (…..1360) Lãnh đạo khởi nghĩa Yên Phụ Minh Nghĩa
Ngô Giám công Dạy học ở Đổ Động,(thất truyền) nt
Ngô Diệu Tế (thất truyền) nt

16 Ngô Rô Đại lão Hương quan Ngô Ma Lư
Trần Thị NgọcHưu (Thể) Chánh Quận chúa,vợ Ngô Rô

Ngô Liễn Thủy Tổ họ Ngô Lạc Nghiệp Bà Nồm (Ngô Bệ)

17 Ngô Tây Kiên tường Hầu Ngô Rô
Trịnh Thị Kim Á Quận chúa, vợ Ngô Tây

18 Ngô Quỳnh Họ Minh Lãng Thái Bình Ngô Tây
Ngô Kinh(1350-1437) Thái Phó,Hưng Quốc công nt
Đinh Thị Quỳnh Khôi Tây Quận Phu Nhân,vợ Ngô Kinh

19 Ngô Từ (1370-1453) Chương khánh Công Ngô Kinh
Thái Úy,Diên ý Dụ vương
Đinh Thị Ngọc Kế Vợ cả Ngô Từ Đinh Lễ
Đinh Thị Ngọc Son Vợ thứ Ngô Từ Đinh Vĩnh Thái

Ngô Đức Diên mỹ Công (t.t.) Ngô Kinh
Ngô Khiêm Thận Quận công nt
Lê Thị Ngọc Đài Công chúa,vợ Ngô Khiêm
Ngô Đam Đô đốc Ngô Kinh
Lê Thị Ngọc Thung Công chúa,vợ Ngô Đam
Ngô Thị Ngọc San Lấy Lương Quận công Ngô Kinh
Nguyễn Tín (làng Xổm)

20 Ngô Việt Chiêu nghĩa Hầu (vô tự) Ngô Từ
Thái Bảo,Nghĩa vương
Ngô Lộc Mỹ Quận công nt
Ngô Hồng Điện Bàn Hầu nt
Ngô Ký Thiếu Úy,Nghĩa Quận công(t.t.) nt
Ngô Khế Thanh Quốc công nt
Vũ Thị Ngọc Hoàn Ôn Thục Quốc Phu Nhân
Vợ Ngô Khế
Ngô Lan Hán Quốc công nt
Đào Thị Ngọc Trật Vợ Ngô Lan
Ngô Nạp Huệ Quốc công nt
Ngô Hộ Đức Quận công nt
Ngô Lương Chính thắng Hầu,Tả hổ vệ nt
Ngô Hữu Tề Quận công nt
Ngô Nhạn Thái Bảo,Từ Quốc công nt
Ngô Thị Ngọc Liêu Lấy Nguyễn Lương nt
(Hoa Dung Công chúa) (Lương Quận công)
Ngô Thị Ngọc Phúc Lấy Trịnh Khả nt
( Thái Phó Đình thượng Hầu))
Ngô Thị Ngọc Đức Lấy Bùi Ban nt
(Tự Ngọc Phương ) (Minh Quận công)

Ngô Thị Ngọc Luỹ Lấy Lê ngọc Kiệt nt
(Binh bộ Thượng thư Tuấn vũ Hầu)
Ngô Thị Ngọc Thung Cung phi,vợ Lê Thái Tông nt
Ngô Thị Ngọc Dao Quang thục Hoàng Thái hậu nt
(Vợ Lê Thái Tông)
Ngô Thị Ngọc Vỹ Lấy Bình Giang Hầu Lê Trung(Tung) nt
Ngô Thị Ngọc Hạ Lấy Lương Quốc công Lê Thụ nt

20 Ngô Trầm Nghi Quận công Ngô Khiêm
Ngô Ưng Hoa Quốc công Chưởng Bắc phủ nt
Trịnh Thị Ngọc Hoa Á Quận quân,vợ Ngô Ưng
Ngô Xuyến Sùng Quốc công Ngô Đam

21 Ngô Bá Dị (Hải Sơn) Họ Tam Sơn Đông Ngàn Ngô Khế
Ngô Sử Toàn (Nguyên) Họ Vọng Nguyệt nt
Ngô Phúc Cơ (Sử Hậu) Họ Tả Thanh Oai (Ngô Thì) nt
Ngô Công Tín Tây Quận công nt
Họ Bách Tính Nam Chân
Ngô Ngữ Họ Địch Lễ Nam Vân nt
Ngô Nước(Lợi) Họ Trảo Nha Thạch Hà nt
Ngô Khắc Cung(1452-1541)Thái Phó Nam Quận công nt
Lê Thị Ngọc Phiến Công chúa,vợ Ngô Khắc Cung
Ngô Văn Bính Thuỵ Quận công nt
Ngô Thế Bang Thái Bảo Dực Quận công nt
Ngô Thế Thái (Hữu Phái) Quận công,họ An Mô nt
Ngô Ngọc Phác Họ La Phù Từ Liêm nt
(tức Hoa Phúc Quảng)
Ngô Chi Lan Kim Hoa Nữ sỹ nt

Ngô Tuyên Đàm dương Hầu Ngô Lộc
Ngô Điện Nghĩa Quận công Ngô Hồng

Ngô Chính (Lê) Hùng Quận công(t.t.) Ngô Lan
Ngô Tông Thái Bảo,Diễn nghĩa Vương nt
Ngô Lê Chính Vinh Quốc công Họ Phạm Xá
Ngô Nhân Tổng Thái BảoDiễnQuốc công (Vô tự) Ngô Nạp
Ngô Nhân Duyên Thái Phó Đoan Quận công nt
Ngô Nhân Thuận Quận công,thất truyền nt
Ngô Nhân Duy Quận công,thất truyền nt
Ngô Nhân Tuy thất truyền nt
Ngô Nhân Thiệu vô tự nt
Ngô Nhân Uẩn vô tự nt

Ngô Hoán Bảng nhãn 1490 Ngô Hộ
Tao đàn tướng Nghĩa tường Hầu
Ngô Quyền Tiến sĩ 1487,Tao đàn tướng Ngô Nhạn
Ngô Trương Tả Hiệu điểm Ngô Lương
Ngô Trầm(Cảnh) Tiến sĩ 1481,Tao đàn tướng Ngô Hữu
Ngô Tây Thân Quận công,họ Quảng Thi Ngô Trầm
Ngô Thanh Thịnh Quận công (vô tự) nt

Ngô Nhân (Ứng) Đốc dự Bá,Bảng nhãn Ngô Ưng

Ngô Chung(Phúc Trung) Đồng Dương Hầu Ngô Xuyến
Ngô Thị Ngọc Linh Bảo hoa Công chúa nt
Ngô Thọ Pháp Thái Bảo Trung tráng Hầu

22 Ngô Quân Trung trinh Đại phu,đi nơi khác Ngô Tuyên
(Không liên lạc được)
Ngô Ngụ Không liên lạc được nt
Ngô Mật Không liên lạc được nt

Ngô Lưu Thái Bảo Tá Quận công Ngô Điện
Họ Bình Ngô

Ngô Chanh Thắng Quận công Ngô Trương
Về xã Kênh Đào Chương Đức
Ngô Đống Họ Nghĩa Trai huyện Nông Cống nt

Ngô Quân Hiên Chỉ huy Đồng tri,Thái Bảo Ngô Hải Sơn

Ngô Ngọc (1454-1523) Hoàng giáp 1487 Ngô Nguyên
Ngô Định Tiến sĩ 1508,Họ Lý Trai nt

Ngô Mỹ Đức Ngô Phúc Cơ
Ngô Viết Lễ Trung lộc Hầu,họ Bách Tính Ngô Công Tín
Ngô Công Vạn Thái Bình,họ Quỹ Đê nt

Ngô Phúc Thanh Ngô Ngữ
Ngô Phúc Hải Tổng binh Đồng tri Ngô Nước
Ngô Văn Diệp Tham đốc Triều an Hầu Ngô Khắc Cung

Ngô Chiểu Diễn đức Hầu Ngô Văn Bính
Ngô Thái An đức Hầu nt
Ngô Khê Thanh Quận công nt
Ngô Hoán Vĩnh trung Hầu nt
Ngô Bật Lạng(Lãng) Tiến sĩ 1550 nt
Họ Bái Dương
Ngô Lãng Cường Quận công nt
Ngô Bạt(Bản) Vũ Quận côngThái tử Thái Bảo Ngô Thế Bang
Ngô Tùng Thắng Quận công nt
Ngô Chi (Bình) Thái Bảo Lương Quận công nt

Ngô Văn Bài Họ An tôn,Triệu Thượng Ngô Hữu Phái
Ngô Văn Sỹ Họ Long An,Tân Long nt

Hoa Phúc Trình Ngô Ngọc Phác

Ngô Ước Bảng nhãn 1526,Đại Học sĩ
Họ Tân Minh Thượng Phúc Ngô Hoàn
Ngô Hoành nt nt

Ngô Tín Thái Bảo Nghĩa Lộc vương Ngô Tông

Ngô NhânTông Thái PhóThiết nham Hầu Ngô Nhân Duyên
Ngô Nhân Dũng Thái Úy Trường Quốc công nt
Ngô Thuần Trung Vạn Quốc công nt

Ngô Hoà Tùng giang Hầu Ngô Nhân(Ứng)
Ngô Chẩn An mỹ Hầu Ngô Tẩy
Ngô Trực Tính Mậu an Công Ngô PhúcTrung
Ngô Tùng Thắng Quận công
Ngô Đăng Thực Thái Bảo,Trụ Quận công
Ngô Thọ Kinh Thái Bảo Đình thượng Hầu
Ngô Văn Diệp Triều an Hầu Tham đốc

23 Ngô Viết Dũng Vũ thắng Hầu Đô Chỉ huy sứ Ngô Viết Lễ
Ngô Viết Lượng Vân Quận công
Thủy quân Tả Đô đốc,họ Bái Dương nt
Phạm Tử Đô Họ Quỹ Đê Ngô Công Vạn

Ngô Lãn Nhân Mậu lâm lang Ngô Ngọc
Ngô Nhân Hải Hoàng giáp1508 nt
Ngô Nhân Tùng Khởi nghĩa Yên Phú nt

Ngô Quang Tâm Ngô Định
Ngô Hoằng Nghị Uy vũ Hầu Ngô Mỹ Đức
Ngô Luân Tiến sĩ 1475,Thượng thư Ngô Quân Hiên
Tao đàn tướng
Ngô Thầm Bảng nhãn 1493,Thái Bảo nt
Tao đàn tướng
Ngô Phúc Hà Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hải
Ngô Đình Tú Ninh Quận công Ngô Văn Diệp
Ngô Hoà Cương Quận công Ngô Thái

Ngô Thông Đạt Tri phủ Ngô Bật Lạng
Ngô Hiển Đạo nt

Ngô Hiên Ngô Bạt
Ngô Khiêm nt
Ngô Gián(Anh) Tiến sĩ 1472,Đông các nt
Đại Học sĩ
Hoa Phúc Thanh tức Ngô Văn Dần Hoa Phúc Trình

Ngô Đức Trung Trà lĩnh Hầu Ngô Nhân Dũng
Ngô Phúc Thưởng Quận công nt
Ngô Pháp Chính Văn duệ Hầu nt
Ngô Phúc Viết Con cháu đổi họ Phan nt
Ngô Phúc Yên nt

Ngô Chân Tâm Ngô Thuần Trung
Ngô Chân Đạo nt

Ngô Bá Liễu(Lữ) Hiển hoa Bá,tự Phúc Đường Ngô Trực Tính
Ngô Bá Phúc Kiệt trung Trì uy Tướng quân nt
Tự Phúc xá
Ngô Bá Huy Kỳ vũ Hầu nt

Ngô Nhuận Hải nhuận Bá Ngô Hòa
Ngô Vạn Thái Bảo Vệ Quốc công Ngô Tín
Ngô Thị Ngọc Lâm Thái phi,Vợ Trịnh Tùng nt
Ngô Phúc Thuận Ngô Phúc Thanh
Ngô Sỹ Tụy Cường Quận công,Đề đốc Ngô Chiểu
Ngô Tài Đô triều Hầu nt
Ngô Thái Thụy nghiã Hầu nt
Ngô Phúc Hà Thuận trung Hầu Ngô Phúc Hải
Ngô Hoằng Nghị Úy vũ Hầu

24 Ngô Vịnh Ngô Nhuận
Ngô Tính nt
Ngô Thiết nt
Ngô Miên Văn xuyên Bá Con cháu Ngô Lưu
Ngô Viết Chính Ngô Viết Dũng

Phạm Hữu Số Phạm Tử Đô
Phạm Hữu Điều nt
Phạm Hữu Tư nt

Ngô Công Sư Ngô Phúc Thuận

Ngô Văn Chính Ngô Lãn Nhân
Ngô Văn Xuân nt
Ngô Nhân Trừng Hoàng giáp 1580 Ngô Nhân Hải
Ngô Phúc Thọ Ngô Nhân Hải

Ngô Quang Tân Ngô Quang Tâm

Ngô Đình Hy ở Hưng Nguyên Ngô Quang Tổ
Ngô Trí Cẩn ở Yên Thành nt
Ngô Quang Tôn ở Hưng Nguyên nt

Ngô Cẩn Tiết(Hiệu) Nho sinh,họTả Thanh Oai Ngô hoằng Nghị
Ngô Thế Phổ thất truyền nt

Ngô Miễn Thiệu Trạng nguyên 1518,Thượng thư Ngô Thầm
(Bảng nhãn)

Ngô Phúc Thanh Vĩnh Lộc Hầu Ngô Phúc Hà
Ngô Phúc Điền Thủy Tổ họ Phú Điền nt
Ngô Văn Khang Tây Quận côngTây nham Hầu Ngô Đình Tú
Ngô Gia Tường Xuân Dương Bá nt
Ngô Văn Triết Hoa Đình Hầu nt

Ngô Phúc Hiền Ngô Hoà

Ngô Lệnh (Anh Nghị) Họ Trình Phố(tồn nghi) Ngô Đình Tú
(Có thể nhầm Ngô Đình Tú
dòng dõi Ngô Tiến Vinh)
Ngô Phúc Thắng Triều thiên Hầu Ngô Thông Đạt

Ngô Huệ Giao Ngô Hiển Đạo
Ngô Huyền Chung nt

Ngô Trụ Ngô Hiên

Ngô Đà Ngô Khiêm

Ngô Đăng Thọ Ngô Gián(Luyện)
Ngô Đăng Tiên nt

Hoa Phúc Tính Hoa Phúc Thanh

Ngô Thuần Lương Mậu ni Hầu Ngô Pháp Chính

Ngô Phúc Thắng Ngô Phúc Thưởng

Ngô Phúc Lộc Ngô Phúc Viết
Ngô Phúc Đào nt

Ngô Đình Thắm Diễn Hoa Ngô Phúc Yên
Ngô Hải Đăng Diễn Yên nt
Ngô Trấn Diễn Tháp nt
Ngô Phúc Tính Diễn Hạnh nt

Ngô Bá Đình Ngô Bá Liễu
Ngô Bá Luận Liên hoa Phủ quân nt
Ngô Bá Hoàn Hoàn công Phủ quân nt
Ngô Bá Nhâm Ngô Bá Phúc

II. Thế thứ mỗi họ sau phân chi (từ đời 20)

1.Dòng Điện Bàn Hầu Ngô Hồng (Đời 20)
1.1.Họ Ngô Doãn Bình Ngô,
Xã Thiệu Vũ,huyện Thiệu Yên,Thanh Hóa

Con cháu Ngô Hồng theo tự điền và cũng là quê mẹ về ở thôn Bình Ngô xã Cán Xuyên huyện Thụy Nguyên phủ Thiệu Thiên, sau đổi Thiệu Hóa,nay là xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa.
Theo phả cũ, Ngô Hồng con Ngô Từ, vào đời thứ 20, sinh Nghĩa Quận công Ngô Điện đời thứ 21.Phả cũ chỉ chép đến đó.Phả của họ Bình Ngô chép rằng: Chỉ biết từ Thủy Tổ Văn xuyên Nam còn về trước xa hơn nữa thì không rõ.Nối dòng đến nay vào khoảng 16,17 đời,có thể thiếu vài đời trong khi thiên cư.Nay tạm lấy Thủy Tổ Văn xuyên Nam làm đời thứ nhất.
Hiện nay chia thành ba chi họ,dòng chính ở Bình Ngô,một dòng thiên cư làng Tràng Xuân,
xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn,một chi họ thiên cư xã Tam Sơn Đông Ngàn,huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (họ Ngô Gia).Đời thứ nhất ứng với đời thứ 24 trong hệ phả chung.

20 Ngô Hồng Tham đốc Thân quân thần vũ Tứ vệ quân vụ Điện Bàn Hầu,Hữu hiệu
Điểm,kỵ mồng 5 tháng 10,mộ ở xã Chấn Xuyên huyện Thụy Nguyên,
đựơc cấp 100 mẫu tự điền ở xứ Di Tán thôn Bình Ngô xã Chấn Xuyên
huyện Thụy Nguyên.
Sinh Ngô Điện.
21 Ngô Điện Nghĩa Quận công.Sinh Ngô Lưu.
22 Ngô Lưu(Uyên) Thái Bảo Tá Quận công ,chi phái ở ngọai quán .

Từ đây do mất phả có thể gián đọan một vài đời.

Đời 1 Ngô Miên tự Văn Cẩm,Văn xuyên Nam, niên hiệu Hoàng Định (1601- 1619),
Quang tiến Thận lộc Đại phu, Đại lý tự Thiếu khanh,
thăng Văn xuyên Bá.
Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh Ngô Đính.
2 Ngô Đính Lang trung Binh bộ,năm Dương Hoà (1635-1643) phong
(tự Hưng Vận) Tán trị Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu.
Sinh Ngô Kiên,Ngô tự Bá Phán,Ngô Thị Tương.

3 Ngô Kiên Bà cả sinh Ngô Chung, Ngô Đỉnh, Thị Chim.
(tự Đạo Thành) Bà thứ sinh Ngô Kiền tự Phúc Ý,đem con về quê bà làm ăn ,thành
chi họ ở Đông Lĩnh huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa ngày nay.

4 Ngô Chung Tự Đạo Bình,sinh Ngô Chim.

4 Ngô Đỉnh Tự Trung Túc,sinh hai con gái.

5 Ngô Chim Tự Đạo Thuần,sinh Ngô Bản, Ngô Tý.
6 Ngô Tý Sinh Ngô Tô, Ngô Hoà, Ngô Ứớc, Ngô Hữu.
7 Ngô Tô Sinh Ngô Khuyến.
8 Ngô Khuyến Sinh Ngô Suyền.
9 Ngô Suyền Sinh Ngô Duyệt,Ngô Phong,Ngô Hậu.
10 Ngô Duyệt Sinh Ngô Sum (vt).
Ngô Phong Sinh Ngô Trọng Phường, Ngô Trọng Bồi.
Ngô Hậu Sinh Ngô Quận ,Trọng Công,Ngô Lân.

11 Ngô Trọng Phường sinh Ngô Kính, Ngô Ánh.
Ngô Trọng Bồi sinh Ngô Trọng Huân.
Ngô Quận sinh Ngô Ngoạn, Ngô Sài, Ngô Sức.
Ngô Trọng Công Hàm Cửu phẩm năm Thành Thái thứ 5(1894),
sinh Ngô Cốn, Văn Cần.
Ngô Lân sinh Ngô Bàng, Ngô Lệ, Ngô Dật.

12 Ngô Kính Thừa tự Ngô Sum, sinh Ngô Điển, Ngô Duyên, Ngô Ngáo,
Ngô Xúc.
Ngô Ánh Sinh Ngô Khánh, Ngô Cương.

Ngô Trọng Huân hai bà, sinh Ngô Tạo, Ngô Thực.
Ngô Ngoạn Sinh Ngô Lược, Ngô Sách.
Ngô Sài Sinh Ngô Thị Giai.
Ngô Sức Sinh Ngô Văn Quận, Ngô Văn Bột.
Ngô Cốn
Ngô Văn Cần
Ngô Lệ
Ngô Bàng Sinh Ngô Văn Chương, Ngô Văn Dương,Văn Tấu,Ngô Dật.

13 Ngô Điển Sinh 1 trai 3 gái.
Ngô Khích Sinh Ngô Trọng Lịch, Ngô Trọng Thông.
Ngô Lược Bà Thị Thường.
Ngô Sách Bà Thị Nhơ.
Ngô Xúc Bà Thị Khuông, sinh Ngô Văn Thường.
Ngô Khánh Bà Thị Đặng, sinh Ngô Văn Chung.
Ngô Cương sinh Ngô Văn Trích.

Chi phái Ngô Thuyền (Thanh Hóa)

3 Ngô …tự Bá Phán Bà Nguyễn Thị Cấu,sinh ông Hương trưởng,ông Đẩu,ông Tích.
4 Ông Hương trưởng (Thụy Phương Xuân), sinh Ngô Phương Viên,Ngô Xuân.
5 Ngô Phương Viên Chuẩn tường Bá,bà Dương Thị Đỏ sinh Ngô Phúc Nhạ,
Ngô …Tiến công Thị lang.
6 Ngô Phúc Nhạ Cai Hợp Thời Lê Hiển Tông,làm Tri bạ vệ Thần sách,
(tự Bá Nghi) có tên là Ngô Phúc Đạo.Bà cả Dương Thị Anh sinh
Ngô Thị Nhạc,Ngô Khắc Trạch.
Bà thứ sinh 9 con trai gái ở xã Tam Sơn Hà Bắc(Họ Ngô Gia).

7 Ngô Khắc Trạch sinh Ngô Y và 1 gái.
8 Ngô Y Tự Nguyên Thâu,Cai đội ,sinh Ngô Doãn Bảo,Thị Di,Thị Trường,
Thị Lệ.
9 Ngô Doãn Bảo Tự Phúc Cân,sinh năm Cảnh Hưng,mất năm Minh Mạng,sinh
Ngô Doãn Trai,Ngô Doãn Trinh,Ngô Doãn Đông.
10 Ngô Doãn Đông (Tự Huấn), sinh Doãn Lý,Doãn Điền,Doãn Thường.
11 Ngô Doãn Điền (Tự Lộ),sinh Ngô Doãn Đoán.
12 Ngô Doãn Đoán Tự Phúc Thành,sinh Ngô Doãn Thuyền.
13 Ngô Doãn Thuyền (1906-1994), UVTWĐCS Việt Nam,Bí thư Tỉnh ủy Thanh
Hóa,bà họ Ngô Văn cùng làng.

Chi họ Ngô Đông Ninh Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa

4 Ngô Chim Húy Kiền,tự Phúc Ý,theo về quê mẹ. Bà Lê Thị Sản ở Đông
Ninh, sinh Ngô Trấn,Thị Hoan,Thị Tạo.
5 Ngô Trấn tự Tiến Dụng .Bà Lê Thị Chương, sinh Ngô Báo, Ngô Phúc.
6 Ngô Phúc (Đạo Minh),con thứ lên trưởng, sinh ba trai,( hai vô tự).
7 Ngô Đạo Trực sinh ba con trai.

8 Ngô Trọng Chuẩn
Ngô Trọng Phiếu (huý Lan)
Ngô Trọng Thỉnh
Ngô Bá Bình
Ngô Bá Trọng
Ngô Toại
Ngô Xuân
9 Ngô Trọng Lộc
Ngô Trọng Cái
Ngô Diễn
Ngô Trọng Thỉnh
Ngô Trọng Viên
Ngô Bá Trường Trở về Bình Ngô sinh Ngô Thành ,Ngô Viên
Ngô Bảng Trở về Binh ngô sinh Ngô Trầm
Ngô Diễn
10 Ngô Trọng Cang
Ngô Trọng Chính sinh Ngô Trọng Thiềm
Ngô Trọng Ngoạn
Ngô Trọng Sính Ngô Trọng Hoạt
Ngô Trọng Trầm Ngô Trọng Côn Ngô Trọng Thành Ngô Viên

11 Ngô Trọng Đỉnh Ngô Trọng Đổng Ngô Trọng Sách Ngô Trọng Vẽ
Ngô Trọng Bắc Ngô Trọng Nhai con Ngô Chỉnh, sinh Kỳ,Bằng
Ngô Trọng Nghĩa Ngô Trọng Vấn Ngô Trọng Biện Ngô Trọng Vực
Ngô Trọng Thiệu Ngô Trọng Mậu Ngô Trọng Bôi
Ngô Trọng Tàn Ngô Mậu

Cho đến ngày nay còn bốn năm đời chưa ghi chép.

Chi họ Ngô Gia Tam Sơn
huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

(Phân chi từ Bình Ngô, vào đời thứ 7 họ Bình Ngô,ứng với đời thứ 29 chung các họ).

29 Ngô Văn Đạo tự Phúc Đạo, tức Ngô Phúc Nhạ, con Chuẩn tường Bá
Ngô Phương Viên và bà Dương Thị Đỏ xã Bình Ngô.
Ưu binh, làm chức Cai hợp thời Lê Hiển Tông (1740-1786),
bà thứ lánh về Tam Sơn sinh 9 con:Văn Tâm,Văn Hiền,Văn Tân,
Thị Trang,Trân,Văn Đang,Văn Tráng,Thị Chín,Văn Tòan.
30 Ngô Văn Tân sinh Văn Kinh,Văn Tín.
31 Ngô Văn Kinh sinh Ngô Văn Hoà (vô tự).
Ngô Văn Tín sinh Ngô Văn Hưu.
32 Ngô Văn Hưu sinh Ngô Văn Độ.
33 Ngô Văn Độ sinh Ngô Văn Phẩm.

34 Ngô Văn Phẩm sinh Ngô Văn Nghiêm,Ngô Văn Bảy.
35 Ngô Văn Nghiêm sinh Ngô Văn Trang.
36 Ngô Văn Trang sinh Ngô Gia Trọng.
37 Ngô Gia Trọng sinh Ngô Gia Lang và 2 gái.

35 Ngô Văn Bảy sinh Ngô Văn Hai.
36 Ngô Văn Hai sinh Ngô Gia Bính,Ngô Gia Cừ
(Gia Cừ trở về Thanh Hóa ở Phủ Quảng).

30 Ngô Văn Toàn sinh Ngô Văn Chính.
31 Ngô Văn Chính sinh Ngô Văn Minh.
32 Ngô Văn Minh sinh Ngô cựu Gia.

33 Ngô cựu Gia sinh Ngô Gia Vĩnh,Ngô Gia Du.
34 Ngô Gia Vĩnh sinh Ngô Gia Dĩnh (phạp),Ngô Gia Viễn.
35 Ngô Gia Viễn sinh Ngô Gia Kỳ.
36 Ngô Gia Kỳ sinh Ngô Gia Tường,Ngô Gia…và 1 gái.

34 Ngô Gia Du tham gia Đông Kinh nghĩa thục,sinh 10 con: Thị Sâm
(tự Tác Tân) Thị Linh,Gia Lễ,Gia Kỳ,Gia Khiết,Thị Quy,Thị Thục
Gia Tự,Gia Thảo.
35 Ngô Gia Lễ Cử nhân thời Pháp,làm Tri phủ,sinh Gia Hy,Gia Chí,Gia Trúc,Gia Khiêm,Gia Thạch.
36 Ngô Gia Hy Giáo sư y khoa, sinh Gia Trọng (Ts ở Canada),Ngô
Gia Lương (Đh),Ngô Thị Thuỷ (Bs ở Bỉ),Ngô Thị Đại (Bs).
Ngô Gia Trúc Giáo sư dược, sinh Ngô Gia Thăng (Đh) ,Ngô Gia Việt (Ks).
36 Ngô Gia Khiêm Ds, sinh Thị Khanh (Đh),Thị Nga.
Ngô Gia Thạch Phó Giáo sư Tiến sĩ y, sinh một trai hai gái (có Thị Hương Bs).

35 Ngô Gia Kỳ sinh Ngô Gia Tường, Ngô Gia Khánh (liệt sỹ).
Ngô Gia Hiến (Đh) sinh một trai hai gái.
Ngô Gia Hiếu sinh ba trai một gái.
Ngô Gia Đệ sinh ba trai một gái.

35 Ngô Gia Khiết sinh Ngô Gia Hổ sinh sáu trai một gái.
35 Ngô Gia Lộc sinh một trai hai gái
Ngô Gia Phúc Ks, sinh một trai năm gái
Ngô Gia Thọ
Thị Hảo,Thị Sỏi,Thị Hai,Thị Khay

36 Ngô Gia Sơn (Pts)
Ngô Gia Đài (Ks)
Ngô Gia Thuỷ
Ngô Gia Tính( Ks)

30 Ngô Văn Đăng Sinh Văn Mậu,Văn Xuân,Văn Thành.

31 Ngô Văn Thành sinh Ngô Văn Tiến,Ngô Gia Cậy.
32 Ngô Văn Tiến sinh Ngô Giới.
33 Ngô Giới sinh Ngô Mười.
34 Ngô Mười sinh Ngô Bách.
35 Ngô Bách (ls) sinh Ngô Gia Chính.
36 Ngô Gia Chính sinh Ngô Gia Câu.

32 Ngô Gia Cậy sinh Ngô Gia Thiết.
33 Ngô Gia Thiết sinh Ngô Gia Ái.
34 Ngô Gia Ái sinh Ngô Gia Phái.
35 Ngô Gia Phái sinh Ngô Gia Kỳ,Gia Hanh,Gia Công.

30 Ngô Văn Tráng sinh Ngô Gia Hưng.
31 Ngô Gia Hưng sinh Ngô Gia Cát.
32 Ngô Gia Cát Tú tài kép,sinh Ngô Gia Đạt.

33 Ngô Gia Đạt sinh Ngô Gia Hiên,Ngô Gia Chúc,Ngô Gia Châu.
34 Ngô Gia Hiên sinh Ngô Gia Hương.
35 Ngô Gia Hương TUV Bắc Ninh,( ls), sinh Ngô Gia Niên.
36 Ngô Gia Niên Ls,sinh Ngô Gia Ninh (Đh) sinh 3 trai.

34 Ngô Gia Chúc sinh Ngô Gia Ngọc, Ngô Gia Thách và hai gái.
35 Ngô Gia Ngọc sinh ba con trai đã có cháu.

34 Ngô Gia Châu sinh Ngô Gia Trinh,.
35 Ngô Gia Trinh Đvcs 30-31, Tuv Bắc Giang, sinh Ngô Gia Tịnh.
36 Ngô Gia Tịnh đã có cháu.

1.2.Họ Ngô Thọ Nguyệt Viên
Dòng Điện Bàn Hầu Ngô Hồng
Hồng Quang Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa

Tồn nghi thuộc dòng Điện Bàn Hầu Ngô Hồng,đời 20,nên tạm để ông Thủy Tổ họ
Nguyệt Viên vào đời 21.

21 Ngô Thọ Pháp Suy trung Dực vận Tán trị Công thần,Đề đốc hiệu lực Tứ vệ quân vụ
sự, Thái bảo Trung tráng Hầu, ban quốc tính, lấy tên là Lê Đính.
22 Ngô Thọ Kinh Dương võ Uy dũng Dực vận Tán trị Công thần Đề lĩnh Tứ thành, tặng
Thái Bảo Chương lâm Hầu,
ban quốc tính lấy tên Lê Chương, Thụy Anh Nghị, gia phong Đình
thượng Hầu,
bà chính thất Mỹ Tiết, bà thứ Chiêu Nghi , thuỵ Từ Nhan Công chúa,
em gái Tương Dực Đế Oanh (1509-1516).

23 Ngô Thọ Hải Trung trinh Đại phu ( Ấm phong ).

24 Ngô Thọ Thuần bà Từ Nhân.

25 Ngô Thọ Thục Phụ quốc Thuần tín Dương võ Uy dũng Công thần, Đặc tiến Phụ
1560-1634 quốc Thượng Tướng quân, Tây quân Đô đốc phủ,Đô đốc Đồng tri, tặng Tả Đô đốc, gia phong Thiếu Phó, lại gia phong Thiếu Úy Chí Quận công (1590 )thuỵ Thọ Lam.
Mộ ở khu cấm. Bà Vũ Thị Đà, sinh Thọ Phù, Thọ Ngư, Thọ Tửu
Phòng lĩnh Hầu , Thị Trì, Thị Liên.

26 Ngô Thọ Phù Dương võ Uy dũng Tán trị Công thần ,Đặc tiến Phụ quốc Thượng
tướng quân,
(1581.1647) Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thái Bảo Cẩm Quận công. Không
có con trai, lập tự cho em Ngô Thọ Ngư.
Ông có trên 20 bà vợ sinh bốn gái: Thị Nhất,Thị Nhì lấy Thái Bảo Trực Quận công, Thị Tam lấy Vương Tôn, Thị Bốn lấy Hậu Liên.

26 Ngô Thọ Ngư Vân ngạn Hầu, Tán trị Công thần Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng
quân Cẩm y vệ Đô Chỉ huy sứ ty,Chỉ huy sứ ,
bà Nguyễn Thị Thược sinh Thọ Hồng, Thọ Đồ.

27 Ngô Thọ Hồng Tán trị Công thần Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân,
(1606-1685) Cấm y vệ Chỉ huy sứ, Hán lộc Hầu,
bà Phan Thị Tơ sinh:
Thọ Tấn, Thọ Ấm, Thọ Hào, Thị Trắc, Thị Thắm, Thị Cao,Thị
Man,Thọ Thám.
Đến nay chia làm nhiều phái, hiện nay chỉ mới có thế thứ của phái 2:

28 Ngô Thọ Ấm 1641-1702, Chánh Đội trưởng Nhuận thọ Hầu , sinh Thọ Hạo.

29 Ngô Thọ Hạo sinh Thọ Tiệm.

30 Ngô Thọ Tiệm Thiên hộ Chánh Đội trưởng, sinh 10 con trai.
Con thứ 3 Thọ Vịnh thành 1 chi, sau có Thọ Đĩnh;
Con thứ 4 Thọ Châu hiện con cháu ở Đông Hưng, xã Vạn
Hoá huyện Nông Cống;
Thọ Lê, cháu 5 đời là Thọ Miên, tiếp là Thọ Bôi;
Thọ Chác, cháu 5 đời là Thọ Xán, tiếp là Thọ Vi;
Thọ Liên, cháu 5 đời là Thọ Chiểu, tiếp là Thọ Giang;
Thọ Đinh, cháu 5 đời là Thọ Thục.

31 Ngô ThọVịnh Tự Từ Nho, 1744-1800,sinh Thọ Yến,Thọ Toàn,Thọ Thế,Thọ
Đến, Thọ Duyên.

32 Ngô Thọ Yến sinh Thọ Thuý, Thọ Cường, Thọ Khuê, Thị Đen.

33 Ngô Thọ Khuê sinh Thọ Hoài, Thọ Trường, Thọ Thứ.

34 Ngô Thọ Trường Hai khoa Tú tài ( một khoa Canh Tuất 1850 ), sinh Thọ Diên,
Thị Hương.

35 Ngô Thọ Diên lấy vợ làng Yên Hào ,nay thành một chi riêng tách chi Nguyệt
Viên, sinh Thọ Lan.

36 Ngô Thọ Lan sinh mấy con, trưởng Thọ Tường.

34 Ngô Thọ Thứ Tú tài 1850, bà Lê Thị Niên sinh năm con, bà thứ sinh Thọ
Quy , Thọ Trâm.

35 Ngô Thọ Trâm 1861-1892, bà Nguyễn Thị Kỹ sinh Thọ Chức, Thọ Tịch, Thị
Ước, Thị Côi.

36 Ngô Thọ Chức 1882-1937, bà cả Nguyễn Thị Thư sinh Thọ Điện, Thọ Bí, Thị
Đam, Thị Nông, Thị Tần, Thị Tảo, Thị Hồ, Thị Hán,
bà thứ Trần Thị Sang sinh Thị Đỗ, Thị Thảo, Thị Trọng.

37 Ngô Thọ Bí 1913-1981, bà Lê Thị Chương sinh Thọ Đản, Thọ Thuận, Thọ
Đào,Thọ Toàn,Thọ Thắng,Thọ Đại,Thị Liên,Thị Nga, Thị Tuyết
Thị Ngân.

38 Ngô Thọ Đản (Ks),bà Vũ Thị Xuyên (đh) sinh Thọ Hùng, Thọ Cường.

36 Ngô Thọ Tịch sinh Thị Liên, Thọ Mạch.

2.Dòng Thanh Quốc Công Ngô Khế (từ đời 20)

2.1.Dòng Ngô Bá Di (Ngô Hải Sơn)
Họ Ngô Tam Sơn Đông Ngàn ( Đời 21)
huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh

21 Thủy Tổ Ngô Bá Di tự Hải Sơn,một trong sáu con trai Thanh Quốc công “cư biệt
quán”,ở chùa Cảm Ưng, xã Tam Sơn ,huyện Đông Ngàn, nay là
huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh,vừa coi chùa vừa dạy học.
Sinh Ngô Thiền Nho,Ngô Quân Hiên,

22 Ngô Thiền Nho (có phả ghi chú Thiền Nho và Quân Hiên là tự hiệu của
cùng một người).
22 Ngô Quân Hiên Trì uy Tướng quân Cấm y vệ Đình uý Đô Chỉ huy sứ ty Chỉ huy Đồng tri, tặng Thái Bảo.
Sinh: Ngô Luân Tiến sĩ 1475 Tao đàn tướng Lễ bộ Thượng thư,
phả cũ không ghi chép gì về con cháu,
Ngô Thầm Bảng nhãn.
23 Ngô Thầm Hiệu Hạo Hiên,Bảng nhãn khoa Quý Sửu 1493,Tao đàn tướng,
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu ,Hàn lâm viện Thị thư,
tặng Thái Bảo,
Sinh Trạng Nguyên Ngô Miễn Thiệu.
24 Ngô Miễn Thiệu Tự Thuận Nhã, hiệu Trúc Khê, Trạng nguyên khoa Mậu Dần
1518.Làm Đô Ngự sử tước Lý khê Bá. Làm quan triều Lê 9 năm
sau làm quan triều Mạc đến chức Lễ bộ Thượng thư,Đông các Đại
Học sĩ kiêm Ngự sử,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu thăng Trình
khê Hầu
Sinh Ngô Diễn, Ngô Dịch.
Con gái lấy Nguyễn Gia Mưu, là con nuôi, cho đổi họ Ngô, là Tiên
tổ họ Ngô Sách ở Tam Sơn;
25 Ngô Diễn Tiến sĩ khoa Canh Tuất(1550),năm Cảnh Lịch thứ 3 nhà Mạc.
Gia hạnh Đại phu Hàn lâm viện Thị giảng,Lễ bộ Thượng thư,
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Nhân sơn Bá.
Dòng này thất truyền nhiều đời, nay chỉ biết được một gia đình
Trưởng tộc là Ngô Văn Vị sinh Ngô Văn Đại, công nhân ở khu
mỏ Quảng Ninh,vợ con ở Tam Sơn.
Xã Tam Sơn ngày nay còn có nhiều nhóm họ Ngô,vì không có
phả nên không rõ thuộc dòng nào ở đâu đến.
(Ví dụ như Anh hùng lao động Ngô Gia Khảm vốn họ Ngô Văn,
làm con nuôi và là con rể Ngô Gia Khiết nên lấy họ Ngô Gia…)

25 Ngô Dịch Tiến sĩ khoa 1556 năm Quang Bảo thứ 2 nhà Mạc.Đặc tiến kim
tử Vinh lộc Đại phu,Hộ bộ Tả Thị lang, Tham chính,tặng Thượng
thư, Lĩnh hải Nam,sinh Ngô Huyền Sơn,Ngô Nghị Trai.

26 Ngô Huyền Sơn Thông chính sứ, Triều liệt Đại phu.
Sinh : Ngô Vỵ về ở thôn Đoài,
Ngô ….về ở Đào Quán huyện Đông Anh ,
Ngô Văn Trung.

27 Ngô Vỵ tự An Sơn,Tả Thị lang, Hiển cung Đại phu(Tùng Ngũ phẩm),
tước Vĩnh sơn Hầu.
Triều Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng bắt không quy hàng,
Trịnh Tùng thả cho về.
Về ở Đào Quán, con cháu ngày nay khoảng 300,chưa có thế thứ.

27 Ngô Văn Trung Chi phái ở Sa Mạc, chưa bắt liên lạc.Có một người trong phái
này làm Tri phủ phủ Anh Sơn tỉnh Nghệ An,vợ con ở lại Đô Lương
rồi theo quê mẹ về huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa,chưa rõ thế thứ.

28 Ngô Hoa Sơn Con Ngô Vỵ, sinh Ngô Đông Sơn, ở thôn Đoài ,xã Nam Hồng
huyện Đông Anh Hà Nội.
29 Ngô Đông Sơn sinh Cụ Huyện ,Ngô Khiêm,Ngô Văn Giáo.

30 Ngô Văn Giáo sinh Ngô Văn Hào.
31 Ngô Văn Hào sinh Ngô Văn Lưu.
32 Ngô Văn Lưu sinh Ngô Văn Đáng.
33 Ngô Văn Đáng sinh Ngô Văn Đoán.
34 Ngô Văn Đoán sinh Ngô Mạc.
35 Ngô Mạc sinh Ngô Uyển.
36 Ngô Uyển sinh Ngô Mạnh Tài,Ngô Mạnh Tấn,Ngô Minh Triều
đều đã có con vào đời thứ 38.

Các chi phái chưa có đủ thế thứ.

2.2.Dòng Ngô Nguyên

21 Ngô Nguyên Tên cũ là Ngô Sử Toàn,con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,một
trong sáu người con”cư biệt quán”, về Vọng Nguyệt nương nhờ
nhà họ Chu.Bà là Chu Thị Bột tục gọi là Bà Thí thóc.Vua Lê
Thánh Tông phong 4 chữ “Phụ tích tinh môn”.
Sinh Ngô Ngọc,
Ngô Định;Ngô Định thiên cư vào xã Lý Trai huyện Đông
Thành trấn Nghệ An.

2.2.1.Dòng Ngô Ngọc (Đời 22)
Họ Ngô Vọng Nguyệt
Xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
Lưu ý:Xét về thời gian thì chưa khớp,vì Ngô Khế sinh 1426 mất
1514 ,thì Ngô Ngọc là cháu không thể sinh vào 1454.
22 Ngô Ngọc Hiệu Tiền Xuyên,đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Mùi,năm Hồng Đức1487,
(1454-1522) làm Đô Cấp sự trung,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu.
Bà Trang Thuận Phu nhân,sinh Ngô Lãn Nhân, Ngô Nhân Tùng,Ngô
Nhân Hải.
Người mở đầu Ngũ đại Liên trúng họ Ngô Yên Phong,bao gồm:
Ngô Ngọc Hoàng giáp 1487
Ngô Nhân Hải Hoàng giáp 1508, con Ngô Ngọc,
Ngô Nhân Trừng Hoàng giáp 1580, con Ngô Nhân Hải,
Ngô Nhân Triệt Tiến sĩ 1607, con Ngô Nhân Trừng.
Ngô Nhân Tuấn, Tiến sĩ 1640, con Ngô Nhân Triệt
23 Ngô Lãn Nhân Hiệu Ngột Hiên,Nho sinh, Mậu lâm lang.
Sinh Ngô Văn Chính,
Ngô Văn Xuân và ba người thất truyền (2 giám sinh,1 khoá
sinh).

23 Ngô Nhân Tùng Con thứ 3 Ngô Ngọc,năm 1510 cùng Thân Duy Nhạc nổi dậy ở (Nhân Tổng) Yên Phú,Đông Ngàn và Gia Lâm thuộc Kinh Bắc chống lại triều
đình, thất bại ,bị bắt về Thăng Long trảm quyết .

23 Ngô Nhân Hải Đệ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Mậu Thìn 1508,niên hiệu
Đoan Khánh năm thứ 4 triều Lê Uy Mục Đế.Giám sát Ngự sử .
Sinh Ngô Nhân Trừng,Ngô Phúc Thọ

24 Ngô Văn Chính Nho sinh trúng thức,Thần vũ Tứ vệ Lục sự,sinh ba Giám sinh và một
nho sinh đều thất truyền.

24 Ngô Nhân Trừng Tự Quế Hiên,hiệu Nhạo Sơn,Đình nguyên Nhị giáp Tiến sỹ
1539-1592 (Hoàng giáp) khoa Canh Thìn 1580,niên hiệu Diên Thành năm thứ
3,đời Mạc Mậu Hợp.
Làm quan nhà Mạc qua chức Đốc đồng kiêm tri Nam bắc thập
tam Đạo Trung quân,Đề lĩnh Tứ thành ,tước Thái Úy Nghị Quốc
công.Tử tiết theo nhà Mạc.
Bà cả sinh Ngô Nhân Triệt,Ngô Đức Khiêm,Ngô Nhân Tỉnh,Ngô Phúc Mỹ.
Bà thứ sinh Ngô Phúc Mẫn theo về quê mẹ ở Đông Yên.

25 Ngô Nhân Triệt Tự Mai Hiên, hiệu Đức Thịnh,Tiến sĩ khoa Đinh Mùi 1607,làm
quan triều Lê trung hưng, phong Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại
phu Thái thường tự Tự khanh,tặng Thái Bảo Lễ phái Bá.
Ba bà ,sinh 9 con trai:
Ngô Nhân Dương, Tri phủ Thông Hóa,
Ngô Nhân Tuấn, Tiến sĩ 1640,
Ngô Phúc Hồng ,Cử nhân, Tri huyện Nam xương,
Ngô Phúc Lâm, Tú lâm đường,(thất truyền),
Ngô Phúc An, Cử nhân Tri huyện Cảnh Thuần,
Ngô Đức Lân,Cử nhân,
Ngô Đức Sáu, Huấn Đạo Hoài nhơn,
Ngô Nhân Do, Giám sinh Thiếu khanh Giảng dụ,
Ngô Ninh Xuyên, Tú lâm đường.

26 Ngô Nhân Dương Tri phủ Thông Hóa,sinh Ngô Nhân Kính
27 Ngô Nhân Kính Tú tài, Tri huyện Hiệp Hòa,thất truyền ,trao trưởng Ngô Khuất.

26 Ngô Nhân Tuấn hiệu Cương Đức,sinh 1595,Tiến sĩ khoa Canh Thìn(1640).1664
thăng Bồi tụng Tả Thị lang,1665 Tả Thị lang Bộ lễ.70 tuổi về
hưu, thăng Công bộ Thượng thư,tặng Lễ bộ Thượng thư, Phong
lộc Hầu.
Sinh: Ngô Hiệu,Ngô Diễu.

27 Ngô Hiệu Cử nhân, Tri huyện Thuỷ Vân, sinh Ngô Phúc Chí.
28 Ngô Phúc Chí Nho sinh (thất truyền).

27 Ngô Diễu Cử nhân, Tri phủ Bắc Hà.

26 Ngô Phúc Hồng Cử nhân, Tri huyện Nam xương.Thất lạc phả mất 4 đời.

32 Ngô Trực Cương sinh Ngô Phúc Tân.
33 Ngô Phúc Tân sinh Ngô Trực Tính.
34 Ngô Trực Tính sinh Ngô Phúc Kính.
35 Ngô Phúc Kính sinh Ngô Văn Hậu,Ngô Văn Hỷ.

36 Ngô Văn Hậu sinh Ngô Văn Hảo,Ngô Văn Thảo.
37 Ngô Văn Hảo sinh Ngô Văn Hưởng,Ngô Văn Kiệt.
Ngô Văn Thảo sinh Ngô Văn Thành.

36 Ngô Văn Hỷ sinh Ngô Văn Hùng.

26 Ngô Phúc Lâm Tú lâm đường (thất truyền).

26 Ngô Phúc An tự Nhân Tông,hiệu Phú An,Cử nhân,Cần sự Tá lang,Tri huyện
Cảnh Thuần, sinh Ngô Phúc Nghĩa,Ngô Tự Đức.

27 Ngô Phúc Nghĩa sinh Ngô Phúc Thuận.
28 Ngô Phúc Thuận sinh Ngô Phúc Thuần.
29 Ngô Phúc Thuần sinh Ngô Phúc Đặc.
30 Ngô Phúc Đặc sinh Ngô Trực Thành (thất truyền),Ngô Trung Kê,Phúc Cẩn.
31 Ngô Trung Kê sinh Ngô Phúc Kể.
32 Ngô Phúc Kể sinh Ngô Phúc Khắc.
33 Ngô Phúc Khắc sinh Ngô Phúc Khể.
34 Ngô Phúc Khể sinh Ngô Phúc Mùi,Ngô Văn Dần.

31 Ngô Phúc Cẩn sinh Ngô Phúc Thành.
32 Ngô Phúc Thành sinh Ngô Phúc Thuý,Phúc Đính (thất truyền),Trung Phiếu.
33 Ngô Phúc Thuý sinh Ngô Phúc Danh,Ngô Phúc Định.

34 Ngô Phúc Danh sinh Văn Sách, Văn Hùng,Văn Huỳnh,Văn Cường.
35 Ngô Văn Sách sinh Ngô Văn Tuyết,Ngô Văn Xích.
Ngô Văn Huỳnh sinh Ngô Văn Huyền,Ngô Văn Hương.
Ngô Văn Hùng sinh Ngô Văn Dũng.
Ngô Văn Cường sinh Ngô Văn Sớn.

34 Ngô Phúc Định sinh Ngô Văn Chắt,Văn Kiều,Văn Đỉnh.
35 Ngô Văn Chắt sinh Văn Chất,Văn Hương.
Ngô Văn Kiều sinh Văn Kỳ,Văn Ky.
Ngô Văn Đỉnh sinh Ngô Văn Đăng.

33 Ngô Trung Phiếu sinh Ngô Văn Đáo,Ngô Văn Khuyến.
34 Ngô Văn Đáo sinh Ngô Văn Toán ,Văn Tính,Văn Toàn.
Ngô Văn Khuyến sinh Ngô Văn Hiển.

27 Ngô Tự Đức sinh Ngô Quốc Trai.
28 Ngô Quốc Trai sinh Ngô Lạc Trai.
29 Ngô lạc Trai sinh Ngô Thuần Đức và ba người thất truyền.
30 Ngô Thuần Đức sinh Ngô Thuần Thành.
31 Ngô Thuần Thành sinh Ngô bình Chính.
32 Ngô bình Chính sinh Ngô Văn Chuyền,Ngô Văn Thụ.
33 Ngô Văn Thụ sinh Ngô Trung Trực,Ngô Văn Thị ,Ngô Trực Vị,Trực Thái .
34 Ngô Văn Thị sinh Ngô VănThực,Ngô Văn Trọng,Ngô Chiếu,Văn Tuyến.

35 Ngô Văn Thực sinh Ngô Vi Hằng,Trí Thuỷ,Quốc Vinh.
36 Ngô Vi Hằng sinh Ngô Minh Nam.

35 Ngô Văn Trọng sinh Ngô Hải Âu.
Ngô Văn Tuyến sinh Ngô Văn Tuân.

26 Ngô Đức Lân con thứ 6 Ngô Nhân Triệt, sinh Ngô Khuất,Bao Dung.
27 Ngô Khuất mất phả 5 đời (từ 29 đến 33).

Thay dòng Trưởng
33 Ngô Phúc Duy sinh Ngô Phúc Hải.
34 Ngô Phúc Hải sinh Ngô Phúc Lượng.
35 Ngô Phúc Lượng sinh Ngô Văn Trung,Ngô Văn Thành.

33 Ngô tuế Dậu sinh Ngô Văn Biên.
34 Ngô Văn Biên sinh Ngô Văn Nhận.
35 Ngô Văn Nhận sinh Ngô Văn Toản.

33 Ngô Trực Cường sinh Ngô Văn Hạch.
34 Ngô Văn Hạch sinh Ngô Văn Thạch.
35 Ngô Văn Thạch sinh Ngô Văn Công,Ngô Văn Thuỷ.

33 Ngô Văn Khán sinh 4 gái.

34 Ngô Công Đắc sinh Ngô Tự Khuôn,Ngô Tự Thực.
35 Ngô Tự Thực sinh Ngô Văn Tỵ,Ngô Văn Ngọ,Ngô Văn Mão. Ngô Văn Mùi,Ngô Văn Ninh,Ngô Văn Thạch.

34 Ngô Tự Đức sinh Ngô Văn Tần,Ngô Văn Tấn.
35 Ngô Văn Tần sinh Ngô Văn Giang,Văn Sơn,Văn Hà.
35 Ngô Văn Tấn sinh Văn Tuần,Văn Tiến,Văn Tới.

27 Ngô Bao Dung Giám sinh, làm ở Quốc Tử Giám.Khi Nguyễn Hữu Chỉnh ra Thăng
Long,ông bỏ quan về dạy học,cùng học trò khai phá vùng đất
Đông quan.
Sinh Như Kim,Trung Tín,Nghiêm Trang,Cương Nghị,Sơn.

28 Ngô Như Kim Tú tài,sinh Ngô Thời Hiến
29 Ngô Thời Hiến Cử nhân ,Tri huyện Ninh Sơn (thất truyền).

28 Ngô Trung Tín sinh Ngô thảo Di.
39 Ngô Thảo Di sinh Ngô Phú Chính,Ngô Phú Hòa.

30 Ngô Phú Chính sinh Ngô Phú Toàn.
31 Ngô Phú Toàn sinh Ngô Cả,Ngô Hai,Ngô Trung Thiệu.

32 Ngô Cả sinh Ngô Điển.
33 Ngô Điển sinh Ngô Văn Diễn.
34 Ngô Văn Diễn sinh Ngô Dậu (thất truyền).

32 Ngô Hai sinh Ngô Tự Chức,Tự Húc,Tự Cao ,và con gái.
33 Ngô Tự Húc sinh Ngô Tự Ngọ và con gái.

32 Ngô Trung Thiệu sinh Ngô Phúc Thiện.
33 Ngô Phúc Thiện sinh Ngô Phúc Lộc,Phúc Đắc,Trung Thiệu và Phúc Sự (t.truyền).

34 Ngô Phúc Lộc sinh Trực Tuân (t.t.), Trực Cận.
35 Ngô Trực Cận sinh Ngô Văn Xuyên,Ngô Trung Thận.
36 Ngô Văn Xuyên sinh hai trai.
Ngô Trung Thận sinh Ngô Văn Phúc.Văn Phúc sinh hai trai.

34 Ngô Phúc Đắc sinh Ngô Văn Sích.
35 Ngô Văn Sích sinh Ngô Văn Bình.

30 Ngô Phú Hòa sinh Ngô Trung Trấn.
31 Ngô Trung Trấn sinh Phúc Thành,Phúc Thuận,Trực Thành.

32 Ngô Phúc Thành sinh Ngô Trực Văn.
33 Ngô Trực Văn sinh Ngô Phúc Mậu.
34 Ngô Phúc Mậu sinh Ngô Văn Mão, Thìn, Tuất, Dáp.

35 Ngô Văn Mão sinh Ngô Văn Bang.
35 Ngô Văn Thìn sinh Ngô Văn An, Văn Hoàn.
35 Ngô Văn Tuất sinh Ngô Văn Đàn.
35 Ngô Văn Dáp sinh Ngô Diên.

32 Ngô Phúc Thuận sinh Phúc Cường, Phúc Nhuần.
33 Ngô Phúc Nhuần sinh Phúc Hảo, Phúc Lai.
34 Ngô Phúc Hảo sinh Phúc Lợi, Phúc Lạc.
35 Ngô Phúc Lợi sinh Phúc Lại, Phúc Hiển.
36 Ngô Phúc Hiển sinh Ngô Văn Hiếu.

34 Ngô Phúc Lai sinh Ngô Văn Vĩnh.
35 Ngô Văn Vĩnh sinh Ngô Văn Long, Văn Lân.

32 Ngô Trực Thành sinh Ngô Phúc Thuận.
33 Ngô Phúc Thuận sinh Ngô Văn Thường, Văn Lược.
34 Ngô Văn Thường sinh Ngô Văn Dư.
35 Ngô Văn Dư sinh Ngô Văn Trúc, Văn Tri.

34 Ngô Văn Lược sinh Ngô Văn Lâm.
35 Ngô Văn Lâm sinh Văn Tùng, Văn Bích, Văn Anh.

26 Ngô (Đức Sáu)…. Huấn Đạo phủ Hoài nhơn (thất truyền).

26 Ngô Nhân Do Thiếu khanh Giảng dụ,mất phả (thiếu tên 5 đời).

32 Ngô Phúc Tô sinh Ngô Phúc Để.
33 Ngô Phúc Để sinh Ngô Phúc Đệ (thất truyền).

32 Ngô Phúc Trù sinh Ngô Phúc Phú.
33 Ngô Phúc Phú sinh Ngô Văn Thư.
34 Ngô Văn Thư sinh Ngô Văn Điển.
35 Ngô Văn Điển sinh Trực Bộ,Trực Đệ,Trực Ôm (đều thất truyền).

34 Ngô Văn Nhâm sinh bốn con (đều thất truyền).

33 Ngô Quản Tụ sinh Thế Tự,Phó Tuỵ,Phó Ba,Phó Tư.
34 Ngô Phó Tự sinh Phúc Di,Phúc Ngọng (thất truyền).
34 Ngô Phúc Di sinh Văn Lán,Văn Cán (đều thất truyền),Văn Càn,Văn Tròn.
35 Ngô Văn Càn sinh Văn Kiều, Văn Hiền (ls).
35 Ngô Văn Tròn sinh Ngô Văn Sơn.
36 Ngô Văn Sơn sinh Ngô Văn Hùng.

33 Ngô Phó Thứ sinh Ngô Trung Thị ,Ngô Trực Bảy.
34 Ngô Trung Thị sinh Ngô Văn Luận,Văn Ngữ,Văn Vương(ls),Văn Cường.

35 Ngô Văn Luận sinh Văn Nghĩa,Văn Vụ,Văn Đông.
35 Ngô Văn Ngữ sinh Văn Hiển,Văn Trinh,Văn Tiều.

36 Ngô Văn Hiển sinh Hải,Huy,Học,Văn Phong.
36 Ngô Văn Trinh (ks),sinh Ngô Văn Việt.
36 Ngô Văn Tiều sinh Ngô Văn Toàn.

37 Ngô Văn Phong sinh Ngô Văn Nam.

35 Ngô Văn Cường sinh Văn Sơn,Văn Cương,Văn Kỳ,Văn Tuấn.
36 Ngô Văn Sơn (đh),sinh Ngô Văn Giang,Ngô Văn….

34 Ngô Phúc Liên sinh Phúc Thiên,Phúc Khiêm.
35 Ngô Phúc Thiên sinh Văn Thăng (ls), Văn Chiến.
36 Ngô Văn Chiến sinh Văn Tuyến,Văn Thân,Văn Tân,Văn Thảo.

26 Ngô Ninh Xuyên Tú lâm đường, sinh Ngô Phúc Tường.
27 Ngô Phúc Tường sinh Ngô Phúc Đôi.
28 Ngô Phúc Đôi sinh Phúc Cẩn,Phúc Dược,Phúc Cát.
29 Ngô Phúc Cẩn sinh Ngô Trung Thanh.
30 Ngô Trung Thanh sinh Ngô Trung Ý.
31 Ngô Trung Ý sinh Ngô Trung Trực.
32 Ngô Trung Trực sinh Trực Thuận,Phúc Phương.

33 Ngô Trực Thuận sinh Ngô Trực Hoà.
34 Ngô Trực Hoà sinh Ngô Phúc Kỷ.
35 Ngô Phúc Kỷ sinh Ngô Phúc Khánh.

33 Ngô Phúc Phương sinh Ngô Phúc Khương,Ngô Phúc Khang.
34 Ngô Phúc Khương sinh Ngô Văn Tý, Ngô Văn Bổn.
34 Ngô Văn Khang sinh Ngô Văn Thọ,Ngô Văn Khái.

25 Ngô Nhân Tĩnh con trai Ngô Nhân Trừng ,sinh Ngô Nhân Tính,Ngô Nhân Phúc.
26 Ngô Nhân Tính sinh Ngô Trung Lương.
27 Ngô Trung Lương sinh Phúc Công,Phúc Hai,Phúc Ba,Phúc Luật.

28 Ngô Phúc Công sinh Năng Thực.
29 Ngô năng Thực sinh Ngô Trung Chỉ.
30 Ngô Trung Chỉ sinh Ngô Trung Trực.
31 Ngô Trung Trực sinh Ngô phác Nhã(t.t.),Ngô Phúc Thuần.
32 Ngô Phúc Thuần sinh Phúc Thanh, Phúc Bình.

33 Ngô Phúc Thanh sinh Ngô Phúc Trị.
34 Ngô Phúc Trị sinh Phúc Du, Phúc Di, Phúc Hy.
35 Ngô Phúc Di sinh Ngô Phúc Tụng.
36 Ngô Phúc Tụng sinh Ngô Thuyết, Ngô Quyết.

37 Ngô Thuyết sinh Ngô Sơn, Ngô Hải, Ngô Hồng.
37 Ngô Quyết sinh Ngô Quang, Ngô Quân.

33 Ngô Phúc Bình sinh Ngô Phúc Hiền, Phúc Nhân, Trung Trực.

34 Ngô Phúc Hiền sinh Phúc Lành (thất truyền), Phúc Tòng.
35 Ngô Phúc Tòng sinh Phúc Nhung, Phúc Địch.

36 Ngô Phúc Nhung sinh Ngô Phúc Sung.
36 Ngô Phúc Địch sinh Ngô Phúc Minh.

34 Ngô Phúc Nhân sinh Ngô Phúc Vân.
35 Ngô Phúc Vân sinh Ngô Trung Trụ, Ngô Văn Dụ.
36 Ngô Trung Trụ sinh Văn Thụ, Văn Tuyến.
36 Ngô Văn Dụ sinh Ngô Văn Du (ks).

28 Ngô Phúc Hai sinh Ngô Phúc Bình.
29 Ngô Phúc Bình sinh Ngô Huy Nguyên,Đức Trung,Đức Dậu.
30 Ngô Huy Nguyên sinh Ngô lạc Du, Ngô Trực Ngũ, Trung Chính, Tào Chất.

31 Ngô Phúc Thiệu sinh Phúc Ân, Trực Đoán, Phúc Chính, Phúc Hoà, Tụê Chí
Huy Nho, Trực Ngũ, Lang Thịnh

33 Ngô Phúc Tính sinh Phúc Trực, Phúc Quyền, Phúc Trang, Phúc Hoà,P.Chính.
34 Ngô Phúc Chính sinh Phúc Kiện, Trọng Ý.
35 Ngô Phúc Kiện sinh Ngô Văn Luân, Ngô Văn Nhân.
36 Ngô Văn Luân sinh Văn Lân, Văn Bình, V.Thành, V.Lập.

28 Ngô Phúc Ba (mất phả thiếu 4 đời).

32 Ngô Trực Cần sinh Phúc Lộc, Phúc Tâm.
33 Ngô Phúc Lộc sinh Tự Can.

33 Ngô Phúc Tâm sinh Ngô Lương, Ngô Phúc Đinh.
34 Ngô Lương sinh Trung Duyên,Văn Năm ,Văn Sáu.

35 Ngô Trung Duyên sinh Ngô Nhân.
35 Ngô Văn Sáu sinh Văn Sức, Văn Lợi, Văn Hồng, Văn Hà.

34 Ngô Phúc Đinh sinh Ngô Văn Sửu.
35 Ngô Văn Sửu sinh Ngô Văn Lưu.
36 Ngô Văn Lưu (đ.h.), sinh Ngô Văn Phương.

28 Ngô Phúc Luật sinh Ngô Thuần Đoan.
29 Ngô Thuần Đoan sinh Ngô Phú Lương.
30 Ngô Phú Lương sinh Ngô Phúc Triết.
31 Ngô Phúc Triết sinh Ngô Phúc Quang,Ngô Phúc Đan.
32 Ngô Phúc Đan sinh Ngô Phúc Đạt.
33 Ngô Phúc Đạt sinh Ngô Trung Ý (t.t.),Văn Thạch,Trung Khánh,Phúc Tước.

34 Ngô Văn Thạch sinh 8 gái có Ngô Thị Ngoan (bs).

34 Ngô Trung Khánh sinh Ngô Quý Nhân,Vi Tín,Vi Ái,Vi Tộ.

35 Ngô Quý Nhân Đại học y Tuệ tĩnh, sinh Hồng Nghi,Ngô Vi Tiết ,Ngô Vi Cận
Ngô Vi Nghiêm và một gái (đều Đại học).
35 Ngô Vi Tín sinh Ngô Vi Nhiên,Ngô Vi Tăng,Ngô Vi Tế .
Ngô Vi Ái sinh Ngô Quý Ân.
Ngô Vi Tộ sinh Ngô Quý Phiên,Ngô Quý Phương.

34 Ngô Phúc Tước sinh Ngô Quý Phức.
35 Ngô Quý Phức sinh Ngô Quý Tuấn.

26 Ngô Nhân Phúc sinh Ngô Đức Hậu,Ngô Đức Đôn.

27 Ngô Đức Hậu sinh Ngô Bá Uông,Ngô Trọng Hồng.
28 Ngô Bá Uông hiệu Kỳ Đức, Cử nhân khoa Bính Tý(1756), Hiến sát sứ Sơn Tây,
sinh Ngô Đức Nghi,Ngô Đôn Nhất.
29 Ngô Đức Nghi Cử nhân, Tri huyện Đồng Hỷ, sinh Ngô Thận Trai,Ngô Đôn Đức,
Ngô Nhân Trực.

30 Ngô Thận Trai Tú lâm đường, sinh Ngô Trí Hiên,Ngô Thuần Đức.
31 Ngô Trí Hiên Tú lâm đường.
31 Ngô Thuần Đức Cử nhân tu nghiệp Quốc Tử Giám, Bảo thanh Hầu.

30 Ngô đôn Đức Tú lâm đường (mất phả ba đời).

34 Ngô Xuân Trường
35 Ngô nghiệp Túc sinh Ngô Xuân Quảng.
36 Ngô Xuân Quảng sinh Ngô Xuân Yên.

30 Ngô Nhân Trực Tú lâm đường,sinh Ngô Trọng Vũ.
31 Ngô Trọng Vũ sinh Ngô Phúc Thực.
32 Ngô Phúc Thực sinh Ngô Phúc Nhàn.
33 Ngô Phúc Nhàn sinh Ngô Phúc Đức.
34 Ngô Phúc Đức sinh Xuân Huyên, Văn Dị, Xuân Thường.
35 Ngô Xuân Huyên sinh Xuân Hiên, Xuân Thìn.

36 Ngô Xuân Hiên sinh Xuân Hậu, Xuân Hồng.
36 Ngô Xuân Thìn sinh Xuân Hùng, Xuân Mạnh, Xuân Dũng, Xuân Huấn.

35 Ngô Văn Dị Tú tài Bính Ngọ 1906, sinh Văn Mậu, Thế Kỷ.
36 Ngô Văn Mậu sinh Ngô Xuân Bật, Xuân Mỹ, Xuân Bi, Xuân Tiệp.
36 Ngô Thế Kỷ Đại tá quân đội.

28 Ngô Trọng Hồng Cử nhân, Tri huyện Cảnh Thuần ,sinh Ngô Bá Hàn.
29 Ngô Bá Hàn hiệu Đôn Mẫu,Cử nhân ,Tri huyện Tư nông, sinh Ngô Bá Hoành,
Quý Ưng, Quý Nguyên.

30 Ngô Bá Hoành Nho sinh trúng thức, sinh Xuân Lãng,X.Hoè,X.Thanh,X.Bình
X.Chỉnh,X.Đinh.

31 Ngô Xuân Lãng sinh Ngô Xuân Thông.
32 Ngô Xuân Thông sinh Xuân Phi, Xuân Khang.
33 Ngô Xuân Phi sinh Tự Hương, Tự Hai, Xuân Ích.

34 Ngô Tự Hương sinh Tự Thụ, Tự Thuẫn.

35 Ngô Tự Thụ sinh Ngô Quý Văn.
36 Ngô Quý Văn sinh Quý Thơ, Quý Viên, Quý Biện.

35 Ngô Tự Thuẫn sinh Ngô Quý Cậu.
36 Ngô Quý Cậu sinh Ngô Quý Thế.

34 Ngô Xuân Ích sinh Quý Lâm, Quý Lịch.
35 Ngô Quý Lịch sinh Quý Cảnh, Quý Khách.

33 Ngô Xuân Khang sinh Quý Dương.
34 Ngô Quý Dương sinh Quý Sang.
35 Ngô Quý Sang sinh Quý Cửu, Q.Soạn, Q.Kiêm, Q.Soát.

31 Ngô Xuân Hoè sinh Ngô Tự Hùng.

31 Ngô Xuân Bình (mất phả ba đời).

35 Ngô Văn Cập sinh Ngô Văn Lập.
36 Ngô Văn Lập sinh Ngô Văn Luật.

31 Ngô Xuân Chỉnh sinh Ngô Tự Thái.
32 Ngô Tự Thái Tú tài, sinh Ngô Tự Đường.
33 Ngô Tự Đường sinh Ngô Phúc Sử.
34 Ngô Phúc Sử sinh Quý Sách, Quý Sở.

35 Ngô Quý Sách sinh Quý Học, Quý Huấn.
36 Ngô Quý Học sinh Quý Tập, Q.Hợp, Q.Hà.

35 Ngô Quý Sở sinh Quý Soạn.
36 Ngô Quý Soạn sinh Quý Bài, Quý Phú, Quý Tiến.

31 Ngô Xuân Đinh Tú tài 1850, sinh Quý Tuấn.
32 Ngô Quý Tuấn sinh Quý Phấn, Quý Hai, Quý Trấn, QuýẤn.
33 Ngô Quý Phấn Tú tài 1887, sinh Quý Chất, Qúy Phác, Qúy Giáo,
Quý Quảng,Quý Cúc, Quý Chúc.

34 Ngô Quý Chất sinh Quý Chắt, Quý Sơn.
35 Ngô Quý Chắt sinh Quý Vân (Thượng tá QĐ).
35 Ngô Quý Sơn sinh Quý Lâm, Q.Hà, Q.Bí, Q.Nhạc (đh).
36 Ngô Quý Lâm Tú tài .

34 Ngô Quý Phác sinh Quý Lược, Q.Thước, Q.Thạc.
35 Ngô Quý Lược sinh Quý Lung.
35 Ngô Quý Thước sinh Quý Linh, Quý Lộc.
35 Ngô Quý Thạc sinh Sâm, Quy, Truật, Long, Trọng.

34 Ngô Quý Chúc sinh Quý Kích, Quý Dinh.
35 Ngô Quý Dinh sinh Quý Tùng, Q.Tiến

33 Ngô Quý Trấn sinh Quý Tần.
34 Ngô Quý Tần sinh Quý Kế, Quý Bảng.
35 Ngô Quý Kế sinh Quý Tiếp.
35 Ngô Quý Bảng sinh Quý Bài, Q.Học, Tập, Toàn, Viện, Trọng, Tài.

33 Ngô Quý Ấn sinh Quý Chương, Quý Khuê.
34 Ngô Quý Chương sinh Quý Hồng, Q.Ty, Q.Tý, Q.Tỵ.
35 Ngô Quý Hồng sinh Ngô Quý Chiến.
35 Ngô Quý Ty Pts.PGS. Thượng tá.

34 Ngô Quý Khuê sinh Quý Sích, Quý Sắc (ls), Quý Súc, Sảng, Sản (đh)
35 Ngô Quý Sích sinh Quý Sáng, Quý Xuyên, Quý Sâm.

30 Ngô Quý Ưng Nho sinh trúng thức ,Huấn Đạo phủ Bắc Hà, mất phả hai đời.

33 Ngô Phúc Chất sinh Phúc Triết, Trực Phê.
34 Ngô Trực Phê sinh Ngô Quý Ninh.

30 Ngô Quý Nguyên sinh Ngô Quý Mẫn.
31 Ngô Quý Mẫn sinh Đôn Thành, Quý Hai,Định Long, Thanh Khiết,
Giản Diệp, Qúy Sáu.

32 Ngô Đôn Thành Cử nhân khoa Đinh Mùi 1847,Tri phủ Đoan Hùng bị giáng xuống
làm Tri huyện Thanh Ba, sinh Ngô Tự Đoan, Tự Thịnh, Phúc Hy.

33 Ngô Tự Đoan sinh Tự Tung, Tự Dương.
34 Ngô Tự Dương sinh Quý Thịnh, Quý Bường.

33 Ngô Tự Thịnh sinh Ngô Quý Thỉnh.
34 Ngô Quý Thỉnh sinh Ngô Quý Thường.

33 Ngô Phúc Hy sinh Ngô Quý Tuất.
34 Ngô Quý Tuất sinh Quý Việt ,Quý Đức.

32 Ngô Định Long sinh Quý Dĩnh.
33 Ngô Quý Dĩnh sinh Quý Sắt.

32 Ngô Thanh Khiết Tú tài Đinh Mùi 1847, sinh Phúc Nhạ ,Quý Đoá.
33 Ngô Phúc Nhạ sinh Quý Liêm,Quý Tiến,Quý Thiếp,

34 Ngô Quý Liêm sinh Quý Quyên,Quý Uyên,Quý Thuyên,
35 Ngô Quý Quyên sinh Quý Nguyên,Quý Phái,
35 Ngô Quý Uyên (đ.h.)
35 Ngô Quý Thuyên sinh Quý Quyết.

34 Ngô Quý Thiếp sinh Quý Hiệp.
35 Ngô Quý Hiệp sinh Quý Đăng.

33 Ngô Quý Đoá sinh Quý Đại.
34 Ngô Quý Đại sinh Quý Bình,Quý Định,Quý Lý,Quý Chỉ,Quý Viên,Quý Vinh.

32 Ngô Giản Diệp Tú tài Đinh Mùi 1847, sinh Tự Khiêm, Phúc Khơm.
33 Ngô Phúc Khơm sinh Quý Nhu,Quý Vu,Quý Lê.
34 Ngô Quý Nhu sinh Quý Hương.
35 Ngô Quý Hương sinh Quý Lâm.

32 Ngô Quý Sáu sinh Tự Lượng,Tự Cừu.
33 Ngô Tự Cừu sinh Quý Cầu,Quý Cứu.
34 Ngô Quý Cứu sinh Quý Bổ,Quý Song,Quý Bắc.
35 Ngô Quý Bổ Đ.h. sinh Quý Thành,Quý Khanh.
35 Ngô Quý Song Đh. sinh Quý Tùng.

27 Ngô Đức Đôn (Mất phả 6 đời).

34 Ngô như Trác sinh Ngô như Kỳ ở Bắc thái.

32 Ngô Phúc Cừu Tú tài, sinh Ngô Tự Chúc.
33 Ngô Tự Chúc sinh Ngô như Cơ.
34 Ngô Như Cơ sinh Như Toàn,Như Hoàn,Như Cư .

35 Ngô Như Toàn Tham biện nông, Ks, sinh Thời Tuyên.
36 Ngô Thời Tuyên Đại học.

35 Ngô Như Hoàn sinh Ngô Cảnh Tuân (Pts).

35 Ngô Như Cư Sinh Như Doanh,Như Hoà.
36 Ngô Như Doanh Đại học.

35 Ngô Như Lương sinh Như Sơn,Như Hà,Như Khởi.

34 Ngô Như Kiều sinh Văn Nghĩa (ls),Văn Phi (đi Hậu giang).
34 Ngô Văn Tá sinh Văn Tứ,Văn Ngũ.

25 Ngô Phúc Mỹ Con trai Ngô Nhân Trừng
(Mất phả 9 đời).
35 Ngô Trung Tài,
và Ngô Trung Cách (đều thất truyền).
36 Ngô Trung Chí sinh Ngô Văn Thế.
36 Ngô Phúc Đệ sinh Ngô Văn Bi,Văn Bình,Văn Bảy,Văn Tý.

33 Ngô Phúc Hài sinh Phúc Lũng,Phúc Lý.
34 Ngô Phúc Lũng sinh Trực Cương.
35 Ngô Trực Cương sinh Phúc Thái,Phúc Chỉ (Vĩnh phú).

34 Ngô Phúc Lý sinh Trung Chính,Trung Lưu.
35 Ngô Trung Chính sinh Lương Lệ,Lương Thiện.
36 Ngô Lương Lệ sinh Lương Trung,Lương Canh (đi Đồng nai),Lương Cung Lương Long (Bs).
36 Ngô Lương Thiệu sinh Lương Thê,Lương Cơ,Lương Lê.

31 Ngô Tú Hai sinh Đồ Cả, Đồ Hai.
32 Đồ Cả sinh Ngô Tự Cả,Ngô Tự Hai.

33 Ngô Tự Cả sinh Ngô Trực Tái.
34 Ngô Trực Thái sinh Ngô Trọng Ngọc.

33 Ngô Tự Hai sinh Ngô cả Tế,Ngô Trọng Hới.
34 Ngô Cả Tế sinh Ngô Trung Định.
34 Ngô Trọng Hới sinh Ngô trúc Giớí.

31 Ngô Đồng Tri sinh Ngô Trực Thủng.

32 Ông Đồ Hai sinh Phúc Cần.
33 Ngô Phúc Cần sinh Bộc Lưng,Phúc Cầu,Ba Đức.

34 Ngô Bộc Lưng sinh Phúc Tỉnh.
35 Ngô Phúc Tỉnh sinh Trung Bình.

34 Ngô Phúc Cầu sinh Phúc Kiều.
35 Ngô Phúc Kiều sinh Trung Hậu.
36 Ngô Trung Hậu sinh Văn Bảy.
37 Ngô Văn Bảy sinh Văn Lực.

34 Ngô Ba Đức sinh Cả Tộ,Tự Viên (đi Lạng Sơn).

25 Ngô Phúc Mẫn Con trai Ngô Nhân Trừng,
(Mất phả đến đời 34).

35 Ngô Sỹ Thân sinh Ngô Sỹ Nhân,Ngô Sỹ Tân( đã có hai trai).
36 Ngô Sỹ Nhân sinh Sỹ Đại.
35 Ngô Sỹ Toán sinh Sỹ Hồng và một liệt sỹ.
35 Ngô Sỹ Lý sinh Sỹ Độ.
36 Ngô Sỹ Độ sinh Sỹ Quảng .

Dòng thứ: Ngô Nhân Hải

23 Ngô Nhân Hải Con Ngô Ngọc,Hoàng giáp 1508,Giám sát Ngự sử,
sinh con trưởng Ngô Nhân Trừng,con thứ Ngô Phúc Thọ.

24 Ngô Phúc Thọ sinh Ngô Phúc Chính.
25 Ngô Phúc Chính sinh Ngô Phúc Tuy.
26 Ngô Phúc Tuy sinh Ngô Phúc Cẩn.
27 Ngô Phúc Cần sinh Ngô Phúc Thuần.
28 Ngô Phúc Thuần sinh Ngô Phúc Hoạt,Ngô Phúc Khải.
29 Ngô Phúc Hoạt sinh Ngô Phúc Trực.
30 Ngô Phúc Trực sinh Ngô Phúc Thịnh.
31 Ngô Phúc Thịnh sinh Phúc Lượng,Phúc Năng,PhúcThực.

32 Ngô Phúc Lượng sinh Ngô lạc Du.
33 Ngô Lạc Du sinh Phúc Tính,Phúc Khang,Phúc Mỳ

34 Ngô Phúc Tính sinh Ngô Phúc Túc.
35 Ngô Phúc Túc sinh Phúc Thoả,Văn Đáng.

36 Ngô Phúc Thoả sinhTrung Thuận,Trung Hòa,Văn Bình. .
37 Ngô Trung Thuận sinh Văn Chắt (Ls),Văn Bé,Văn Chất.
37 Ngô Trung Hòa sinh Văn Hùng,Văn Minh,Văn Tá,Văn Toàn.
37 Ngô Văn Bình sinh Văn Long.

36 Ngô Văn Đáng sinh Văn Giá,Văn Cách (Ls),Văn Đảng,Văn Sáu.

34 Ngô Phúc Mỳ sinh Phúc Hậu,Phúc Sinh(t.t.),Phúc Cơ.
35 Ngô Phúc Hậu sinh Phúc Thành.
36 Ngô Phúc Thành sinh Phúc Thi,Phúc Cầm.

37 Ngô Phúc Thi sinh Văn Chức (Ls),Văn Cương (Ls).

37 Ngô Phúc Cầm sinh Văn Sắc,Văn Tại,Văn Nghệ (Ls),Văn Quẩy.

38 Ngô Văn Sắc (Đh),sinh Văn Tần,Văn Tuấn,Văn Tân,Văn Tiến,Văn Thuyết.
38 Ngô Văn Tại sinh Văn Kiêu,Văn Nam.
38 Ngô Văn Quẩy sinh Văn Quản,Văn….

32 Ngô Phúc Năng sinh Ngô Phúc Uẩn,Ngô Phúc Hoà.
33 Ngô Phúc Uẩn sinh Ngô Phúc Thứ.
34 Ngô Phúc Thứ sinh Phúc Đệ,Phúc Như (ở Việt Yên).
35 Ngô Phúc Đệ sinh Phúc Huynh,Phúc Tư.
36 Ngô Phúc Huynh sinh Phúc Hữu.
37 Ngô Phúc Hữu sinh Phúc Thảo,Văn Dư.

33 Ngô Phúc Hoà sinh Phúc Tri,Phúc Học.
34 Ngô Phúc Tri sinh Trung Mão,Trung Tý,Trung Dần.
35 Ngô Trung Mão sinh Trực Trình,Trung Lạc.
36 Ngô Trung Lạc sinh Văn An.

35 Ngô Trung Tý sinh Trực Ngọc.
36 Ngô Trực Ngọc sinh Văn Được,Văn Ngân,Văn Hà.

32 Ngô Phúc Thực sinh Phúc Thường,Trung Tín,Trung Trí.

33 Ngô Phúc Thường sinh Phúc Trinh,TrUng Châu.
34 Ngô Phúc Trinh sinh Trung Cường,Phúc Bằng,Trung Lương.
35 Ngô Phúc Bằng sinh Phúc Bài,Trực Bình.
36 Ngô Phúc Bài sinh Văn Châu (Ls),Văn Quảng,Văn Ảnh ,Văn Bảy( đh.).
37 Ngô Văn Châu sinh Văn Lại,Văn Lợi.
38 Ngô Văn Lại sinh Văn Linh,Văn Thông,Văn Đồng.

37 Ngô Văn Quảng sinh Văn Thanh,Văn Toán.
37 Ngô Văn Ảnh sinh Văn Vĩnh,Văn Viễn,Văn Kiêu,Văn Long.

33 Ngô Trung Trí sinh Phúc Chính,Phúc Nhẽ,Bá Mắm.
34 Ngô Phúc Chính sinh Trực Tả,Văn Đính.
35 Ngô Văn Đính sinh Văn Quang.
36 Ngô Văn Quang sinh Văn Trung,Văn Thu.

34 Ngô Bá Mắm sinh Ngô Văn Tàu.
35 Ngô Văn Tàu sinh Ngô Văn Tạo.
36 Ngô Văn Tạo sinh Ngô Văn Cải (dời ở Vĩnh Phú )
2.2.2. Họ Ngô Lý Trai Đông Thành
Dòng Ngô Định (Đời 22)
huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An

22 Ngô Định Thủy Tổ, con thứ Ngô Nguyên và bà Chu Thị Bột ở xã Vọng Nguyệt
huyện Yên Phong trấn Kinh Bắc thiên cư vào Lý Trai thời Lê sơ (khoảng 1460-1470),chức vụ Tổng chánh,húy Công Định.
Lý do thiên cư:
Theo phả cũ ,vì anh em sớm mồ côi cha mẹ,anh là Ngô Ngọc được cậu nuôi ăn học,em là Ngô Định làm con nuôi một người quê Đông Thành đang ở trong quân ngũ đóng ở Kinh Bắc,khi bố nuôi về hưu theo bố nuôi về quê mới,lớn lên làm Chánh tổng .
Bà Đậu Thị Từ Thúc sinh ba con trai :
Ngô Quang Tâm,
Ngô Quang Tổ
và một thất truyền.

23 Ngô Quang Tổ Đỗ Tiến sĩ năm Mậu Thìn 1508 Thời Uy mục Đế, làm Hiến sát
sứ Đạo Quảng Nam.Gặp lúc Nhân dân địa phương nổi dậy chống
quan lại triều đình,trấn lỵ thất thủ,Đô Tổng binh sứ, Thừa Chánh
sứ bị hại,vì làm quan liêm chính Ngô Quang Tổ không bị hại vẫn
trở lại làm Việc như trước.Nhân khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê,
ông bỏ quan trở về Nghệ An, sinh sống ở huyện Hưng Nguyên.
Có ba con trai :
Ngô Quang Thông,
Ngô Trí Cẩn,
Ngô Quang Tôn.
Ngô Trí Cẩn dời ở huyện Yên Thành sau thành một chi riêng.
Dòng dõi ở Hưng Nguyên Thành một họ lớn,mất liên lạc với họ gốc
Lý Trai mấy trăm năm,ngày nay mới tìm liên lạc lại được.
Hiện nay ở xã Hưng Cái và vài xã lân cận .
Chưa viết xong thế thứ chi tiết.

23 Ngô Quang Tâm Thuỵ hiệu: Bột hải quận Đệ tam lang Ngô Quý công, huý Tô phủ
quân,mất 13 tháng 8,Bà họ Lê huý Từ Nhân,mất 24 tháng 8 ,
mộ hai ông bà táng tại nghĩa trang Diễn Nguyên, sinh Văn Lưu,
Văn Cảnh (thất truyền),Quang Tân (Tỏan) ,Quang Lượng(tt)
và 3 con gái.

24 Ngô Quang Tân Tiền Bột hải quận Ngô Quý công, tự Phúc Đức, huý Toản,mất
ngày 2 tháng 6,mộ tại nghĩa trang xã Diễn Nguyên,bà họ Phan,
húy Bản Thiện,mất ngày 9 tháng 3,táng tại xã Diễn Hạnh,
sinh Trí Trạch, Tiên Gián và một trai một gái thất truyền.

25 Ngô Trí Trạch Sinh Kỷ Tỵ 1509,trúng Tứ trường, ở nhà dạy học,tặng phongĐặc
tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu,truy phong Thái Bảo Đạo nguyên
Bá,mất ngày 9 tháng 6,mộ tại nghĩa trang xã Diễn Kỷ.
Bà Nguyễn Thị Từ Huệ,mất 13 tháng 4,mộ tại xã Hợp Thành
huyện Yên Thành, sinh Ngô Trí Tri và một người không rõ tên thất
truyền ,và 1 con gái.

25 Ngô Tiên Gián sinh 1516,sinh Ngô Mậu Cử .

26 Ngô Mậu Cử Thi trúng Tứ trường, làm Tri châu Minh Linh,nay là huyện
Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị,vợ con ở lại không về,thất truyền từ lâu,tồn
nghi là dòng họ ở xã Vĩnh Long ngày nay.

26 Ngô Trí Tri Sinh 1537,mất 13 tháng 5 năm Mậu Thìn 1628,đỗ Cử nhân năm
1537-1628 Mậu Ngọ 1558,đỗ Tiến sĩ 1592 (khi Ông 56 tuổi),làm Quảng Nam
Đạo Giám sát Ngự sử,tăng Tả Thị lang Bộ lễ,Thái Bảo Khánh diễn
Bá.
Mộ táng tại chùa Nhãn,xã Diễn Hoa.
Bà Cao Thị ,húy Ân, sinh năm Ất Tỵ 1545,mất 16 tháng 7.mộ táng
tại rú Bỉm,xã Hợp Thành,huyện Yên Thành.
Ông bà sinh:
Ngô Trí Trung,
Ngô Trí Hoà,
Ngô Sỹ Tá,
Ngô Thị Duyên.

27 Ngô Trí Trung Sinh năm Bính Thìn 1556,hiệu Minh Đạo,húy Liêm.Cùng em Trí
Hòa thi trúng Tứ trường 1582,làm Huyện thừa huyện Thạch Hà,
tước Triều Vân Nam.
Mất ngày 1 tháng 12,mộ táng tại nghĩa trang xã Diễn Nguyên.
Bà Trần Thị Mai,mất ngày 1 tháng 2,mộ tại thôn Trang cát xã Diễn
Hạnh,
sinh Sỹ Hiền, Sỹ Lâm,Sỹ Năng,Thị Oanh.

28 Ngô Sỹ Lâm sinh Văn Lễ.

28 Ngô Sỹ Hiền Thi trúng Tứ trường, làm Huyện thừa, tước Thuận lộc Nam,sinh
Sỹ Huyền, Sỹ Lộc, Sỹ Khuê, Sỹ Dương,Chân An (bốn người
sau thất truyền),Thị Sự.
29 Ngô Sỹ Huyền con cháu ở xã Lăng thành huyện Yên Thành.

28 Ngô Sỹ Năng Thi trúng Tứ trường, làm Huyện thừa huyện Tương Dương, tước
Cẩm tú Nam,bà Vũ Thị Từ Đức sinh Quang Huy (Hương cống),
Sỹ Lệ (Tú tài),Sỹ Đạt (Tú tài),Sỹ Chỉ (Tú tài),Sỹ Huê,
Sỹ Khảo (Tú tài),Công Thắng.

29 Ngô Quang Huy Hương cống,Trúng Tứ trường,sinh Trí Ý.
29 Ngô Sỹ Lệ Tú tài,sinh Chính Đạo.
29 Ngô Sỹ Đạt Tú tài,huý Liên, sinh Đạo Chính.
29 Ngô Sỹ Chỉ Tú tài,trúng Tam trường,bà Phạm Thị Ân sinh Quang Thông ,con
cháu ở Đô Lương ,Anh Sơn, Hương Khê,Trí Cẩn về Diễn nguyên,
Quang Tôn về Phú long,Hưng Nguyên.
29 Ngô Sỹ Huê Trúng Tứ trường,
sinh: Ngô Công Trạc Tiến sĩ 1694,
Ngô Hưng Giáo Tiến sĩ 1710
Ngô Trí Khiêm Tri huyện .
29 Ngô Sỹ Khảo Trúng Tam trường,
29 Ngô Công Thắng Con út Ngô Sỹ Năng,về ở xã Diễn kim,sinh :Đạo,Thọ,Minh,
Triều,Lộc.
30 Ngô Công Trạc Sinh 1662,Tiến sĩ 1694,Hiến sát sứ
30 Ngô Hưng Giáo 1666-1710,Tiến sĩ 1710
30 Ngô Văn Đạo , bà Ngô Thị Mạc(?),phái Diễn Kim thờ.
Ngô Phúc Thọ phái Diễn Hải thờ.
Ngô Phúc Minh Chưa rõ ở đâu.
Ngô Phúc Triều Xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân.
Ngô Trí Lộc xã Xuân Thành huyện Yên Thành thờ.

27 Ngô Trí Hoà Sinh 21 tháng 11 năm Ất Sửu 1565,mất ngày 21 tháng 11 năm ất
1565-1625 sửu 1625, đỗ Đệ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) năm1592.
Hai bố con đỗ đồng khoa.
Thượng thư Bộ hộ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám,Phú Xuân Hầu.Truy
phong Xuân Quận công.
Bà cả Phạm Thị Ngọc Đường kỵ ngày 1 tháng 9,
Bà thứ Vũ Thị Quý và Vũ Thị Hương
Sinh Sỹ Tuấn, Sỹ Vinh, Thị Hoa,Thị Sen, Thị Suối,Thị Uyên,Sỹ Tín.

28 Ngô Sỹ Tuấn Hiến sát Phó sứ, Vân Lý Nam, sinh Chân Tính, Nho Thể, Trí Mỹ
cụ Tú Hồng, cụ Tú Nhẫn( hai cụ sau chưa rõ ở đâu).
29 Ngô Chân Tính Bà Nguyễn Thị Dụ Đức sinh Nhân Thọ,Trí Thiện,Tú Tường.

30 Ngô Nhân Thọ Trí Trợ,họ Lý Trai thờ
Ngô Trí Thiện Cố Đồ Ninh,Diễn xuân thờ
Ngô tú Tường Diễn xuân thờ.

29 Ngô Nho Thể mất ngày 3 tháng 7,sinh Sỹ Đạo,Sỹ KHuynh,Sỹ Trạc.
30 Ngô Sỹ Đạo Hiện do Ngô Trí Lương họ Diễn Kỷ thờ
Ngô Sỹ KHuynh Hiện do Ngô Trí Phú nt
Ngô Sỹ Trạc Hiện do Ngô Trí Năng nt

29 Ngô Trí Mỹ Hương cống,mất ngày 14 tháng 5. Bà Phan Thị Uyên,mất ngày 10
tháng 9, sinh Trung Tín,Trung Tính,Trí Huyên.
30 Ngô Trung Tín hiệu Phúc Thiện,do Ngô Trí Minh họ Diễn Kỷ thờ.
Ngô Trung Tính hiệu Phúc Diên, chưa rõ ở đâu
Ngô Trí Huyên do Ngô Trí Lực Tri họ Diễn xuân thờ.

28 Ngô Sĩ Vinh Thụy Đạo Giai,hiệu Vân Trai,húy Đăng.Sinh giờ hợi,ngày giáp
ngọ,tháng 8 năm Tân Mão,niên hiệu Quang Hưng năm thứ 14
(1591), mất ngày 20 tháng 3,thọ hơn 80 tuổi.
Tiến sĩ khoa Bính Tuất 1646,Lưỡng quốc Công thần,
Đôn hậu Tán trị Công thần,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu,
Quang Lộc Tự khanh, Lý hải Hầu,Công bộ Hữu Thị lang
Có nhiều bà, sinh 13 con trai:
Ngô Sỹ Lâm Hiệu Già Ngạn tiên sinh
Ngô Sỹ Liêu Trúng Tứ trường,hiệu Già Hai tiên sinh
Ngô Công Lượng Hiệu Xã Quan Tiên sinh
Ông già Bảo- Chưa rõ ở đâu
Ông năm Cảnh- Chưa rõ ở đâu
Cụ Trùm Sáu Hiệu Quan ba tràng Tiên sinh
Ngô Sỹ Ái Hiệu Bảy Tảo Tiên sinh
Ngô Trí Tám Hiệu Già Tám Tiên sinh
Ông già Chín- Chưa rõ ở đâu
Ông Mười- Chưa rõ ở đâu
Ông đồ Doãn Công-Chưa rõ ở đâu
Ông già Sâm Chưa rõ ở đâu
Ông Học con trai thứ 13
và 10 con gái.

29 Ngô Sỹ Lâm Hiệu Già Ngạn tiên sinh,mất ngày 3 tháng 11,mộ táng tại
Thượng tầu,xã Diễn Kỷ.,Bà Nguyễn Thị Ngộ,mất ngày 8 tháng 4.
Sinh Châu Ngọc,Sỹ Bân,Sỹ Cơ,Sỹ Chông ,Sỹ Suất (tt).
30 Ngô Châu Ngọc Hiện do Ngô Sỹ Nhân, xã Diễn Kỷ thờ phụng.
30 Ngô Sỹ Bân Hiện do Ngô Sỹ Dương, xã dịễn kỷ thờ phụng.
30 Ngô Sỹ Cơ Hiện do Ngô Sỹ Sủng xã Diễn xuân thờ phụng.
Ngô Sỹ Suất chưa rõ.

29 Ngô Sỹ Liêu Trúng Tứ trường,hiệu Già Hai tiên sinh,mất ngày 5 tháng 4.
Bà Trần Thị Ý mất 29 tháng 3.Sinh Huyền Thông tự Nhân Huệ
(do Ngô Trí Diễn xã Diễn Kỷ thờ),Khoan Nhã mất 25 tháng 9.

29 Ngô Công Lượng hiệu Xã Quan Tiên sinh,mất ngày 26 tháng 7,sinh Nhân Thọ.
30 Ngô Nhân Thọ Bà Nguyễn Thị Mẫm,sinh Sỹ Tường,Phúc Hiệu,Phúc Xuân,
Danh Phương.
31 Ngô Sỹ Tường Hiện do Ngô Trí Nhã xã Diễn Kỷ thờ.
31 Ngô Phúc Hiệu Hiện do Ngô Trí Cán, nt
31 Ngô Phúc Xuân Hiện do Ngô Trí Mùi nt
31 Ngô Danh Phương Hiện do Ngô Trí Đợi xã Diễn lâm thờ.

29 Cụ Trùm Sáu Hiệu Quan ba tràng Tiên sinh,con cháu ở Nam lâm,
( Diễn lâm thờ).
29 Ngô Sỹ Ái hiệu Bảy Tảo Tiên sinh,sinh Ngô Trí Tài.Hiện do Ngô Trí Tiếng
ở làng Kim lung, xã Ma hùng huyện Quỳnh Lưu thờ.
29 Ngô Trí Tám hiệu Già Tám Tiên sinh,sinh Ngô Phúc Thiên (Hiện do Ngô Trí
Tôn xã Diễn hải thờ).
29 Ông Học Làng Sét xã Thịnh liệt huyện Thanh Trì.

(Còn mấy người chưa rõ ở đâu: Ông già Bảo-Ông năm Cảnh-
Ông già Chín-Ông Mười-Ông đồ Doãn Công-Ông già Sâm).

29 Ngô Sỹ Tín Con út Ngô Trí Hòa,thụy Thuần Mỹ,hiệu Văn Đức,mất 18 tháng
6,mộ táng tại Rầm Hối xã Diễn Kỷ.Nho sinh trúng thức,
Hoàng tín Đại phu, Tri huyện , Bà Ngô Thị Từ Yêu,
mất 13 tháng 3,sinh Nhã Lượng,Chiêu Phái.

30 Ngô Nhã Lượng huý Phúc Ân (Phúc Đơn),mất 21 tháng 1,bà Nguyễn Thị Từ
Thận, sinh Trí Hiệu,Trí Tuyển (cả hai phạp tự),
Cường Trực,Đức Triêm,Trí Việt (phạp).
31 Ngô Cường Trực Hiện do Ngô Trí Tâm xã Diễn lâm thờ.
31 Ngô Đức Triêm Hiện do Ngô Trí Châu xã Diễn Tháp thờ.

30 Ngô Chiêu Phái Mất 8 tháng 4,bà Ngô Thị Triềm,sinh Ngô Trí Thức
Hiện do Ngô Trí Vũ xã Diễn Tháp thờ.

27 Ngô Sỹ Tá Con trai Ngô Trí Tri
Tiền Bột hải quận Thái bộc tự thừa,
sinh Ngô Sỹ Hạ, Ngô Sỹ Cầu đều thất truyền.

29 Ngô Quang Tôn Tứ trường 1648,sinh Ngô Quang Tố
30 Ngô Quang Tố ,sinh Công Trạc Tiến sĩ 1694 và Hưng Giáo Tiến
sỹ 1710.
(Ngô Quang Tố trùng với Ngô Sỹ Huê,con thứ Ngô Sỹ Năng cháu Ngô Trí Trung)
Chú thích: Trên đây là theo phả cũ của họ Lý Trai,hiện nay anh Ngô Trí Định mới nghiên cứu phát hiện có Ngô Quang Tôn và Ngô Trí Cẩn là con Ngô Quang Tổ đời
23 , Ngô Quang Tôn ở Hưng Cái,Ngô Trí Cẩn ở Yên Thành,có thể là do trùng tên người cùng họ cho nên lâu nay có sự nhầm lẫn giữa hai dòng:dòng Ngô Trí Hoà Ngô Sĩ Vinh và dòng Ngô Quang Tổ,còn phải tìm thêm tư liệu cụ thể.

Chi Diễn Nguyên họ Ngô Lý Trai-Đông Thành
huyện Diễn Châu,Nghệ An

30 . Ngô Trí Cẩn Thủy Tổ,Con trai Ngô Chiêu Phái,cháu Ngô Sỹ Tín,chắt nội
Ngô Sỹ Năng,tằng tôn Ngô Trí Trung,Huyền Tông Ngô Trí Trạch.
Giám sinh,Tham chính sứ triều Lê trung hưng.
Bà Lê Thị Loan,sinh sáu con trai,nay thành sáu tiểu chi:
Trí Kiên,Sỹ Chất,Quang Huy,Trọng Cơ,Trọng Chính,Trọng Lĩnh.

Ở đây có sự nhầm lẫn:Chiêu Phái ở phần trên thuộc đời 29,là con Ngô Sỹ Tín,cháu Ngô Trí Hòa chắt Ngô Trí Tri ,và Ngô Trí Tri là con Ngô Trí Trạch.Còn Ngô Sỹ Năng là con Ngô Trí Trung,anh Ngô Trí Hòa.
( Tạm sửa:chắt nội Ngô Trí Hòa,tằng tôn Ngô Trí Tri,)
Tiểu chi trưởng

31 Ngô Trí Kiên Chấn vũ Bá,Ưu binh,bà húy Đóa sinh bốn trai hai gái:
Trọng Sùng,Trí Mỹ,Sỹ Ưu,Sỹ Sành,Thị Văn,Thị Xứng.
Tất cả thiên cư sang thôn Yên do, tổng Hoàng trường.Cách đây
Khoảng gần 100 năm con cháu xin trở về quê hương,kỳ lão trong
họ trong làng sợ phải cấp đất đai nên không ủng hộ,bà con ngủ
lại một đêm trong Từ đường,sáng dậy đã bỏ ra đi không ai
biết đi đâu.
Tiểu chi 2
31 Ngô Sỹ Chất Nho sinh trúng thức,có ra làm quan,được phong tước Văn phương
Nam, bà Lê Thị Yên,ở xóm Đông làng Yên Nhân.Mất vào Khoảng
năm Vĩnh Trị.
Sinh các ông:Trọng Bảo,Trọng Thung,Trọng Kim,Thế Trụ.

Tiểu chi 2 phái 1
32 Ngô Trọng Bảo Phủ sinh,làm Cai tổng (hoặc Tuần tổng),ba bà,sinh một trai tên
Trọng Nghi.
33 Ngô Trọng Nghi Thập lý Hầu (?),bà Trần Thị Trị sinh Trọng Cung
34 Ngô Trọng Cung Phủ sinh,bà Nguyễn Thị Kích sinh Trọng Thụy
35 Ngô Trọng Thụy bà Tăng Thị Triều sinh Trọng Nhuận
36 Ngô Trọng Nhuận Ưu binh,Thiên hộ,bà Trần Thị Cư sinh Trọng Truy,Trọng Nở
37 Ngô Trọng Truy Ưu binh,bàNguyễn Thị Thành sinh Trọng Lịch,Trọng Lâu,
Trọng Tây
37 Ngô Trọng Nở Ưu binh,Ngũ trưởng,bà Võ Thị Thủy,vô tự,Hậu thần làng.
38 Ngô Trọng Tịch Mất 1864,bà Ngô Thị Tẩm sinh Trọng Tích (phạp),Trọng Hiền
(phạp),Trọng Quyền
38 Ngô Trọng Lâu hai bà sinh hai trai vô tự
37 Ngô Trọng Tây bà thứ Võ Thị Thiện vào ở Hà Hoàng Thạch Hà,thất truyền

39 Ngô Trọng Quyền bà tên Vinh tự Trà,sinh mười con trai gái.Con trai:
Trọng Huề (vt),Trọng Duệ,Xuân Trơn,Ngũ,Cửu,Thập và bốn gái.
40 Ngô Trọng Duệ bà PhÂn Thi Nhọan sinh Trí Vĩnh,Trí Y

41 Ngô Trí Vĩnh Mất 1951,bà Thái thi Bổng sinh Xuân Dĩnh ,Xuân Tần,
Xuân Hạng,Xuân Thạc,Thị Bốn,Thị Năm

42 Ngô Xuân Dĩnh hai bà họ Nguyễn,sinh chín con:Thu Hòa,Thị Lan,
Thị Hai,Thị Tuyết,Thị Tành,Xuân Đồng,Xuân Minh,Thị Oanh,
Xuân Luân
42 Ngô Xuân Tần sinh 1936,bà Nguyễn Thị Vơn sinh Thị Hồng Thanh,
Xuân Hà,Xuân Nguyên,Xuân Hùng
42 Ngô Xuân Hạng bà Nguyễn Thị Hòa sinh Xuân Thuận,Xuân Trang,Thị Giang,
Xuân Triều,Thị Huyền
42 Ngô Xuân Thạc bà Phan Thị Nguyên sinh Thị Nhung,Thị Dung,Thị Vân,Xuân Thìn,
Thị Thủy
43 Ngô Xuân Đồng bà Trần Thị Tiệp sinh Xuân Tân

41 Ngô Trí Y bà Nguyễn Thị Long,Nguyễn Thị Em sinh Xuân Khô,Xuân Khoa
42 Ngô Xuân Khôi bà Dõan Thị Hồng sinh Thị Hương,Thị Hợp,Xuân Minh
42 Ngô Xuân Khoa bà Đậu Thị Hải sinh Kiều Oanh,Xuân Hồng

40 Ngô Xuân Trơn sinh Trọng Nhàn,Trọng Đông
41 Ngô Trọng Nhàn bà Nguyễn thi Quý sinh Xuân Nhuần,Xuân Tường
42 Ngô Xuân Nhuần bà Nguyễn Thị Quế sinh Thị Thái,Thị Hòa,Xuân Trinh,Xuân Đức
43 Ngô Xuân Trinh bà Chu Thị Sinh sinh Thị Huệ,Xuân Bé

42 Ngô Xuân Tường bà Nguyễn Thị Nghĩa sinh Xuân Nam,Xuân Liên,Xuân Minh,
Thị Thịnh,Xuân Vương,Xuân Vĩnh,Thị Phước,Xuân Lộc

40 Ngô Trọng Đông sinh 1899,bà tên Di,sinh Thị Điển.

Tiểu chi 2 phái 2
32 Ngô Trọng Thung Thiên cư về làng Cự phú,bà Lương Thị Thuật
sinh Ngô Trọng Tôn
33 Ngô Trọng Tôn bà Nguyễn Thị Thiêm sinh Trọng Thế,Trọng Tuy
34 Ngô Trọng Thế bà Cao Thị Mãn sinh Trọng Điểm và bốn người khác mất sớm
35 Ngô Trọng Diểm bà PhÂn Thi Quyền sinh Trọng Tuân,Trọng Luân

Tiểu chi 2 Phái 3
32 Ngô Trọng Kim bà Khương Thị Hòa sinh Trọng Khanh và hai người khác mất sớm
33 Ngô Trọng Khanh Thập lý Hầu,bà Nguyễn Thị Hoành sinh Trọng Phan,
Trọng Bá (tử trận),Trọng Phiên (vt),Trọng Biên
34 Ngô Trọng Phan Hai bà Nguyễn Thị Lót và Nguyễn Thị Vẽ sinh bảy người con:
Trọng Tỉnh,Trọng Điền,Trọng Thân và bốn người khác mất sớm.
35 Ngô Trọng Điền sinh ba gái
35 Ngô Trọng Tỉnh bà Nguyễn Thị Thuận sinh Trọng Chính,Trọng Yên,Trọng Thái,
Trọng Thọ,Trọng Đỏ (bốn người sau vô tự) và ba gái.

36 Ngô Trọng Chính 1843-1921,hai bà Cao Thị Đoa và Nguyễn Thị Họanh sinh
Trọng Trùng,Trọng Chì,Trọng Thích,Trọng Thuyết,Trọng Tấn,
Trọng Côn,Trọng Cương,Trọng Tòan,Thị Thiêm,Thị Thâm,Thị Lâm

37 Ngô Trọng Côn bà Phan Thị Luật sinh Trọng Tế,Thị Lưu,Thị Nguyễn,Thị Chiển
38 Ngô Trọng Tế bà Trần Thị Dụy sinh Thị Thủy,Thị Hùy,Văn Nhu,Văn Cổn,Văn
Thạch
39 Ngô Văn Nhu bà Hoàng Thị Thuận sinh Văn Thiện,Văn Chiến,Văn Thịnh,
Văn Vượng
39 Ngô Văn Cổn bà Nguyễn Thị Chung sinh Thị Thủy,Thị Hòa,Thị Hoa,Văn Hải,
Văn Phúc
39 Ngô Văn Thạch bà Nguyễn Thị Quế sinh Thị Huệ,Thị Hiền,Văn Ngọ,Thị Ngọc,
Thị Thìn

37 Ngô Trọng Tòan bà Lê Thị Đoàn sinh Xuân Hườn,Thị Nhờn,Thị Toan,Xuân Tưỡn
38 Ngô Xuân Hườn mất 1952,bà Nguyễn Thị Thảo sinh Trí Võ,Trí Huy,
và hai người chết trẻ

39 Ngô Trí Võ sinh 1948,Kỹ sư,bà Đào Thị Thắm sinh Trí Đồng,Thị Mai,Thị Đào
39 Ngô Trí Huy bà Nguyễn Thị Hà sinh Thị Ngân,Trí Nguyên

38 Ngô Xuân Tưỡn bà Lê Thị Hoàn sinh Thị Hằng,Thị Nga,Thị Hiệu,Trí Kế.

Tiểu chi 2 phái 4

32 Ngô Thế Trụ Phủ sinh,bà Lê Thị Non sinh Thế Lộc
33 Ngô Thế Lộc Phủ sinh,hai bà Nguyễn Thị Kính và Ngô Thị Hòa sinh
Thế Bàng,Thế Khống,Thế Huệ,Thế Nhân,Thế Đôn và năm con
gái. Năm trai nay thành năm phái lớn.
34 Ngô Thế Bàng bà Nguyễn Thị Trinh sinh Thế Trạch (phạp),Thế Tế
35 Ngô Thế Tế bà Nguyễn Thị Đoan sinh sáu gái
và hai trai Công Thai ,Công Dực
36 Ngô Công Dực Bà Nguyễn Thị Thung sinh Sỹ Chuẩn,Sỹ Siêu.

37 Ngô Sỹ Chuẩn bà Ngô Thị Hằng sinh Công Cường,Sỹ Khang,Công Bính,Thị Mén
38 Ngô Công Cường bà Phan Thị Tư sinh Công Bình ,Sỹ Thạnh,Sỹ Định,
Sỹ Kỳ,Sỹ Tấm và bốn gái
39 Ngô Sỹ Thạnh bà Nguyễn Thị Tạo sinh Sỹ Điển
40 Ngô Sỹ Điển sinh Sỹ Linh (phạp)

38 Ngô Sỹ Khang bà Nguyễn Thị Vưu sinh Trí Địch,và hai trai mất sớm,năm gái
39 Ngô Trí Địch bà Phan Thị Thơng sinh Thị Phúc

(thiếu một trang)

40 Ngô Trí Hoành bà Nguyễn Thị Sỹ sinh Trí Sơn,Thị Sinh,Thị Nhung,Thị Long,Trí Hải,Thị Quy,Trí Quát
41 Ngô Trí Sơn bà Nguyễn Thị Cân sinh Thị Bằng,Thị Yến,Trí Phú,Trí Tuệ
41 Ngô Trí Hải bà họ Hà
41 Ngô Trí Quát bà Nguyễn Thị Lương

40 Ngô Trí Hòe bà Ngô Thị Tuyển sinh Sỹ Hùng,Tiến Dũng,Trí Quý,Quốc Oai,
Thị Liên

39 Ngô Trí Tiêu bà Nguyễn Thị Đích sinh Trí Hựu,Trí Cu ,Thị Bích,Thị Xích
40 Ngô Trí Hựu hai bà sinh hai trai mất sớm,sáu gái ,một con nuôi Trí Dương

Phái thứ ở Eo Đế xã Nghĩa Đồng huyện Tân Kỳ Nghệ An

38 Ngô Sỹ Siêu Con trai Ngô Công Dực,Ưu binh,bà Ngô Thị Đường thiên cư
về Eo đế,sinh Sỹ Hài
39 Ngô Sỹ Hài sinh Sỹ Thuận,Sỹ Thịnh
40 Ngô Sỹ Thuận bà tên Thưng sinh Sỹ Đạt,Sỹ Chắt,Sỹ Thành,Sỹ Gia,
Sỹ Mỹ
41 Ngô Sỹ Thành bà Nguyễn Thị Sú sinh hai trai mất sớm,Thị Mai
41 Ngô Sỹ Chắt Ngũ trưởng Ưu binh,ba bà Nguyễn Thị Quang,Nguyễn Thị Khả,
Nguyễn Thị Nghị,chuyển lên Sen sẻ định cư (năm 1890),
sinh Sỹ Văn,Sỹ Võ ,Sỹ Tập (vt)
42 Ngô Sỹ Văn 1885-1947,bà Phùng Thị Vạnh sinh Sỹ Lập,Thị Liêm,Thị Ba,
Sỹ Ngôn,Sỹ Mân
43 Ngô Sỹ Lập bà Vũ Thị Xe sinh Sỹ Nhân,Sỹ Lương (Ls),Sỹ Hậu,Sỹ Thọ,
Thị Xứ,Thị Trực,Thị Thực,Thị Tiếp,Thị Hiền

44 Ngô Sỹ Nhân bà Trần Thị Than sinh Thị Xuân,Thị Hường,Sỹ Đức
44 Ngô Sỹ Hậu bà Trịnh Thị Hiền sinh Sỹ Hưng,Sỹ Long,Sỹ Vĩ,Sỹ Bé
44 Ngô Sỹ Thọ bà tên Nga sinh Sỹ Thế,Sỹ Bé

43 Ngô Sỹ Ngôn bà Trần Thị Thinh sinh Sỹ Ngữ,Sỹ Luận,Sỹ Kỷ,Sỹ Giáp
44 Ngô Sỹ Ngữ bà Trần Thị Túng sinh Thị Thũy,Sỹ Thanh,Thị Nhúng,
Sỹ Ninh,Sỹ Thông,Thị Chung
44 Ngô Sỹ Luận bà Trần Thị Hợi sinh Thị thu,Sỹ Linh,Thị Ly,Sỹ Long
44 Ngô Sỹ Kỷ bà Bùi Thị lang sinh Thị Hương,Thị Bé
44 Ngô Sỹ Giáp bà Nguyễn Thị Xuân sinh Thị Hoa,Thị Diệu

43 Ngô Sỹ Mân bà Nguyễn Thị Lưu sinh Sỹ Quyền,Sỹ Thống,Thị Lạc,Thị Hồng,
Thị Trị,Sỹ Sáu
44 Ngô Sỹ Quyền Ls, bà Lê Thị Liệu sinh Sỹ Quý,Sỹ Phú,Thị Phúc
44 Ngô Sỹ Thống Đh,bà Nguyển Thị Liệu sinh thi Lan,Sỹ Thái,
bà thứ Nguyễn Thị Canh sinh Thị Lan,Sỹ Thái,Thị Đức,Thị Thảo
44 Ngô Sỹ Sáu bà Nguyễn Thị Nghĩa sinh Thị Giang,Sỹ Duy,Thị Nga,Sỹ Bé

41 Ngô Sỹ Mỹ bà Nguyễn Thị Tế sinh Sỹ Hỷ,Sỹ Dục
42 Ngô Sỹ Dục 1922-1994,bà họ Trần sinh ba trai hai gái : Sỹ Thâm,
Niên,Vạn,Hùng,Dũng
43 Ngô Sỹ Thâm bà tên Tuyến sinh Sỹ Thông,Sỹ Minh,Thị Bé

40 Ngô Sỹ Thịnh con trai Ngô Sỹ Hài,bà Nguyễn Thị KHuy sinh Sỹ Mồng (phạp).
Bà thứ Nguyễn Thị Oanh sinh Sỹ Tớn (tự Tán)
41 Ngô Sỹ Tớn bà Phan Thị Mồng sinh Sỹ Thưởng,Thị Đôn,Sỹ Ba,Thị Hoe
đều mất sớm,Sỹ Viên
42 Ngô Sỹ Viên bà Trần Thị Tài,sinh Sỹ Cư,Sỹ Hai,Thị Ngọ,Thị Nguyệt,Sỹ Tý,
Sỹ Mão,Sỹ Ất,Thị Nhật
43 Ngô Sỹ Tý bà Trần Thị Thắm sinh Thị Kiều,Thị Kim,Sỹ Trọng,Sỹ Nghĩa
43 Ngô Sỹ Mão bà Phạm Thị Cường sinh Sỹ Đức,Thị Mai,Thị Hồng,Thị Hà,Sỹ
Hiếu
43 Ngô Sỹ Ất bà Vương Thị Hợp sinh sáu người con không rõ tính danh

35 Ngô Thế Khống Con trai Ngô Thế Lộc,bà Nguyễn Thị Phiên và Nguyễn Thị Xuyên
Sinh Thế Lượng
36 Ngô Thế Lượng bà Ngô Thị Ve sinh Công Đàm,Công Luận,Công Tuyết
37 Ngô Công Đàm bà Thái Thị Ái sinh Trực Thanh,Thị Duyệt,Thị Tần,Thị Đối,Thị …
38 Ngô Trực Thanh bà Đỗ Thị Diễn và Trần Thị Ích sinh Thị Châu,Thị Bích,Thị Cảnh,
Thị Tư,Thị Hậu,Trực Nghĩa,Trực Lễ,Trực Trí,Thị Tín.

39 Ngô Trực Nghĩa bà Tạ Thị Trinh sinh Trực Tiêu ,Trực Phú,Trực Hội
40 Ngô Trực Phú bà Phan Thị Hạp và Bùi Thị Tải sinh Trực Tụy,Thị Huyên,Thị Đôi,
Trực Huyến,Thị Mai,Thị Trực
41 Ngô Trực Tụy bà Phan Thị Thuận sinh Thị Văn,Thị Thư,Xuân Hàm,Thị Bốn
42 Ngô Xuân Hàm Tham gia cách mạng bị Pháp đày Buôn Mê Thuật,Chủ tịch huyện ,
Khu ủy Viên,Phụ trách Tòa án Liên khu,Ủy Viên Viện Công tố TW,
Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao.
Bà PhÂn Thi Em sinh Anh Tuấn,Thị Minh Thu,Thị Minh Ngọc,
Anh Vinh (đh),Thị Minh Giang
43 Ngô Anh Tuấn Ks,bà Đào Thị Lạc có hai con không rõ tính danh
43 Ngô Anh Tú Ts tóan,bà người Đức sinh Anh Nam và một gái,định cư ở Đức

41 Ngô Trực Huyến bà Dương Thị Tư sinh Thị Khoan,Hữu Trầm,Hữu Tiềm,
Hữu Thâm,Trực Thiển,Đức Hùng,Thị Dong

42 Ngô Hữu Trầm bà Thái Thị Trúc và Cao Thị Thảng sinh Trực Tộ,Trực Túy,
Đức Thắng,Thị Lộc,Trực Tố

43 Ngô Trực Tộ bà Phan Thị Nam sinh Thị Đan,Trực Hải,Trực Lương
43 Ngô Đức Thắng bà Phan Thị Nhàn sinh Thị Hà,Trí Châu,Trí Đức
43 Ngô Trực Tố bà Lê Thị Sáu sinh Trí Dũng,Thị Huyền

42 Ngô Hữu Tiềm bà Nguyễn Thị Quyền sinh Hữu Nhuần,Trực Nhã,Thị Dịu,Thị
Hiền,Đức Hòa,Thị Thuận,Xuân Thỏa
43 Ngô Hữu Nhuần bà Nguyễn Thị Nam (đh) sinh Thị Hợi,Hữu Huynh,Hữu Phúc
43 Ngô Trực Nhã PGS-Ts,bà Nguyễn Thị Tám (đh),sinhĐức Nhà,Đức Thanh,
Anh Vinh (cả ba đều Đạc học)
43 Ngô Đức Hòa bà Nguyễn Thị Xuân sinh Đức Lạc,Đức Hồng
43 Ngô Xuân Thỏa bà Bùi Thị Hương sinh Thị Hằng,Xuân Diệp,Thị Hường,Thị Hà

42 Ngô Hữu Thâm bà Trần Thị Phen và Trần Thị Dân sinh Thị Thung,Thị Dung,Thị
Tòan,Thị Chiến,Thị Năm,Thị Sáu,Thị Bảy

42 Ngô Trực Thiển bà Đặng Thị Đồ sinh Thị Thanh,Trực Sơn,Thị Tuyết,Trực Bốn,
Trực Năm
43 Ngô Trực Sơn bà Hồ Thị Hường sinh Thị Lâm,Trực Thái,Thị Mai,Trực Dương,
Thị Bình,Thị …,bà thứ sinh Trực Hà
43 Ngô Trực Bốn bà tên Lan sinh Trực Long,Thị Danh
43 Ngô Trực Năm bà Trần Thị Tiến sinh bảy con gái

42 Ngô Đức Hùng bà Trần Thị Sáu sinh Đức Khang,Thị Hương
43 Ngô Đức Khang bà tên Huệ sinh Thị Tâm (đh),Đức Minh

39 Ngô Trực Lễ Con trai Ngô Trực Thanh,bà Nguyễn Thị Cửu sinh Trực Phổ,
Trực Hạp

40 Ngô Trực Hạp sinh Trực Mỹ và một gái
41 Ngô Trực Mỹ sinh Trực Miều,Trực Kiều
42 Ngô Trực Miều sinh Thị Mão

40 Ngô Trực Phổ bà Tăng Thị Diên sinh Trực Thịnh,Trực Thố
41 Ngô Trực Thịnh bà Đặng Thị Quyên và bà họ Nguyễn sinh Trực Lưu,Trực Lư và
một gái
42 Ngô Trực Lưu bà Trần Thị Hoan và Phan thụi Miện sinh Xuân Lai,Thị Hai,
Xuân Hai,Xuân Tài
43 Ngô Xuân Lai bà Thái Thị Điểm sinh Thị Loan,Xuân Hải,Thị Hà,Xuân Nam,
Xuân Hồng,Thị Lam
44 Ngô Xuân Hải bà Lê Thị Huyền sinh Xuân Tuấn

43 Ngô Xuân Tài bà tên Chước sinh Thị Thảo,Thị Nguyên,Xuân Tình,Thị Tâm,
Xuân Lâm
44 Ngô Xuân Tình bà Nguyễn Thị Tuyết sinh Thị Hằng

41 Ngô Trực Thố bà Phan Thị Thới sinh Xuân Trì,Xuân Nghi,Thị Ả,Thị Tư,Xuân
Niêm, Thị Sáu
42 Ngô Xuân Nghi bà Lê Thị San sinh Thị Thâm,Xuân Mịch,Trí Luyến,Xuân Hùng,
Mạnh Linh
43 Ngô Xuân Mịch bà Hà Thị Dình sinh Thị Bình,Trí Minh,Trí Trọng
43 Ngô Trí Luyến bà Nguyễn Thị Chung sinh Thị Thủy,Trí Thành,Thị Vinh,Thị Huế,
Trí Vương
43 Ngô Xuân Hùng bà Phan Thị Toan sinh Trí Trang,Thị Quỳnh Trang,Thị Hà,Thị Hân

42 Ngô Xuân Niêm bà Vũ Thị Yến và Phan Thị Hừng sinh Thị Thiềm,Xuân Tiềm,
Xuân Bé,Xuân Quế,Thị Huệ,Thị Lê.Thị i Lan
43 Ngô Xuân Tiềm bà Nguyễn Thị Thanh sinh Thị Thượng Thị Thu,Xuân Anh
43 Ngô Xuân Quế bà Ngô Thị Mạnh sinh Xuân Đông,Xuân Đức

39 Ngô Trực Trí Con trai Ngô Trực Thanh,bà Nguyễn Thị Đông và Nguyễn Thị Xơn
sinh Trực Miễn,Trực NHuyễn,Trí Lan,Trí Lơn,Trực Nhụy,Thị Miên
40 Ngô Trực Miễn bà Nguyễn Thị Đước và Phan Thị Ả sinh Thị Luyện,Trực Liên,
Thị Huyên,Thị Quyên,Trí Hài
41 Ngô Trực Liên bà Nguyễn Thị Tụy sinh một con mất sớm
41 Ngô Trí Hài bà Nguyễn Thị Minh sinh Thị Thanh,Thị Hồng

40 Ngô Trực Nhuyễn bà Cao thi Xuân sinh Thị Nhọan,Trí Thuộc
41 Ngô Trí Thuộc bà Hoàng Thị Xuân sinh Thị Cương

40 Ngô Trí Lan bà Nguyễn Thị Vợn và Nguyễn Thị Chiện sinh Thị Uyên,Trí Tấn,
Trí Tân ,thi Huân
41 Ngô Trí Tấn bà Nguyễn Thị Xan sinh Trí Hiếu,Thị Diệu,Thị Em
42 Ngô Trí Hiếu bà Vũ Thị Khang sinh Trí Minh,Thị Châu,Trí Hải,Thị Hà,Thị Hoa

43 Ngô Trí Minh bà Võ Thị Dân sinh Trí Công
43 Ngô Trí Hải bà Nguyễn Thị Vân sinh Trí Thắng,Trí Mạnh

40 Ngô Trí Lơn bà Nguyễn Thị Hồ sinh Thị Tươn,Thị Ngươn,Trí Mẫn,Trí Đường,
Trí Xuân,Trí Kiên,Thị Sáu,Thị Bảy,Trí Di
41 Ngô Trí Xuân bà Bùi Thị Lớn sinh Thị Thươn,Trí Chơn,Thị Ba,Trí Hương (ls),
Trí Lương
42 Ngô Trí Chơn bà Nguyễn Thị Thú sinh Trí Chính,Thị Chuyên
Bà thứ tên Khanh sinh Trí…,bà ba tên Kim sinh hai gái
42 Ngô Trí Lương bà tên Tọ sinh Thị Hiền,Trí Thảo

41 Ngô Trí Kiên bà Nguyễn Thị Khầm sinh Trí Thuận,Thị Thân,Trí Thông và hai
trai mất sớm
42 Ngô Trí Thuận bà Nguyễn Thị Quý sinh hai trai không rõ tên

41 Ngô Trí Di bà Nguyễn Thị Thiềng sinh một gái

40 Ngô Trực Nhụy bà Nguyễn Thị Điểm sinh Thị Minh,Trí Hưu
41 Ngô Trí Hưu bà tên Nhạ không con

35 Ngô Thế Huệ bà tên Minh sinh một trai (phạp) và hai gái
35 Ngô Thế Nhân Phả không ghi chép gì,chỉ biết có một trai không rõ tên
sinh Trọng Tuất
36 Ngô Trọng Tuất sinh Trọng Sài
37 Ngô Trọng Sài bà tên Sặt sinh Trí Thành,Trí Danh ,Thị Tọai,Trí Truật
38 Ngô Trí Truật bà Nguyễn Thị Niên sinh Trí Cống,Trí Trạc,Thị Miên,Trí Sâm
39 Ngô Trí Cống bà họ Đặng và bà Nguyễn Thị Tửu sinh Thị Nhàn,Trí Thảo,Trí Bơ,
Thị Bốn
40 Ngô Trí Thảo bà Nguyễn Thị Minh sinh Trí Hiền,Thị Hòa,Trí Hợp
40 Ngô Trí Bơ bà Nguyễn Thị Mận sinh Trí Hùng,Trí Vương

39 Ngô Trí Trạc bà Lương Thị Tiêm sinh Minh Dường,Minh Hường,Minh Khanh

40 Ngô Minh Đường bà Nguyễn Thị Hòa sinh Thị Quế,Minh Quảng,Minh Quỳnh,
Thị Hiền,Thị Thu
40 Ngô Minh Khanh bà tên Viết sinh Thị Kiều,Thị Xuân,Minh Quýnh,Minh Trọng

35 Ngô Thế Đôn bà Nguyễn Thị Chiêm sinh Thế Ân,Thế Trực,thế Kim (phạp),
Thế Loan (phạp)
36 Ngô Thế Ân bà Cao Thị Lộc sinh Thế Sửu,Thế Bích,Thế Đán,Thế Truyền
37 Ngô Thế Sửu Ưu binh
38 Ngô Thế Đạt Không rõ con ông nào trong ba ông Bích,Đán,Truyền,
sinh Trực Hùng
39 Ngô Trực Hùng sinh Trực Thóai,Thị Cồng,Thị Dọn,Thị Út
40 Ngô Trực Thóai bà Nguyễn Thị Vận sinh Trực Thuần,Trực Hộ,thụi Oanh
41 Ngô Trực Thuần bà Lê Thị Điệt sinh Trí Tòan,Xụân Đàn,Xuân Trâm,Thị Lan
42 Ngô Trí Tòan bà Phan Thị Lai sinh Thị Hoa,Thị Hòe
42 Ngô Xuân Đàn bà Nguyễn Thị Luận sinh Xuân Sáo,Xuân Nhị,Xuân Tam,
Xuân Loan,Xuân Phượng,Xuân Hiệp
43 Ngô Xuân Sáo bà Tăng Thị Hóa sinh Xuân Trì,Xuân Cảnh,Xuân Nhàn,
Xuân Quang,Xuân Sáng
43 Ngô Xuân Nhị bà Phan Thị Minh sinh Xuân Bản,Xuân Căn

41 Ngô Trực Hộ 1922-1985,bà Lê Thị Vần sinh Xuân Bộ (vt),Xuân Minh,
Xuân Châu,Thị Ngọc,Thị Kính
42 Ngô Xuân Châu bà họ Nguyễn sinh Thị Sâm,Xuân Chiên,Xuân Thiên

36 Ngô Thế Trực bà Ngô Thị Dĩnh sinh Nhiễu, Quản,Hiệp,Tỉnh
37 Ngô Công Hiệp bà họ Ngô sinh Công Phù,Công Khiển,Công Dụ
38 Ngô Công Khiển sinh Công Nghiêm,Công Quắc và bốn gái
39 Ngô Công Nghiêm sinh ba gái
39 Ngô Công Quắc sinh Công Quát,Công Hóat,Thị Ca,Thị Ky
40 Ngô Công Hóat bà Phan Thị Nhi sinh Thị Hồng,Thị Nho,Thị Huệ,Xuân Ngọ
41 Ngô Xuân Ngọ bà Phan Thị Việt sinh Xuân Vị,Xuân Tân,Xuân Hợi,Xuân Thái

38 Ngô Công Dụ sinh Công Thực,Công Truyền,Trọng Vạn,Thị Phớt
39 Ngô Công Thực bà Phan Thị Nghiên
39 Ngô Công Truyền bà Phan Thị Nghiên
39 Ngô Trọng Vạn bà Ngô Thị Cớn
Ba ông trên sinh hai người con trai Công Thú,
Công Lực không rõ con ông nào.
40 Ngô Công Thú bà Lê Thị Chiện
40 Ngô Công Lực bà Phan Thị Xanh sinh Trọng Cần,Thị Lan,Thị Lân,Thị Nhuận,
Trọng Tiễu,Thị Ngân
41 Ngô Trọng Cần bà Nguyễn Thị Trị sinh Thị Cán,Xuân Cúc,Thị Đỏ,Xuân Quách,
Thị Thưng,Xuân Lục
42 Ngô Xuân Cúc bà Đặng Thị Hườn sinh Xuân Trúc
43Ngô XuânTrúc bà Lê Thị Hòe sinh chín mất hai còn Mai,Liễu,Thái,Tấu,Trung,
Thành,Cửu

42 Ngô Xuân Quách bà Phan Thị Em

42 Ngô Xuân Lục 1930-1987,bà Nguyễn Thị Sáu sinh Xuân Lịch, Xuân Sự,
Xuân Ngự,Thân, Xuân Đèo,Xuân Quân , Xuân Quyền
43 Ngô Xuân Lịch bà Lê Thị Đào sinh Thị Lý,Thị Ngọc
43 Ngô Xuân Đèo bà họ Ngũ sinh Xuân Hưng,Xuân Hùng
43 Ngô Xuân Quân bà Lê Thị Tâm
43 Ngô Xuân Quyền bà Lê Thị Tuyết sinh Xuân Lực,Thị Vân

41 Ngô Trọng Tiễu hai bà,sinh Thị Ky,Thị Chi,Thị Ba.

2.3. Họ Ngô Thì Tả Thanh Oai (từ đời 21)
Dòng Thanh Quốc công Ngô Khế
huyện Thanh Trì Thành phố Hà Nội

Cùng xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội có hai họ Ngô khác dòng nên họ có Thủy Tổ Ngô Bồ đốc được gọi họ Ngô Vy,họ có Thủy Tổ Ngô Phúc Cơ được gọi họ Ngô Thì để phân biệt.
Hiện nay phả ký họ Ngô Thí còn tản mạn,mỗi chi phái chỉ chép chi phái mình ,không chắp nối được lên trên,nhiếu chi phái không có phả gốc,niên đại giữa các chi phái về sau không khớp,phần nhiều bị gián đoạn,nói chung sưu tầm còn thiếu nhiều,cả họ chưa thể có bản phả thống nhất thế thứ.
Dưới đây tôi tạm chép theo tư liệu mỗi chi họ,phần chung là dựa vào một bản phả chữ Hán tìm được ở huyện Tiền Hải.Bản phả này do chi Ất sao lại có bổ sung vào năm Tự Đức thứ 12-1871-(cụ Ngô Ái chép).Các thế hệ gần đây còn thiếu nhiều,sau này phải bổ sung.

21 Ngô Phúc Cơ Thủy Tổ,tên cũ là Sử Hậu,con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,
một trong 6 người con trai “cư biệt quán”,đi lánh nạn sau
vụ án Lệ Chi Viên 1442 ,đến ở làng Tó làm thợ nên phả cũ chép
là “tượng Nhân”,sinh Ngô Mỹ Đức.
22 Ngô Mỹ Đức Cao sơn cục Cục chính,bà hiệu Từ Lạc Phu Nhân, sinh Hoằng
Nghị.Tương truyền ông bà sinh trai gái 8 người (7 thất truyền).
23 Ngô Hoằng Nghị Minh dực Tướng quân Thân quân thần vũ hậu vệ Đô chỉ huy Đồng
tri, Khinh kỵ xa Uý vũ Hầu(Tòng Tam phẩm Võ giai),
bà Dương Thị Gạo hiệu Từ Chính Phu Nhân.Ông tên huý là Ngô
Đức Mưu, con thứ cụ Mỹ Đức ,làm quan Thời Hồng Đức(1460-
1496),
sinh Ngô Thế Phổ (thất truyền),con thứ là Ngô Cẩn Tiết.
24 Ngô Hiệu Tự Cẩn Tiết ,thi Hương đỗ Giải nguyên, Nho sinh trúng thức,
Sinh 2 trai:
trưởng Ngô Phúc Nguyên làm Chủ bộ huyện Ninh Sơn,
thứ Ngô Phúc Toàn .
Dòng dõi thành hai chi Dáp,ất.
Chi Dáp
25 Ngô Phúc Nguyên Tri huyện Ninh Sơn, sinh Ngô Hộ,Ngô Dụng (truyền 4 đời vô tự)
26 Ngô Hộ Tự Trung Tín,hiệu Hoà Khê,Tiến công Thị lang,Huyện thừa(Thời
Mạc) sinh Ngô Thận và 3 gái
27 Ngô Thận hiệu Trúc Thành(1587-1622),Chủ bộ,sinh Ngô Phúc Duyên,1 gái
28 Ngô Phúc Duyên sinh Thạc Tông,Thông Đạt,Thạc Nho
29 Ngô thạc Tông hiệu Nhã Thực,Tri phủ,sinh Trung Kiên,Ngô Trân,Thị Oanh
30 Ngô Trân hiệu Đan Nhạc, Cẩn sự tá lang, Huyện thừa, sinh Ngô Thì Ức và
hai gái
31 Ngô Thì Ức tự Thuần Mỹ,sinh Ngô Thì Sỹ,Ngô Tưởng Đạo,Ngô Đắc Tài.

32 Ngô Thì Sỹ hiệu Ngọ Phong,Hoàng giáp 1766.
(1726-1780) Đốc đồng Thái Nguyên, Hiến sát sứ Thanh Hóa,
Tham chính Nghệ An,Đông các Hiệu thư
Bà cả họ Ngô Vi,sinh
Thì Nhậm,Thị Thục,Thì Chí,Thì Đan,Thì Định.
Bà thứ sinh Thì Trí,Thì Hoàng,Thì Hường,Thì Nhân.

33 Ngô Thì Nhậm Tự Hy Doãn,hiệu Đạt Hiên,là nhà văn hóa tư tưởng lỗi lạc.
1746-1803 Thi Hương đỗ Giải nguyên,30 tuổi đỗ Tiến sĩ 1775.
Trước đó đỗ khoa Sĩ vọng,được bổ Hiến sát Phó Sứ Hải Dương,1776 thăng Giám sát Ngự sử Sơn Nam,Thuyên bổ Đốc đồng Kinh Bắc,kiêm Đốc đồng Thái Nguyên.1779 thăng Đông các Hiệu thư,Hàn lâm viện Hiệu thảo,làm Tư giảng dạy Trịnh Tông.Sau 1780 thăng Hữu Thị lang Công bộ.Nhà Tây Sơn phong Lại Bộ Tả Thị lang,tước Tình phái Hầu.1790 thăng Binh bộ Thượng thư , Phương Quận công.1792 làm Chánh sứ sang nhà Thanh.Mất tháng 3-1803 sau khi Nguyễn Ánh lấy được Thăng Long.
Bà cả Ngô Thị Tú Anh (họ Ngô Bách Tính),bà thứ Hoàng Thị Yến (Thị nữ trong phủ Chúa Trịnh).
Sinh :
Thì Diễn,Thì Nghi,Thì Quán,Thì Hiệu,Thì Nhiên, Thị Huệ.
34 Ngô Thì Hiệu sinh 3 trai 2 gái.
35 Ngô Thì Giai sinh Thì Định,Giáp Đậu,Thì Thông,Thị Khiêm,Thị Khanh.
36 Ngô Giáp Đậu (1853-1929) Cử nhân, Tri huyện ,Đốc học Nam Định
sinh Ngô Môn,Đức Định,Thị Ninh.
37 Ngô Môn tức Ngô Đức Kính, (1902-1985) Giám đốc nha Học chính Bắc
Việt (trước 1954).Sinh Văn Lâm,Thị Hiền,Thị Hiếu.
37 Ngô Đức Định Tri huyện Vụ Bản, sinh Ngô Chính.

Dòng Ngô Tưởng Đạo
32 Ngô Tưởng Đạo tự Văn Úc, thừa tự bên ngoại họ Tưởng,thi đỗ Á nguyên,Tri
huyện ,Đốc đồng trấn Kinh Bắc, sinh Thì Dịch, Thì Du.
33 Ngô Thì Du sinh Sùng,Vỹ,Dân,Trụ ,Viêm

34 Ngô Thì Sùng sinh Khản
34 Ngô Thế Trụ sinh Thiên
34 Ngô Thế Viêm sinh Cảnh Tính

35 Ngô Khản sinh Ngô Ôn
35 Ngô Thiên sinh Ngô Lực,Ngô Tuất
35 Ngô Cảnh Tính sinh Ngô Tín

36 Ngô Ôn sinh Cơ,Tuệ,Nhuần,Từ,Hoạt,Thị Tuấn,Dịch,Mùi
36 Ngô Lực (tự Mông Tuấn) sinh Mạnh Đà,Ngô Thông,Thị Toan,Thì Dư
36 Ngô Tuất sinh Thế Liên,Ngô Tư
36 Ngô Tín sinh Quý,Thắng

37 Ngô Cơ sinh Hải,Khê,Chỉ,Đào,Thiêm,Vinh
37 Ngô Tuệ sinh Ngô Chử,
37 Ngô Nhuần sinh Lơị (Ls),Long
37 Ngô Từ sinh Trung,Trực,Thanh
37 Ngô Mạnh Đà sinh Mạnh Lân
37 Ngô Thì Dư sinh Thành,Chúc,Thị Mại
37 Ngô Tư sinh Tân,Thanh,Bình,Thị Hoà

38 Ngô Hải sinh Hùng,Thị Liên
38 Ngô Thiêm sinh Liêm,Huấn,Thị Phương
38 Ngô Chử sinh Trường
38 Ngô Lợi sinh Hùng,Nam,Thắng
38 Ngô Long sinh Khoa
38 Ngô Trực sinh Phương,Đông
38 Ngô Mạnh Lân sinh PHương Lan,Hồng Lê,Phương Ly,Đức Lân

39 Ngô Phương Lan sinh Tuấn vũ
39 Ngô Huấn sinh Hưng
39 Ngô Phương sinh Lan

Chi ất
25 Ngô Phúc Toàn huý Đức Chiêu,Ấm quan, Viên tôn,bà họ Nguyễn, hiệu Từ Tại
Phu Nhân sinh 5 trai :Phúc Đạt,Đức Thọ,Phúc Diễn,Thủ Chân,
Đôn Tín,và 2 gái.
26 Ngô Phúc Đạt Tri huyện Văn Giang,thờ bên ngoại, cải họ Nguyễn.
26 Ngô Đức Thọ Huyện thừa huyện Thượng nguyên.
26 Ngô Phúc Diễn huý Như Quế ,sinh 1567,bà Nguyễn Thị Tín sinh 4 trai :
Nhân Như,Phúc Tiến,Đức Trí,Đức Tuấn,và hai gái.

27 Ngô Phúc Tiến huý Doãn, sinh 1607,Quang tiến thận lộc Đại phu, Kiên thọ
Nam,tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Lễ bộ Tả Thị lang
Kiên thọ Hầu,gia Ngự sử đài Đô Ngự sử,bà họTrịnh người xã Yên lãng huyện Thụy Nguyên Thanh Hóa,sinh 4 trai :
Chi Thất,Đức Thắng,Tuấn Lương,Cương Trực.

28 Ngô Chi Thất tự Tuấn Mậu, đỗ đầu khoa Sỹ vọng,Hộ bộ Tả Thị lang Thế hiển
(huý Mùi) Hầu,sinh 6 con trai :
29 Ngô Đình Quế Tam trường
29 Ngô Thúc Chiêm Đồn điền sở Chánh sứ
29 Ngô ĐìnhThạc Tiến sĩ 1700, Công bộ Thượng thư, Tham tụng,
Thiếu Bảo Huy Quận công
29 Ngô Đình Sở Lang trung
29 Ngô Đình Trụ Tam trường
29 Ngô Đình Chất Tiến sĩ 1721, Binh bộ Thượng thư ,Xuyên Quận công.

27 Ngô Nhân Như Thuỷ quân Tri bạ, sinh Ngô Phúc Khang
27 Ngô Đức Trí sinh Quang Hiến,Phủ Sinh.
27 Ngô Đức Tuấn sinh Tuấn Dị,Tuấn Cung

28 Ngô Tuấn Dị Tiến sĩ khoa Mậu Thìn 1688, mở đầu Đại khoa họ Ngô Thì,
Hàn lâm Viện Hiệu thảo,Thị lang.
28 Ngô Tuấn Cung Cử nhân,Tri huyện
(ở Sơn Nam dân gian có câu :Tuấn Cung ,Tuấn Dị.Hữu nhị vô
tam.)
28 Ngô Đức Thắng Tam trường ,thi Hội, sinh Ngô lại Trực Hương tiến,làm huyện
thừa,thăng Đô Cấp sự trung.
28 Ngô Tuấn Lương Giải nguyên, sinh,Đoan Hậu,Tôn Đạt (đều vô tự)
28 Ngô Cương Trực sinh Ngô Phúc Trọng ,Phủ sinh.

29 Ngô Phúc Trọng sinh Liên Bạt( Ngô Trạc)
30 Ngô Trạc tự Liên Bạt,đỗ Hương cống,Hoành từ,Giám sinh,Tri huyện Vĩnh
(1707-1800) Phúc,Tri phủ Thuận Yên, Binh bộ Lang trung năm Cảnh Hưng thứ 46
(1785), 78 tuổi về hưu,gia Thái Nguyên Tham nghị.
Ông có hai bà họ Nguyễn và họ Ngô Vi sinh 9 con trai 1 con gái.
Mất năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800),thọ 93 tuổi.Con cháu một số
chuyển đi nơi khác,đến nay chưa rõ ở đâu.
31 Ngô Huy Sách (đều là tên hiệu,không rõ huý)
Ngô ..Bật Giai
Ngô …Huy Cung
Ngô …Trọng Miên
Ngô …Huy Nhu Tri huyện
Ngô Cao Trí con bà thứ
Ngô Quý Sảng
Ngô Khắc Trị
Ngô Đăng Quý con bà thứ ba
(Cả 9 người đều học giỏi,gặp lúc Tây Sơn ra Bắc không ai thi cử)
Ngô Thị Cái
.
32 Ngô Bá Uông con Ngô Bật Giai
Ngô Bá Phấn nt
Ngô Đức Minh Cai đội con Huy Cung
Ngô Đức Hợp con Trọng Miên
Ngô Huy Trực con Huy Nhu
Ngô Huy Thời Kinh Lịch,nt
Ngô Đình Minh con Quý Sáng
Ngo Phúc Thuần nt
Ngô Khắc Chiêu con Khắc Trị
Ngô Khắc Thiều nt
Ngô Khắc Đa nt
Ngô Khắc Thiệu nt
Ngô Khắc Loan nt

33 Ngô Đình Thuật con Bá Uông
Ngô hám Đạt con Bá Phấn
Ngô Thông Hiến nt
Ngô Đức Vương con Đức Minh
Ngô Đình Thặng con Huy Thời
Ngô Đình Lai con Đình Minh
Ngô Huy Côn con Đức Hợp
Ngô Huy Thiêm Kinh lịch,con Phúc Thuần
Ngô Thuần Túc nt
Ngô Huy Xuyên Kinh lịch,nt
Ngô Huy Đoan nt
Ngô Huy Chiếu Lại mục,con Khắc Thiều
Ngô Huy Kha nt
Ngô Huy Cương nt

34 Ngô Đình Dật con Đình Thuật
Ngô Huy Nhiêu Chánh quản cơ,con Đức Vương
Ngô Huy Hưng con Huy Thiêm
Ngô Huy Long nt
Ngô Tâm con Thuần Túc
Ngô Khuê Tú tài,con Huy Xuyên
Ngô Đức Cử nhân,Ngự sử,con Huy Chiếu
Ngô Vi Huy nt

35 Ngô Đình Hợp con Đình Đạt
Ngô Đình Dương nt
Ngô Ngọc Giao con Huy Nhiêu
Ngô Ngọc Chương nt
Ngô Văn Học Thông lại,con Huy Hưng
Ngô Sử Tích Thông phán Quảng Yên,con Ngô Tâm
Ngô Văn Luyện con Ngô Khuê
Ngô Văn Chấn nt
Ngô Văn Huyền nt
Ngô Thế Bá con Huy Trân
Ngô Thế Mậu nt
Ngô Văn Triết con Ngô Đức
Ngô vưn Tùng nt
Ngô Văn Cư nt
Ngô Văn Trưng con Huy Vi

Đời 36 trở đi chưa ghi chép được

Chi họ Ngô Dưỡng Phú
huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam

32 Ngô Đắc Tài tự Thông Trực,hiệu Trực Đạo,con thứ ba Ngô Thì Ức,về dạy học
và lập nghiệp ở Dưỡng phú,sinh Ngô Danh (vô tự),Ngô Đắc Du
33 Ngô Đắc Du sinh Khắc Khoan,Đắc Tố,Văn Pháp

34 Ngô Khắc Khoan sinh Khắc Kích,Khắc Cúc
34 Ngô Đắc Tố sinh Đắc Kim,Đắc Hạng,Đắc Đạo (phạp), Đắc Nguyên
34 Ngô Văn Pháp sinh Văn Vinh (phạp),Văn Lương

35 Ngô Khắc Kích sinh Khắc Chúc
35 Ngô Khắc Cúc sinh Và,Đạm,Hương,Hoan,Biên
35 Ngô Đắc Hạng sinh Đắc Hùng
35 Ngô Đắc Nguyên sinh Đắc Nghiêm
35 Ngô Văn Lương sinh Văn Nhâm,Chỉ,Duyên,Nhương,Phổ và 3 gái

36 Có tất cả 25 người,gồm 17 nam, 8 nữ
37 Có tất cả 77 người, gồm 50 nam,27 nữ
38 Có 183 người, gồm 88 nam,95 nữ
39 Có 375 người,gồm 203 nam,172 nữ
40 Đông gấp bội chưa thống kê hết

Chi họ Ngô Thị Cấm
Làng Canh, xã Xuân Phương huyện Từ Liêm Hà Nội
Phả ký mất từ lâu,sang thế kỷ 20 Trúc Khê Ngô Văn Triện sưu tầm ghi chép được
từ Ngô Bá Dũng, đến nay 11 đời,thiên cư về làng Canh 6,7 đời lại nay.Tuy biết
thuộc dòng Ngô Phúc Cơ Tả Thanh Oai,nhưng trong phả họ Tả Thanh Oai không
ghi chép Ngô Bá Dũng.Có thể là một dòng của chi Ất,con cháu những người thất truyền
.
27 Ngô Bá Dũng hiệu Phúc Thuần, sinh Bá Thành
28 Ngô Bá Thành hiệu Phúc Chính, sinh Công Cẩn
29 Ngô Công Cẩn (hiệu PhúcThiện),bà họNguyễn,sinhVăn Lẻo,Văn Tô,Văn Hẩy,
Văn Bưởi
30 Ngô Văn Hẩy hiệu Trung Phúc,sinh năm Cảnh Hưng,mất đầu niên hiệu Gia
Long,sinh Ngô Văn Dụng và 3 người vô tự
31 Ngô Văn Dụng hiệu Anh Linh (1790-1819).Bà Mai Thế Hiển sinh Thuỵ,Thuần
32 Ngô Văn Thuỵ sinh Văn Đoan,Văn Chính
Ngô Văn Thuần sinh Văn Phúc
33 Ngô Văn Đoan sinh Văn Thọ (phạp),Văn Khang sinh con gái
33 Ngô Văn Chính sinh Ngô Văn Triện
34 Ngô Văn Triện hiệu Trúc Khê,bà Đổ Thị Lộc, sinh Văn Trưng,Văn Dương,Văn
Diệp,Thị NgọcThiều,Ngọc Tú,Ngọc Thao,Ngọc Hoan
35 Ngô Văn Trưng bà Đặng Thị Thân, sinh Văn Việt,Văn Thắng,Văn Long,
Văn Chương,Văn Sơn
36 Ngô Văn Việt Ks,bà Bùi Thị Sinh,sinh Văn Lâm,Văn Khải
Ngô Văn Long bà Halina người Ba lan,ở Ba lan.
Ngô Văn Chương Ks, bà Cao Thị Hồng Anh Ks
35 Ngô Văn Dương Nhạc sỹ, bà Khúc Thị Châu ,sinhVăn Quân,Thị Tâm Bs,Văn Linh nhạc sỹ (vợ Thị Anh Ks)
35 Ngô Văn Diệp đh,bà Đỗ Thị Hương, sinh 1 gái

33 Ngô Văn Phúc sinh Văn Mão
34 Ngô Văn Mão sinh Văn Cẩn,Văn Huấn,Văn Thị ,Văn Vị
35 Ngô Văn Cẩn bà Nguyễn Thị Việt, sinh Văn Đỉnh,Văn Thuyết(đã có con)
Ngô Văn Huấn bà Bùi Thị Bính, sinh Văn Sang
Ngô Văn Thị bà Nguyễn Thị Hội, sinh Văn Hộ (đã có con).

Chi họ Ngô Quảng Bá
Xã Tây Hồ quận Tây Hồ Hà Nội

Thủy Tổ thuộc dòng họ Ngô Thì Tả Thanh Oai,phả ký gián đoạn mấy đời
26 Ngô Phúc Thiên Bà họ Nguyễn,sinh Phúc Thọ
27 Ngô Phúc Thọ bà họ Chu, sinh Phúc Trường,Trung Hiền (vô tự)
28 Ngô Phúc Trường sinh Thuận (tt),Thực,Thành, Độ .
29 Ngô Phúc Thực sinh Phúc Đạt,Bá Vấn,Bá Cây,Bá Luật,Thị Tá,Thị Thám
Ngô Phúc Thành sinh Phúc Khang
Ngô Phúc Độ sinh Phúc Miễn

30 Ngô Phúc Miễn sinh Phúc Chuân,Phúc Lương
Ngô Phúc Khang sinh Văn Linh,Văn Mão
Ngô Phúc Miễn sinh Phúc Liêm

31 Ngô Phúc Chuân sinh Ngô Sử,Ngô Đôi,Ngô Thông,Ngô Thôn
Ngô Phúc Lương sinh Thị Hoạt,Văn Sớm,Văn Muộn,Thị Tộ
Ngô Phúc Liêm sinh Văn Vân,Văn Đào,Văn Lá,Văn Diên,Thị Thịnh,Thị Vũ
32 Ngô Đôi sinh Thị Loan,Văn Bền,Văn Lương

Đến ngày nay vào đời thứ 37,38,trên 200 người

Chi họ Ngô Đồng Bạn dòng Ngô Phúc Cơ
Xã Ngô Quyền huyện Phù Tiên tỉnh Hưng Yên

Phả họ Đồng bạn do ông Ngô Xuân Huy biên chép năm Thành Thái ghi:Ông Ngô Thì Tự,từ Tả Thanh Oai đến xã Phúc tiến huyện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình,đến đời cháu,vì Việc đi tìm “Phúc địa-đất Con Rết-” dời về ở Đông bạn ,về sau một nhánh dời ở làng Mỹ xá xã Nghĩa Chế, nay là xã Ngô Quyền huyện Phù Tiên (chi phái nay chưa có thế thứ).
31 Ngô Thời Tự
32 Ngô Minh Tương sinh Ngô Thông Đạo
33 Ngô Thông Đạo từ Thái Bình về Hưng Yên,sinh Ngô Đình Mậu
34 Ngô Đình Mậu sinh Ngô Đình Đống
35 Ngô Đình Đống sinh Ngô Đình Bách
36 Ngô Đình Bách sinh Ngô chu Vân,Ngô bạch Liên,Ngô Văn Xuân
37 Ngô Chu Vân sinh Ngô chu Sáu
37 Ngô Bạch Liên sinh Ngô Đình Cảo,Ngô Thị Chù
38 Ngô Đình Cảo sinh Ngô Đình Tường

Chi họ Ngô Thì làng Dương Xuân Thượng
Xã Thủy Xuân huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên-Huế

Từ Tả Thanh Oai thiên cư đến nay 10 đời,Thủy Tổ Ngô Công Tiên,tự là Thú,con cháu
chia thành ba chi,trưởng họ hiện nay là Ngô Đam chi trưởng
Ngô Tiên chi II
Ngô Hương chi III (chưa có thế thứ).

(con tiep)

HỌ NGÔ TRẢO NHA THẠCH HÀ
(Nay thuộc thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh)
Phan tiep

CHI VI HỌ NGÔ VĂN CỬ
Xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

28 Ngô Phúc Điền Kiêm lộc Hầu,con trai thứ sáu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn ,
Cẩm y vệ thự vệ,Chánh cai đội,
Sinh: Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm.
Thụy tường Hầu Ngô Phúc Giang..
29Ngô Phúc Giang Thụy tường Hầu,sinh -Chính đạo Công (thất truyền),
-Pháp minh Công Ngô Phúc Minh
30Ngô Phúc Minh Pháp minh Công,sinh Phúc Trí,Phúc Thể ở Hà thành

31Ngô Phúc Thể Thận trí Công,sinh Phúc Sán,Phúc Phương đều vô tự,
Phúc Phác
32Ngô Phúc Phác sinh Ngô Đàn,Ngô Hòa
33 Ngô Đàn sinh Đức Nhự,Phúc Ba (vô tự),Đức Ngụ,Đức Mỳ
34 Ngô Đức Nhự sinh Đức Lệ,Đức Gặp
35 Ngô Đức Lệ sinh Đức Vọng và hai gái
35 Ngô Đức Gặp sinh Đức Anh (vô tự)

34 Ngô Đức Mỳ sinh Đức Báu
35 Ngô Đức Báu sinh Đức Tụ,Đức Sầm
36 Ngô Đức Tụ sinh Thị Tri

36 Ngô Đức Sầm sinh Đức Mỳ
37 Ngô Đức Mỳ sinh Đức Trương,Đức Lý
38 Ngô Đức Lý sinh Đức Phương và hai gái
38 Ngô Đức Trương sinh Thị Liên

34 Ngô Đức Ngụ sinh Đức Triện,Ngô Viên (vô tự)
35 Ngô Đức Triện sinh Thị Truyện,Đức Mỳ (phạp),Đức Thính,Thị Tư,Đức Triện,
Đức Chương
36 Ngô Đức Thính có năm con
36 Ngô Đức Chương có bảy con

33 Ngô Hòa sinh Phúc Lương,Phúc Xương,Phúc Xý,Ngô Nhi (vô tự)
34Ngô Phúc Lương sinh Phúc Ngội
35Ngô Phúc Ngội sinh Phúc Khác,Đức Xương
36 Ngô Đức Khác 1882-1941,sinh Đức Hiền,Đức Chúng,Thị Hai
36 Ngô Đức Xương 1900-1940,có con cháu.

CHI VII Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu

28 Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu,con trai thứ bảy Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,
Sinh hai con trai -Ngô Văn Cang,
-Ngô Thuần Cẩm.
Dòng Ngô Văn Cang thiên cư vào Quảng Nam;dòng Ngô
Thuần Cẩm phụng sự Vua Lê,khi Vua Lê thất thế con cháu về
ngụ xã Thổ Quan ,nay thuộc phường Thổ Quan quận Đống Đa
thành phố Hà Nội.

Họ Ngô Kế Xuyên
Xã Bình Trung,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam

29 Ngô Văn Cang sinh Ngô Văn Kiệt,Ngô Văn Giám

30 Ngô Văn Kiệt bà Xa Thị Kỳ sinh Ngô Hữu Trí
30 Ngô Văn Giám bà Nguyễn Thị Tây sinh Tòng Chu,Văn Thạch,
Văn Khương (thất truyền) và bốn con gái

31 Ngô Hữu Trí sinh Văn Tôn,Văn Tạo (thất truyền)
31 Ngô Tòng Chu sinh Phú Hán,Công Định (thất truyền),Văn Bảo,Văn Tấn.và
bảy gái
31 Ngô Văn Thạch sinh Văn Côn

32 Ngô Văn Tôn sinh Văn Cụ (thất truyền),Văn Biểu,Văn Nay
32Ngô Phú Hán sinh Phú Nhuận
32 Ngô Văn Bảo sinh Văn Sức
32 Ngô Văn Tấn sinh Văn Chúc,Văn Quyền,Văn Lộc,Văn Thuật và sáu gái
32 Ngô Văn Côn sinh Văn Đô,Văn Lãm,Văn Tri (vô tự)

33 Ngô Văn Biểu sinh Văn Sỹ,Văn Vĩnh và bốn gái
33 Ngô Văn Nay sinh Công Đệ,Công Khanh
33Ngô Phú Nhuận sinh Công Tuấn
33 Ngô Văn Sức sinh Văn Quang,Văn Trinh và năm gái
33 Ngô Văn Chúc sinh Văn Chủng (thất truyền),Văn Chim,Văn Lũ,Văn Thêm,
Văn Sửu,Văn Hòang và năm gái
33 Ngô Văn Quyền Ở Vinh,sinh Văn Tề,Ngô Hầu,Công Kỉnh
33 Ngô Văn Lãm sinh Văn Điều

34 Ngô Văn Sỹ sinh Văn Độc,Văn Đính (vô tự)
34 Ngô Văn Vĩnh sinh Công Phú,Công Xây và năm gái
34 Ngô Công Đệ sinh Ngô Điệt
34 Ngô Văn Quang sinh Văn Khánh (tt),Ngô Dư (ở Tây mỹ Thăng Bình),Văn Nã,
Văn Ngự,Văn Thắng,Thị Ếch
34 Ngô Văn Trinh sinh Ngô Xứ,Ngô Nam,Văn Đò,Ngô Triệu,Ngô Nguy,Thị Én,
Thị Nhạn
34 Ngô Văn Tề sinh Ngô Thông,Văn Trinh,Văn Tường ,Văn Ấu(ba người tt),
Thị Hiện,Thị Hữu,Thị Tri
34 Ngô Hầu sinh Ngô Bá,Ngô Trực
34 Ngô Kỉnh sinh Ngô Vĩnh,Ngô Hoan,Ngô Tầm
34 Ngô Văn Điều sinh Ngô Đỏ.

Đời thứ 35

35 Ngô Văn Độc sinh Văn Yêm,Văn Ái,Văn Ân di về thôn Tây mỹ xã Bình an
huyện Thăng Bình.Nay con cháu ở Tân mỹ Bình đào trên trăm
hộ,trên ngàn nhân khẩu.
Ngô Công Phú sinh Công Hoan,Công Hiến,Công Khuẩn,Thị Tín,Thị Đạt,Thị Đô,
Thị Gương
Ngô Công Xây sinh Công Thích
Ngô Điệt sinh Ngô Bốn
Ngô Dư sinh Ngô Tịnh,Phú Trạch
Ngô Xứ sinh Văn Mô,Công Lẽ,Công Hán,Công Nghi,Văn Củng,Văn Cừu,
và bốn gái
Ngô Triệu sinh Ngô Siêu,Công Xuyên,Công Nam,Công Lanh,Văn Tý,
Công Thành,Ngô Thức
Ngô Thông sinh Công Duy,Công Trị,Thị Cải
Ngô Trực sinh Công Mưu,Ngô Bài (vt),Công Thống,Ngô Khiêm
Ngô Vĩnh sinh Công Lộng,Công Sở,Ngô Lâu,Ngô Tôn
Ngô Công Hoan sinh Công Thứ (vào Định tường),Công Tường (tt),Thị Dung,Thị Long
Ngô Văn Đỏ sinh Văn Hiếu vào Gia Định

Đời thứ 36

36 Ngô Văn Yêm sinh Văn Luận (tt),Văn Tài (vt)
Ngô Văn Ái sinh Văn Vân (tt),Văn Lương,Văn Hiệu (vào ở Sa hùynh
Quảng Ngãi)
Ngô Công Hiến sinh Công Khoan,Công Bửu,Công Tô,Thị Vân,Thị Thạc,Thị Bột,
Thị Tám
Ngô Công Khuẩn sinh Công Nghi ,Thị Bảo,Thị Lợi,Thị Ngôn
Ngô Công Thích sinh Công Kỳ,Công Cánh,Công NgànThị Khanh,Thị Phừớc
Ngô Phú Trạch sinh Công Thanh,Công Đàm,Công Tiềm,Công Ngân,Thị Chưởng,
Công Bá,Công Kỳ
Ngô Văn Mô Đi Gia Định,sinh Công Luận,Công Ngũ,Công Tài,Thị Cát,
Thị Tuyền
Ngô Công Lẽ sinh Công Thể,Công Tạ,Công Triều,Công Thành,Văn Lũ(phạp),
Công Cẩn(phạp)
Ngô Công Hán sinh Công Kế,Công Lực,Công Lương,Công Mông
Ngô Công Nghi sinh Công Nhân,Công Khánh
Ngô Văn Củng sinh Công Dụ,Công Huấn,Công Hùng,Thị Trữ,Thị Diệt,Thị Cho,
Thị Đống
Ngô Văn Cừu sinh Công Ban,Công Lân,Công Lý,Công Phiêu
Ngô Công Xuyên Di về phường Thanh hiệp tổng Thanh Châu huyện Điện bàn,
sinh Vản Thi,Văn Lũ,Văn Bồng,Văn Hóan,Văn Đinh,Văn
Thế,Văn Thụy và hai gái
Ngô Công Nam biệt quán
Ngô Công Lanh sinh Công Canh,Công Thái,Công Ngọt,Văn Giao,Thị Trà,
Thị Chia,Thị Điều,Thị Cam
Ngô Văn Tý sinh Công An,Công Thuận
Ngô Công Thành sinh Công Phúc,Công Tôn,Công Chủng,Thị Thanh,Công Lai,
Công Linh,Công Thông
Ngô Công Duy sinh Văn Tạo,Văn Hữu,Văn Kế(ở Tam kỳ)
Ngô Công Trị sinh Công Tấn,Công Nguyên cả hai vô tự,Thị Niêm,Thị Kha
Ngô Công Mưu sinh Công Kiều,Công Cai đều vô tự
Ngô Công Thống sinh Công Bảo,Thị Linh
Ngô Công Lộng sinh Công Ban,Công Lịch,Công Bảo,Công Phước,Công Giá,
Thị Ưng
Ngô Công Sở sinh Công Lôi,Thị Cơ,Thị Tề
Ngô Công Thứ sinh Công Phú,Công Đương,Công Bằng
Ngô Văn Hiếu sinh Đắc Ý và bảy người khác vô tự.

Đời thứ 37

37 Ngô Văn Lương sinh Thị Căn,Thị Sáng,Thị Cận,Công Tường,Công Lân
Ngô Công Khoan sinh Công Thiết,Công Yên đều vô tự,Công Gia,Công Nghị,
Công Tri,Thị Chắt,Thị Linh,Thị Diên,Thị Khôi,Thị Khát,Thị Sáng
Ngô Công Bửu sinh Công Tế,Công Chất,Công Phu,Công Điệt,Thị ưng,Thị Đoi,
Thị Lý,Thị Biều,Thị Cá
Ngô Công Tô sinh Công Hóa
Ngô Công Nghi sinh Văn Phong,Thị Lý,Thị Sầu,Thị Nắm
Ngô Công Kỳ sinh Công Trinh,Công Trường,Công Duy,Công Chấp,Thị An,
Thị Bằng,thi Đắng
Ngô Công Cánh sinh Thị Nữ,Thị Bông
Ngô Công Ngàn sinh Công Chiêm
Ngô Công Khánh sinh Công Hà
Ngô Công Thanh sinh Công Nhai,Công Đàn,Công Ba (biệt tích),Công Tiêu,
Công Phong,Công Phổ,Thị Hối
Ngô Công Đàm sinh Công Giăng,Công Cân,Công Hạo,Công Thích,Thị San,Thị Nở,
Thị Dần
Ngô Công Tiềm sinh Công Kiên,Công Đàm,Công Tầm,Công Ái,Công Sỹ,
Công Thêm,Thị Diễm,Thị Như,Thị Hóa
Ngô Công Tạ sinh Văn Hiệu,Văn Thụy,Văn Thiêm (vt),Văn Vân,Văn Thược,
Văn Tắc,Thị Hà,Thị Nhứ,Thị Tụy
Ngô Công Triều sinh Công Tất,Công Lương,Công Như,Công Tòan,Công Tuấn,
Công Lân,Công Vẽ(vt),Thị Quân,Thị Vỹ,Thị Dương,Thị Chất,
Thị Thiết,Thị Gối,Thị Một
Ngô Công Thành sinh Công Hàm,Công Quốc,Công Bái,Công Vi,Công Chính,Thị Ý,
Thị Sáu,Thị Tám,Thị Ất,Thị Ngoan,Thị Tình
Ngô Công Kế sinh Công Tấn,Công Thân,Công Tự,Công Rắn,Công Liệu,
Công Lại ,Thị Yên,Thị Cư,Thị Diễn
Ngô Công Lực sinh Công Ba,Công Yên,Công Mốc,Văn Giàu,Công Bỉnh(vt),
Ngô Công Lương ở Hương chỉ Bình quý Thăng Bình
Ngô Công Mông sinh Công Giao,Công Ổn,Công Đáp,Công Triều,Công Chiến,
Thị Bốn,Thị Phong
Ngô Công Nhân sinh Công Nhứt,Công Bi
Ngô Công Khánh sinh Công Trực
Ngô Công Dụ sinh Công Thuật,Công Giáng,Công Vân,Thị Tố,Thị Kuyến,Thị Đi,
Thị Bài,Thị Chợ
Ngô Công Ban sinh Công Đinh,Công Khóan,Công Quý,Thị Phương,Thị Tín

Ngô Công Lân sinh Văn Đắt (vt)
Ngô Công Canh sinh Công Khuông,Công Thứ,Công Cư,Công Quy,Công Trí,
Thị Trâm
Ngô Công Thái sinh Công Chạy
Ngô Công Ngọt sinh Công Mía,Công Cúc,Công Thiện,Công Ngươn,Thị Liêm,
Thị Ngạch,Thị Sáu
Ngô Công An sinh Công Cờ,Công Phổ,Công Đạt,Công La
Ngô Công Thuận sinh Công Hòa,Công Cực
Ngô Công Phúc sinh Công Thọ,Công Phân,Công Liệt,Thị Nghèo,Thị Nặc,
Công Kiết
Ngô Công Tôn sinh Công Quách,Công Khảm,Thị Trương,Thị Đồi,Thị Thêm
Ngô Văn Hữu sinh Văn Mậu,Văn Một
Ngô Tấn Nguyên sinh Công Đạt,Công Hán,Công Trì,Công Vệ,Thị Thỉnh,Thị Huy,
Thị Hứa
Ngô Công Bảo sinh Công Đầu (vt),Thị Đó,Thị Cốc
Ngô Công Ban sinh Công Tư,Công Dõi,Thị Trung,Thị Lợi,Thị Ta
Ngô Công Bảo sinh Công Tồn,Công Tán,Thị Sở,Thị Giang,Thị Lác,Thị My
Ngô Công Giá sinh Công Đăng (vt),Thị Thám,Thị Ử,Thị Để,Thị Đặt
Ngô Công Phước sinh Công Đạo,Công Thành
Ngô Công Lội sinh Công Béo,Công Chớp đều vô tự,Thị Quý
Ngô Công Bằng sinh Thị Uy
Ngô Đắc Ý sinh Đắc Chí,Đắc Trừng,Đắc Trung,Thị Tiết,Đắc Lễ,Đắc Vơn,
Đắc Ban.
Đời thứ 38

38 Ngô Công Tường sinh Công Trinh,Công Kiêu,Công Quỳnh(vt),Thị Cúc,Thị Kinh,
Thị Quang,Thị Thảo
Ngô Công Lân sinh Công Hàng,Công Đặc,Thị Lãng,Thị Tế.Thị Xử,Thị Hiếu,Thị Hợi
Ngô Công Gia sinh Công Hòanh,Văn Mịch,Văn Đốc,Thị Chợ,Thị Tài,Thị Thồ,
Thị Thôn,Thị Gia
Ngô Công Tế sinh Công Lộc,Thị Khiểm,Thị Lịch
Ngô Công Chất sinh Công Mật,Công Trại,Công Hòanh,Công Liêm,Thị Hợp,
Thị Đát,Thị Diệu
Ngô Công Hóa sinh Công Vuột,Công Cối,Công Luận,Thị Lương,Thị Vi,Thị Mùi,
Thị Thanh,Thị Hường,Thị Chiêm,Thị Điều,Thị Khánh,Thị Hội
Ngô Công Chiêm sinh Công Diễn,Thị Bốn
Ngô Công Hà sinh Công Được,Công Hải,Công Phụng,Công Vi,Công Phái
Ngô Công Nhai sinh Công Kỷ,Công Thọ,Công Phò,Công Đợi,Thị Cận,Thị Trường,
Thị Ngọt
Ngô Công Phong sinh Công Tân,Công Tế,Công Canh,Công Dinh,Công Dần,
Thị Thập
Ngô Công Phổ sinh Công Chánh,Công Đường,Thị Héo,Thị Tựu,Thị Quánh
Ngô Công Giăng sinh Công Đáo,Công Thuộc,Thị Thành,Thị Nguy,Thị Bổ,Thị Kiết,
Thị Lai,Thị Thiệu
Ngô Công Cân sinh Công Chương,công Cẩn,Công Lộc,Thị Đăng,Thị Gia,
Thị Khánh
Ngô Công Hạo sinh Công Vạn,Công Cai,Công Biện,Thị Tròn
Ngô Công Đàm sinh Công Quế,Công Sóc,Công Đồi,Công Ca,Công Bường(vt),
Thị Hữu,Thị Chiêu,Thị Nhiễu
Ngô Công Tầm sinh Công Thơ,Công Hạnh,Thị Thi
Ngô Công Ái sinh Công Thành,Vĩnh Dự,Thị Hoa,Thị Thúc,Thị Tất,Thị Sùng
Ngô Công Thêm sinh Văn Cử,Thị Diệu,Thị Đặc,Thị Thiềm,Thị Đạo,Thị Bẻo
Ngô Văn Thụy sinh Công Hạnh,Công Tịnh,Thị Kỳ,Thị Khán,Thị Âm
Ngô Công Tắc sinh Công Sự,Công Tính,Công Kỳ,Công Tập,Công Miêu
Ngô Công Tất sinh Công Thắng,Công Duy,Công Nhỏ,Thị Đáng,Thị Cẩm
Ngô Công Lương sinh Công Lân,Công Đôi,Thị Thành
Ngô Công Như sinh Thị Tuấn,Thị Cẩn

Ngô Công Tòan sinh Công Xuân,Công Liệu,Công Thu Công Cụ
Ngô Công Hàm sinhCông Hương,Công Lãm,Công Thân,Thị Tiền,Thị Thủ,Thị Quế,
Thị Phương,Thị Tích
Ngô Công Quốc sinh Công Bôi,Công Tương,Công Bình,Công Chiêm,Công Chín
Ngô Công Vị sinh Công Phó
Ngô Công Tấn sinh Văn Giáo,Công Trực,Công Yến,Công Giá,Công Cơ,Thị Đăng
Ngô Công Thân sinh Công Bạ,Công Thành,Công NGẬT,Công Thùy,Thị Loan,Thị Kỳ
Ngô Công Tự sinh Công Hiếu,Công Thâm,công Ân,Công cần,Thị Lâm,Thị Hiếu
Ngô Công Rắn sinh Công Của,Thị Chấn,Thị Mau
Ngô Công Liệu sinh Công Đạt
Ngô Công Lại sinh Công Huy,Công Câu
Ngô Công Ba sinh Công Tiềm,Công Chuyên
Ngô Công Yên sinh Công Quyên,Công Nhặt,Công Lệ,Công Thôi
Ngô Công Giao sinh Công Nhưng,Công Quảng,Công Nho,Công Thu ,
Công Đăng,Công Trường
Ngô Công Nhứt sinh Công Nghệ
Ngô Văn Trực sinh Công Thành,Văn Huyên
Ngô Công Thuật sinh Công Dịch,Công Tường,Công Đá,Công Hương,Thị Tịnh,
Thị Tỉnh,Thị Chúc
Ngô Công Giáng sinh Công Trập,Công Đặc,Công Cu,Công Quyền,Công Thủ,
Thị Nhan,Thị Quạ,Thị Theo,Thị Chiến,Thị Truyền,Thị Lắm,Thị Cơm
Ngô Công Vân sinh Thị Chánh
Ngô Công Định sinh Công Bình,Thị Sáng,Thị Sắc
Ngô Công Quý sinh Công Giới,Công Tài, Thị Bát
Ngô Công Khuông sinh Công Tự,Công Dunh,Công Khố,Văn Liêu (vt),
Văn Đình (vt),Thị Đà,Thị Diều,Thị Ngươn
Ngô Công Thứ sinh Công Lý,Công Quỳnh,Thị Thao
Ngô Công Mía sinh Công Diệt (vt),Văn Vĩnh,Công Biều,Công Đốc,Thị Ngao,Thị Thi
Ngô Công Cúc sinh Văn Hùynh,Văn Lợi (vt),Thị Lam,Thị Đời,Thị Ngàn,Thị Biểu,
Thị Phẩm,Thị Miêu
Ngô Công Thiện sinh Văn Lẫm,Văn Nhựt,Văn Con,Văn Trinh,Hữu Thân,Thị Thị ,
Thị Lung,Thị Sử,Thị Dạt
Ngô Công Cờ sinh Công Cầu,Thị Quyên
Ngô Công Phổ sinh Thị Chiến
Ngô Công Đạt sinh Văn Thất
Ngô Công La sinh Công Lội,Công Chữ,Công Cai,Công Bền,Công Đàm,
Công Đạt,Công Ấn,Công Nhạt,Thị Tiết
Ngô Công Cực sinh Công Gần,Công Của,Công Lẫm,Công Cột
Ngô Công Hòa sinh Công Lượng
Ngô Công Thọ sinh Công Khôi,Công Giáo
Ngô Công Phân sinh Công Lợi,Thị Thảo
Ngô Công Liệt sinh Công Lẫm,Công Nhỉ,Công Trổ,Công Kỳ,Công Miễn,Thị Hòa
Ngô Công Quách sinh Công Cốt,Công Cò,Công Kỳ,Công Dần,Thị Tờ
Ngô Công Khảm sinh Công Niên,Công Giai
Ngô Văn Đạt sinh Vĩnh Viễn,Chánh Đạo,Thị Bế
Ngô Công Hán sinh Văn Sung,Thị Sắc,Thị Võ,Thị Vằn,Thị Viên,Thị Đồ
Ngô Công Trì sinh Công Luận,Công Héo,Thị Lời,Thị Thuận,Thị Luận
Ngô Công Tấn sinh Công Tài,Công Chất
Ngô Đắc Chí sinh Đắc Tâm,Đắc Thọai,Đắc Hưng,Đắc Chánh,Đắc Nào,Thị Lòng,
Thị Đặng,Thị Chua
Ngô Đắc Trung sinh Đắc Trực,Đắc Liệu,Đắc Định,Thị Bé,Thị Phẩm,Thị Đặt

Đời thứ 39

39 Ngô Công Trinh sinh Công Tiến,Công Phụng,Công Lộc,Hưng Nhượng,
Văn Mẹo,Thị Tiên,Thị Loan,Thị Thảo
Ngô Công Kiêu sinh Văn Khước,Văn Biện,tnị Bốn,Thị Nghe,Thị Tố
Ngô Công Hàng sinh Văn Lai,Văn Kiêm,Công Thuộc,Thị Sở,Thị Dóan,Thị Thử
Ngô Công Đặc sinh Công Hý,Công Chiêm,Thị Ngó,Thị Du,Thị Hè,Thị Lai,Thị Thế
Ngô Công Hoằng sinh Quý Thẩm,Văn Khuê,Quý Tuấn,thi Hành,Thị Nghiêm
Thị Hiệu
Ngô Công Lộc sinh Công Khế,Công Miên,Công Kèo,Công Cột,Công Rất,
Công Chiểu,Thị Đời,Thị Đường,Thị An,Thị Phận,Thị Lệ,
Thị Hòai,Thị Sữa
Ngô Công Mật sinh Công Bẻo,Công Co,Thị Tỵ,Thị Chi,Thị Giống,Thị Xin,Thị Dậu
Ngô Công Trại sinh Quý Liêu,Quý Thể,Quý Vấn,Quý Mèo,Thị Cột,Thị Tùng,
Thị Mít
Ngô Công Diễn sinh Công Từ
Ngô Công Được sinh Công Chít
Ngô Công Kỷ sinh Văn Liêm
Ngô Công Phò sinh Văn Học
Ngô Công Đợi sinh Công Của,Công Chung,Công Ra,Thị Mai,Thị Nhàn
Ngô Duy Quang sinh Văn Phương,Văn Trị,Văn Bình,Văn Liên,Văn Phó,Văn Cơ,
Văn Pháp
Ngô Công Tân sinh Công Chiểu,Công Truyền,Công Ban,Công Giáp,Thị Phiên,
Thị Ất
Ngô Công Tế sinh Công Tọa,Công Mèo,Công Tuất,Công Hợi,Thị Linh,
Thị Diên,Thị Dực,Thị Út
Ngô Công Dinh sinh Công Cổn,Công Chánh,Công Cừu,Thị Trực,Thị Hùynh,Thị Y,
Thị Lệ
Ngô Công Dần sinh Công Dần,Công Nơm,Công Trĩ,Công Kích,Công Thái,
Thị Mãnh,Thị Kỳ,Thị Tỵ
Ngô Công Chánh sinh Văn Quý
Ngô Công Chương sinh Văn Ngự,Văn Cai,Văn Giới
Ngô Công Cẩn sinh Văn Thân,Văn Trung,Văn Lai,Văn Vỉnh
Ngô Công Lộc sinh Duy Tự,Văn Huy,Văn Chỉ,Thị Thiết,Thị Du,Thị Chày,Thị Quý
Ngô Công Vạn sinh Văn Thiên,Văn Niên,Công Hậu
Ngô Công Biên sinh Văn Từ,Văn Ngôi,Văn Tố
Ngô Công Cai sinh Văn Tịnh
Ngô Công Quế sinh Duy Dương,Văn Chơn,Văn Kiều
Ngô Công Sóc sinh Công Sùng(vt),Văn Sầm
Ngô Công Đồi sinh Công Bậc
Ngô Công Ca sinh Văn Quyến,Thiên Kế,Văn Giác,Văn Út
Ngô Công Thơ sinh Văn Vinh
Ngô Công Thành sinh Văn Lân,Văn Hóng,Văn Liễu,Văn Nhân,Văn Phổ,
Văn Tấn,Văn Cột,Thị Nghề
Ngô Vĩnh Dự sinh Văn Kiêu,Văn Bỉnh,Văn Hiển,Văn Chít
Ngô Văn Cử sinh Văn Nguyên,Văn Thục
Ngô Công Hạnh sinh Văn Lai,Văn Thức,Văn Hợi
Ngô Công Tịnh sinh Công Kỉnh,Công Đức,Công Ái,Công Tọ,Công Bế
Ngô Công Tính sinh Công Hoặc,Công Hoan
Ngô Công Kỳ sinh Công Chiêu
Ngô Công Tập sinh Công Phương,Công Diệu
Ngô Công Miêu sinh Văn Đinh,Văn Hiệp
Ngô Công Thắng sinh Công Sương,Công Lãnh,Thị Bé
Ngô Công Duy sinh Công Vinh,Công Hề,Công Uynh,Công Lội
Công Định,Thị Màng,Thị Giai
Ngô Công Xuân sinh Công Có,Công Của,Công Đệ,Công Đốc,Thị Ngại,Thị Hay
Ngô Công Hương sinh Thị Diên,Thị Trường
Ngô Công Thân sinh Công Đấu,Công Mùi,Công Chược
Ngô Công Bôi sinh Công Thiêng,Công Huân,Công Út,Công Thiện,Công Phú,
Công Lý,Công Thu
Ngô Công Phó sinh Thị Mưu,Thị Nhi
Ngô Công Giáo sinh Công Thạnh
Ngô Công Sính sinh Thị Trí
Ngô Công Thâm sinh Công Chữ,Công Nghĩa
Ngô Công Ân sinh Công Hằng,Công Săn,Công Hữu,Công Lý,Công Chất,
Văn Vững,Văn Chắc,Văn Sức,Thị Tín,Thị Diên
Ngô Công Của sinh Công Nhiều
Ngô Công Hy sinh Văn Trinh,Công Chôn,Văn Lý(vt),Văn Đuốc
Ngô Công Câu sinh Công Câu (vt),Văn Bình,Văn Thành
Ngô Công Quyên sinh Thúc Tuân,Quý Lâm
Ngô Công Nhặt sinh Văn Trang,Công Hiệu,Thị Bích
Ngô Công Lệ sinh Công Đôi,Công Đòi,Công Thái,Công Giới(vt),Công Gia,
Công Hòa,Công Kiệt,Công Thân,Thị Lệ,Thị Bến
Ngô Công Thôi sinh Văn Đá
Ngô Công Nhưng sinh Công Dưỡng
Ngô Công Quảng sinh Công Vượng,Công Lắm,Công Môn,Công Sáp,Công Sọan,
Thị Cối
Ngô Công Nho sinh Thị Xướng,Thị Mầu
Ngô Công Thu sinh Công Hiến,Công Thạch,Công Ngoan
Ngô Công Trường sinh Công Nghiệm,Công Ruồi,Công Ra
Ngô Công Nghệ sinh Ngô Hán,Ngô Sử
Ngô Công Hương sinh Công Phú,Công Chiếu,Công Tử,Công Bẻo,Công Tất,
Thị Thơ,Thị Hằng,Thị Đá,Thị Quả,Thị Sữa
Ngô Công Trập sinh Công Dung,Công Kiêm,Công Phổ,Thị Vinh,Thị Thân,Thị An,
Thị Thái,Thị Chờ
Ngô Công Đặc sinh Công Vân
Ngô Công Cư sinh Văn Long,Thị Vằn
Ngô Công Bình sinh Thị Ruộng,Thị Thuột,Thị Nội
Ngô Văn Giới sinh Công Đó
Ngô Công Tự sinh Công Trọng,Công Đọat,Công SứcCông Đáo,Thị Câu,Thị Kéo
Ngô Công Dung sinh Công Tùng,Công Thu,Công Chất,Văn Đổng
Ngô Công Khố sinh Công Xuyến,Văn Tứ
Ngô Công Lý sinh Công Quảng,Công Tân,Công Trực,Thị Sung,Thị Ngân
Ngô Công Quỳnh sinh Văn Trước,Văn Giai,Văn Vận,Thị Duy,Thị Cử,Thị Thời,
Thị Tháo
Ngô Công Vĩnh sinh Văn Bổ,Văn Tử,Văn Tráng,rhị Đủ
Ngô Công Đốc sinh Văn Trạch
Ngô Công Hùynh sinh Văn Chất,Văn Hữu
Ngô Văn Con sinh Công Viên,Công Luận,Văn Vũ,Văn Diệt,Văn Đó,
Văn Nhơn(vt),Thị Trực,Thị Ngao
Ngô Hữu Thân sinh Văn Hòai(vt),Văn Sừng,Thị Lửa,Thị Tể,Thị Hỷ,Thị Cay,
Thị Nghi
Ngô Công Cầu sinh Văn Ngốc,Văn Kha
Ngô Văn Thất sinh Văn Tinh,Văn Chiết đều vô tự
Ngô Công Lội sinh Văn Cày (vt)
Ngô Công Bền sinh Văn Ấn,Văn Bình,ba trai vô tự (Văn Trương,Văn Đó,Văn Sữa)
Ngô Công Đàm sinh Văn Muối,Văn Út,Văn Nghệ,Văn kỳ đều vô tự,Văn Thể
Ngô Công Nhạt sinh Văn Xung,Văn Tổ
Ngô Công Ấn sinh Văn Lư,Văn Có
Ngô Công Của sinh Văn Lộc
Ngô Công Lẫm sinh Văn Ban,Văn Nầy,Thị Hứa
Ngô Công Cột sinh Văn Kiều
Ngô Công Lượng sinh Văn Đúc,Công Đăng
Ngô Công Khôi sinh Công Nầy,Công Nò,Công Điền
Ngô Công Lợi sinh Công Đực
Ngô Công Nhĩ sinh Văn Đực,Văn Đông Thị Đính,Thị Chút,Thị Tới
Ngô Công Trỗ sinh Công Điển,Văn Con,Thị Lựu,Thị Đào
Ngô Công Miễn sinh Công Diễn
Ngô Công Cốt sinh Văn Ấn,Văn Bình
Ngô Công Cò sinh Văn Liên,Văn Lộc,Thị Vinh,Thị Mày
Ngô Công Niên sinh Văn Tùng,Văn Bàn,Văn Khương,Văn Sửa,Văn Định,
Văn Tiếu,Văn Lúc
Ngô Công Giai sinh Văn Bẽo,Văn Quý,Thị Diệu,Thị Giai
Ngô Vĩnh Viễn sinh Văn Dụ,Văn sài,thụi Ngư,Thị Vỵ,Thị Thảo,Thị Luận,Thị Tài
Ngô chính Đạo sinh Văn Tập,Văn Nghiêm,Văn Quỳ,Văn Phụng,Thị Điều,Thị Trực,
Thị Cư,Thị Tố.
Ngô Văn Sung sinh Văn Cội,Văn Cò,Văn Ngốc,Văn Nghiên,Văn Đuôi,Thị Cốc,
Thị Chiếc,Thị Diều
Ngô Công Luận sinh Văn Khiêm,Văn Bích,Văn Huy,Thị Thời
Ngô Công Héo sinh Văn Chức,Văn Kiều
Ngô Công Tài sinh Thị Một
Ngô Đắc Tâm sinh Đắc Tính,Đắc Bình, Thị Bèn,và bảy người con trai khác vô tự
Ngô Đắc Thọai sinh Đắc Bình,Thị Kênh
Ngô Đắc Hưng sinh Đắc Công,Đắc Nghị,Đắc Ngọ,Đắc Đấu,Thị Cỗi
Ngô Đắc Chánh sinh Đắc Vọng,Đắc Thục,Thị Nga,Thị An
Ngô Đắc Nào sinh Đắc Lực vô tự
Ngô Đắc Liệu sinh Đắc Đông,Đắc Kèo (cả hai vô tự),Đắc Khâm,Đắc Ó,Thị Trà,
Thị Tàu
Ngô Đắc Định sinh Đắc Khoa,Đắc Chung,Đắc Chút.

Đời thứ 40

40 Ngô Công Tiến sinh Văn Giác,Văn Hạnh,Văn Chút,Thị Điều,Thị Tộ,Thị Kính,
và bảy trai vô tự: (Văn Thất,Văn Hiếu,Văn Được,Văn Chít,Văn Đĩnh,
Văn Hy,Văn Ngỗng)
Ngô Hưng Nhượng sinh Văn Thi,Văn Thành,Văn Vịnh,ba trai vô tự ( Văn Dực,Văn Tú,
Văn Thức),Thị Kinh,Thị Thận,Thị Hợi,Thị Tóan.
Ngô Văn Lai sinh Văn Túy (vô tự),Văn Dĩ,Văn Đức ,Văn Nho,Văn Dinh,Văn Hoặc,
Văn Huyến,Văn Mẹo (vt),Văn Thận,Văn Thuấn (vt),Thị Liễu,Thị Hòe,
Thị Nhựt,Thị Hiếu,Thị Đễ.
Ngô Văn Kiêm sinh Văn Liên,Văn Duột,Văn Thực,Văn Trúng,Văn Đào,Văn Quý,
Văn Tuấn,Văn Tọai,Văn Súy (cả chín người đều vô tự),
Văn Sừng,Văn Hòa,Văn Giá.
Ngô Công Thuộc sinh Văn Cu (vt),Văn Cưỡng,Thị Lang,Thị Đẹt,Thị ChúT.
Ngô Công Hý sinh Văn Sương,Văn Mẹo.
Ngô Quý Thẩm sinh Văn Tiễn,Văn Diêu,Văn Tân,Văn Tọai,Văn Truy,Văn Tấn,
Văn Thích,Văn Nhã,Văn Đạt,Thị Đích,Thị Xuyến.
Ngô Quý Tuấn sinh Văn Diêm,Văn Sính,Văn Quá,Văn Trì,Văn Phùng,Văn Ngộ,
Văn Sửu,Văn Liên,Thị Sáu,Thị Thức.Thị Mai,Thị Đàn,Thị Đạm.
Ngô Công Khế sinh Văn Bính,Thị Đinh,Thị Tỵ.
Ngô Công Miên sinh Văn Tý,Thị Lon,Thị Tài,Thị Nghề,Thị Nghiệp,Thị Thân.
Ngô Công Rất sinh Văn ChuộT.
Ngô Công Chiểu sinh Văn Liễu.
Ngô Quý Liêu sinh Văn Nơm,Văn Sơ,Văn Bơ,Thị Nở.
Ngô Quý Thể sinh Văn Giõ (vt),Thị Hơn.
Ngô Công Chít sinh Công Nhan,Công Tấn,Công Kiệt,Công Viết (vt),Thị Nguyệt,
Thị Năm,Thị Trưng,Thị Huân,Thị Chỉ,Thị Long,Thị Trà,Thị Huy,Thị Chi.
Ngô Công Của sinh Công Lẫm,Công Lúa,Công Hiệp,Công Hội (vt),Công Hương,
Thị Sum,Thị Ưng.
Ngô Công Chung sinh Văn Khêu,Văn Đuốc,Văn Khá,Văn No,Văn Được,
Văn Thắng,Văn Thiệt,Văn Mẫn,Văn Mua,Thị ĐợT.
Ngô Công Ra sinh Văn Chức,Văn Hướng,Thị Xúc.
Ngô Công Chiểu sinh Công Bông,Thị Thuần,Thị Ba.
Ngô Công Truyền sinh Công Dung,Thị Vu,Thị Bổn,Thị Niên.
Ngô Công Ban sinh Công Hậu,Công Đích,Thị Lan,Thị Đôi.
Ngô Công Tọa sinh Công Cư,Thị Tọai,Thị Diệt,Thị Kiến.
Ngô Công Tuất sinh Công Thại,Công Dư,Công Đố,Thị Cho,Thị Dụng,Thị Vây,Thị Nấm.
Ngô Công Hợi sinh Công Cay,Công Sành,Công Chích,Công Can,Thị Khuy,Thị Thôn,
Thị ChúT.
Ngô Công Cổn sinh Công Giáo,Công Nhượng,Công Lý,Thị Tường,Thị Lành,Thị Đủ.
Ngô Công Cừu sinh Văn Nhã,Thị Hiếu.
Ngô Công Thái sinh Văn Tha,Văn Thích,Văn Kinh,Văn Xin,Văn Hích,Văn Xí.
Ngô Duy Tự sinh Văn Khởi,Văn Mù,Văn Thám,Văn Tử,Văn Mén,Thị Khuê,
Thị Thuận,Thị Thảo,Thị Mơ,Thị Sữa.
Ngô Văn Huy sinh Văn Chơn,Văn Tứ,Văn Tân,Văn Hỷ,Thị Thuần,Thị Tòan,
Thị Tam,Thị Tuất,Thị Em.
Ngô Văn Chỉ sinh Văn Hựu,Văn Xa,Văn Cho,Văn Mén.
Ngô Duy Dương sinh Văn Lọ (vt).
Ngô Văn Chơn sinh Văn Lâm,Văn Ngộ,Văn Đóan,Thị Quyên,Thị Hành,
Thị Nhường,Thị Kiết,Thị Tương,Thị Mai,Thị Bản,Thị Hòe.
Ngô Văn Kiều sinh Văn Cốc,Văn Huấn,Thị Giống.
Ngô Văn Sầm sinh Văn Ty,Văn Lai,Văn Hoan,Văn Mẹo,Thị Giảng,Thị Tuất,
Thị Mùi,Thị Nhỏ,Thị Em.
Ngô Thiên Kế sinh Văn Đổng,Văn Thống,Văn sấm,Thị Chi,Thị Đạm,Thị Sáu.
Ngô Văn Quyến sinh Văn Như.
Ngô Văn Út sinh Văn Thượng,Văn Thân,Thị Hinh.
Ngô Văn Vinh sinh Văn Dỏng.
Ngô Văn Thức sinh Văn Lập,Văn Hung.
Ngô Văn Hợi sinh Văn Mèo,Văn ChuộT.
Ngô Văn Hóng sinh Văn Hải,Văn Liên,Văn Con,Văn Sỏi,Thị Họat,Thị Xong.
Ngô Văn Phổ sinh Văn Phụng,Thị Dõan.
Ngô Văn Tấn sinh Thị Huyền.
Ngô Văn Hiển sinh Văn Vỹ,Văn Hỷ,Văn Sỹ,Văn Thảo,Văn Nghi,Văn Con,Thị Đỉnh.
Ngô Văn Bỉnh sinh Văn Chữ,Văn Bầu.
Ngô Văn Chít sinh Văn Tiết (vt).
Ngô Văn Thục sinh Văn Hoan.
Ngô Văn Hiệp(Hợi) sinh Văn Đây,Ngô Ngộ,Văn Chí,Văn Giảng.
Ngô Công Sương sinh Công Lê.
Ngô Công Lãnh sinh Văn Đỗng,Văn Giai,Văn Đủ,Thị Bảy,Thị Học,Thị Thêu,
Thị No.
Ngô Công Vinh sinh Văn Lâu,Thị Thời.
Ngô Công Hề sinh Công Sách,Văn Khiêm,Chánh Kinh,Văn Hộ,Văn Quý,
Văn Lai,Thị Thể,Thị Nữ.
Ngô Công Uynh sinh Thị Xá.
Ngô Công Lội sinh Văn Chiến,Văn Trường.
Ngô Công Của sinh Văn Viên,Văn Để,Thị Đinh,Thị Hành.
Ngô Sung sinh Ngô Liền,Ngô Điệp.
Ngô Công Đấu sinh Văn Cẩm,Văn Tòan,Văn Nhành.
Ngô Công Mùi sinh Văn Xin,Thị Cửu,Thị Lem,Văn Búa,Văn Rìu.
Ngô Công Chược sinh Văn Khai,Thị Thắng,Thị Quảng.
Ngô Công Huân sinh Văn Gà,Thị Giao,Thị Kiệm.
Ngô Văn Vững sinh Văn Kiều,Văn Bẻo,Thị Hơn,Thị Điêu,Thị Thuyền.
Ngô Văn Sức sinh Văn Yêm,Thị Sùng,Thị ĐuộT.
Ngô Công Nhiều sinh Văn Sắc,Văn Biên,Văn Lai,Thị Huề,Thị Đường,Thị Hậu.
Ngô Thúc Tuân sinh Công Phiên.
Ngô Quý Lâm sinh Công Quyền,Văn Đới.
Ngô Công Hiệu sinh Văn Nhưng (vt),Văn Đông,Văn Mén.
Ngô Công Đôi sinh Công Hiểu,Công Mưa,Công Đích,Công Ngộ,Thị Phước,
Thị Ngọ,Thị Trước,Thị Liễu.
Ngô Công Hòa sinh Thị Thiệt,Thị Cây,Thị Nhánh.
Ngô Công Kiệt sinh Công Trân,Văn Khóai,Công Lục.
Ngô Công Thân sinh Công Nghị,Công Duyên,Công Biên,Công Quý,Thị Nầy,
Thị Hòanh,Thị Sữa.
Ngô Công Vượng sinh Văn Khuê.
Ngô Công Lắm sinh Công Nhượng,Công Hòa,Công Xuyến.
Ngô Công Môn sinh Công Học,Công Nồi,Thị Húc,Thị Heo.
Ngô Công Sáp sinh Văn Báu,Thị Khóai,Thị Dây.
Ngô Văn Sọan sinh Văn Sành,Thị Ruồi,Thị Bến.
Ngô Công Phú sinh Công Ngốc,Công Tiếu,Công Núc.
Ngô Công Chiếu sinh Văn Diệt,Văn Hóan,Văn Ních,Văn Tròn,Thị Đó,Thị No.
Ngô Công Bẻo sinh Văn Lượng,Văn Đính,Văn Hợi,Thị Ký,Thị Cân,
Thị Yến,Thị Chí.
Ngô Công Tất sinh Công ChúT.
Ngô Công Phổ sinh Văn Diêm,Văn Búa,Văn Rìu,Văn Liềm,Văn Méo,
Thị Lựu,Thị Miến,Thị ChúT.
Ngô Công Vân sinh Văn Địch,Văn Thời,Văn Yên,Văn Niếu,Thị Văng,
Thị Biện,Thị Hảo,Thị Hiệp.
Ngô Văn Long sinh Văn Chung,Văn Truy,Thị Thận,Thị Viễn,Thị Meo.
Ngô Công Trọng sinh Văn Tá,Văn Xược,Văn Bố,Văn Quyền,Văn Sở,
Thị Đàn,Thị Hải,Thị Dần.Thị Lăng.
Ngô Công Đọat sinh Văn Nghề,Thị Lạc,Thị Dậu,Thị Kiến.
Ngô Công Đáo sinh Văn Bi,Văn Heo,Thị Hiền.
Ngô Công Tùng sinh Công Hội,Công Hiệp.
Ngô Công Thu sinh Văn Bửu,Công Tòan,Thị Thu,Thị Thơ,Thị Thìn.
Ngô Văn Tứ sinh Văn Phu,Văn Thời,Văn ÚT.
Ngô Công Quảng sinh Văn Sô,Văn Kiết,Văn Phổ,Văn Tư (đều vô tự),
Văn Tỏan,Văn Thâm,Văn Thời,Thị Ky,Thị Thái.
Ngô Công Trực sinh Văn Tố,Văn Như,Thị Vi,Thị Kha.
Ngô Văn Trước sinh Công Duật,Văn Lo,Văn Giã,Văn Mùi,Văn Điểu,
Văn Tài,Thị Chương,Thị Mau.
Ngô Văn Giai sinh Văn Cát,Văn Lượng.
Ngô Văn Vận sinh Văn Xuân,Văn Sành,Văn Sáu,Văn Dân,
Văn Học,Văn Thi.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Hiệu,Văn Tiếu,Văn Vinh,Thị Bổ,Thị Tế,Thị Tú.
Ngô Văn Tử sinh Văn Nhị (vt),Văn Lai,Văn Hòa,Văn Cục,Thị Chỉ,
Thị Nhi.
Ngô Văn Tráng sinh Văn Kỷ,Văn Vỹ,Thị Phước,Thị Hiếu.
Ngô Văn Chất sinh Văn Bửu,Văn Quỳ,Văn Bẩm,Văn Giáp,Văn Vò,
Văn Chỉnh.
Ngô Công Viên sinh Văn Dĩnh,Thị Úc,Thị Sang và ba trai đều vô tự (Văn Hùng,
Văn Hợi,Văn Thời).
Ngô Văn Diệt sinh Văn Liễu,Văn Mậu,Văn Hinh,Thị Tố.
Ngô Văn Sừng sinh Văn Kiết,Văn Tuân,Văn Tuân em (vt),Thị Khâm,Thị Kín.
Ngô Văn Ấn sinh Văn Điền,Thị Nhựt,Thị Thuận,Thị Tú.
Ngô Văn Bình sinh Văn Dõ (vt).
Ngô Văn Lộc sinh Thị Hơn,Thị ThiếT.
Ngô Công Nầy sinh Công Thùy.
Ngô Công Nò sinh Công Thung ,Công Liễu.
Ngô Công Điền sinh Công Lập.
Ngô Văn Sữa sinh Văn Dậu,Văn Dự,Văn Con,Thị Chút,Thị Phán,Thị Chí.
Ngô Văn Định sinh Văn Ty,Văn Cu,Văn Chuột,Văn Mau,Thị Thỏ,Thị Văn.
Ngô Văn Tiếu sinh Văn Lâm,Thị Thể,Văn Xịt,Văn Mặt,Thị Xin,Thị Ra,Thị XụT.
Ngô Văn Lúc sinh Thị Đó.
Ngô Văn Bẽo sinh Văn Kiều,Thị Nòai,Thị Tý.
Ngô Văn Quý sinh Văn Phố,Thị Xuân,Thị Phường.
Ngô Văn Dụ sinh Văn Hạo,Văn Chít,Văn Tuân,Văn Nhỏ,Thị Ngfhệ,Thị Mén.
Ngô Văn Quỳ sinh Văn Tọai,Văn Túy,Văn Điểu,Văn Trác,Văn Út,Thị Sáo,
Thị Tiếu,Thị Tuyển,Thị Biện.
Ngô Văn Phụng sinh Văn Tiềm,Thị Ty,Thị Em.
Ngô Văn Cội sinh Văn Mén,Văn Ngao,Văn Du,Văn Hà,Văn Nội,Thị Ốc.
Ngô Văn Nghiên sinh Thị Thanh,Thị Dương,Thị Minh.
Ngô Văn Khiêm sinh Văn Chữ,Văn Mèo,Văn ChuộT.
Ngô Văn Bích sinh Văn Dậu,Thị Hỏi,Thị Xê,Thị Đó,Thị Hàn.
Ngô Đắc Tính sinh Đắc Trích,Thị Bình,Thị Loan,Thị Đã,Thị Mẫn,Thị Mùi.
Ngô Đắc Bình sinh Đắc Trâu,Thị Cung,Thị Trở.
Ngô Đắc Bình sinh Đắc Sữa,Đắc Gậy,Đắc Miêu,Đắc Khét,Đắc Cờ,Thị Viện,
Thị Xích,Thị Tửu.
Ngô Đắc Công sinh Đắc Kế,Đắc Hốc,Đắc Khuất,Thị Hoang,Thị Thuận,Thị Duy.
Ngô Đắc Nghị sinh Đắc Tuyển (vt),Đắc Điện,Đắc Xin,Thị Thỏa.
Ngô Đắc Ngọ sinh Đắc Nghê,Thị Mi.
Ngô Đắc Vọng sinh Đắc Tiếu,Đắc Ngại,Đắc Hâm,Đắc Lạc,Thị Khước,
Thị Hạnh,Thị Nhỏ,Thị ChúT.
Ngô Đắc Khâm sinh Đắc Chuẩn,Đắc Trì,Đắc Năm,Thị ChúT.
Ngô Đắc Ó sinh Đắc Nghạnh,Đắc Nhỏ,Đắc Vện,Đắc Mực,Đắc Chút,Thị Cô,
Thị Quýt,Thị Tầm,Thị Nhỏ,Thị Xoắn.

Đời thứ 41

41 Ngô Văn Giác sinh Văn Thể,Văn Mến (vt),Thị Thừa,Thị Xây,Thị Bé.
Ngô Văn Hạnh sinh Văn Hoan,Văn Tốt (đều vô tự).
Ngô Văn Chút sinh Thị Nghiễm.
Ngô Văn Thi sinh Văn Khóa,ba trai vô tự (Văn Cẩn,Văn Mật,Văn Nhơn),Thị Danh,
Thị Ký,Thị Tung.
Ngô Văn Thành sinh Văn Thuyên (vt),Thị Ấm,Thị Dung.
Ngô Văn Vịnh sinh Văn Dần,Văn Cán,Văn Mới,Thị MóT.
Ngô Văn Dĩ sinh Thị Đường.
Ngô Văn Chức sinh Văn Chút,Văn Mính,Văn Chớ,Thị Đáo.
Ngô Văn Nho sinh Văn Cáo,Thị Chơn,Thị Thời,Thị Em.
Ngô Văn Dinh sinh Văn Hữu (vt),Thị Đãi.
Ngô Văn Hoặc sinh Văn Sắc,Thị Mỹ,Thị Lãm,Thị Nữ.
Ngô Văn Huyến sinh Văn San,Văn Đá (cả hai vô tự),Thị Đãi.
Ngô Văn Thận sinh Văn Dậu,Văn Sanh,Văn Kiếm,Văn Đấu,Văn Tham (đều vô tự),
Văn Mính,Văn Lý,Văn Út,Văn Nấu,Thị Bôi,Thị Khâm,Thị Hương.
Ngô Văn Sừng sinh Văn Tuân,Văn Tụy,Văn Vân,Văn Bốc (đều vô tự),Văn Mực,
Thị Nhơn,Thị Nghĩa.
Ngô Văn Hòa sinh Văn Em,Văn Ninh,Văn Tặc (đều vô tự),Văn Được,
Thị Bường,Thị Lượm.
Ngô Văn Giá sinh Văn Phẩm,Văn Hường,Thị Hương.
Ngô Văn Cưỡng sinh Văn Sáo.
Ngô Văn Tọai sinh Văn Hòe,Thị Cậy,Thị Lụa,Thị Út,Thị Gần,Thị Liễu,Thị Lý.
Ngô Văn Thích sinh Văn Trừng,Văn Tư.
Ngô Văn Nhã sinh Văn Luyến,Văn Từ,Thị Tuệ.
Ngô Văn Đạt sinh Văn Ân,Văn Ý,Thị Thông.
Ngô Văn Quá sinh Văn Hợi,Văn Thìn,Thị Tưởng.
Ngô Văn Trì sinh Văn Thứ,Văn Thiệu,Văn Bi,Thị Mực.
Ngô Văn Sứu sinh Văn Nhồng,Văn Chung,Văn Quy,Văn Khá,Văn Đến,Văn Nhỏ,Thị KéT.
Ngô Văn Liên sinh Văn Châu.
Ngô Văn Bính sinh Văn Ất,Văn Mao,Văn Hiên.
Ngô Văn Tý sinh Văn Thiện,Văn Quế.
Ngô Văn Sơ sinh Văn Vện,Văn Thọ (cả hai vô tự),Thị Vàng.
Ngô Văn Bơ sinh Thị Liễu.
Ngô Công Nhan sinh Công Bàn.
Ngô Công Tấn sinh Công Đông,Công Lại (vt).
Ngô Công Kiệt sinh Công Méo.
Ngô Công Lẫm sinh Công Dư,Thị hừa,Thị Vận.
Ngô Công Lúa sinh Công Nầy,Công Lái ,Công Thuyền,Công Tới (cả bốn vô tự),
Công Sào.
Ngô Công Hiệp sinh Công Hòa.
Ngô Văn Khêu sinh Công Thích,Văn Hoặc,Văn Kiếm,Thị Héo,Thị Thơm,Thị Lộng.
Ngô Văn Đuốc sinh Ngô Lễ (mất tích),Thị Chuyện,Thị Mèo.
Ngô Văn Thắng sinh Văn Vững,Văn SéT.
Ngô Văn Chức sinh Văn Phận,Văn Trâu,Thị Bò,Thị Bầy,Thị Cái,Thị Nai.
Ngô Văn Hướng sinh Văn Thơ,Thị Mùi.
Ngô Công Đích sinh Văn Phiến,Thị Tuyển.
Ngô Công Giáo sinh Công Thự,Thị Lai,Thị Hợi.
Ngô Công Thại sinh Văn Ngân,Văn Minh,Văn Thước,Văn Cường,Thị Mai,Thị Quế.
Ngô Công Sành sinh Văn Sọan,Văn Suối,Thị Du.
Ngô Công Lý sinh Thị Ngốc.
Ngô Văn Nhã sinh Văn Vằn,Thị Điền,Thị Nuôi,Thị Mọi.
Ngô Văn Khởi sinh Văn Tâm,Văn Hỷ,Văn Lân,Thị Sọan,Thị Thể,Thị Như,Thị Nhiên.
Ngô Văn Mù sinh Văn Kinh,Thị Xâu,Thị Xách,Thị Xít,Thị Nguyên,Thị Nhỏ,
Thị Khai,Thị Tiếu.
Ngô Văn Thám sinh Văn Em,Thị Nhơn,Thị Đãi,Thị Giá,Thị Duyên.
Ngô Văn Tử sinh Văn Kích.
Ngô Văn Tân sinh Ngô Câu.
Ngô Văn Hỷ sinh Văn Đệ (phân chi Plâycu).
Ngô Văn Lâm sinh Văn Bổ,Văn Giao,Ngô Bồi,Thị Hồ.
Ngô Văn Ngộ sinh Văn Ngộ,Thị Chút,Thị Đỉnh.
Ngô Văn Đóan sinh Văn Mạnh,Văn Tụng.
Ngô Văn Cốc sinh Văn Quy,Văn Phụng.
Ngô Văn Huấn sinh Văn Huấn,Văn Luyến,Thị Thử,Thị Thìn,Thị Bé,Thị Tôm,Thị Tép.
Ngô Văn Lai sinh Văn Thiệt,Văn Phẩm,Văn Côn.
Ngô Văn Đổng sinh Ngô Tích,Ngô Lưu,Ngô Lạc,Ngô Dò,Ngô Vàng,Ngô Vịnh,
Thị Kiệt,Thị Mai.
Ngô Văn Thống sinh Ngô Cán.
Ngô Văn Như sinh Thị Kiến.
Ngô Văn Thượng sinh Ngô Nuôi,Ngô Mực,Thị dày.
Ngô Văn Lập sinh Văn Lập.
Ngô Văn Hung sinh Văn Kiểm,Văn TốT.
Ngô Văn Chuột sinh Ngô Bộ,Ngô Thà,Thị Thạc,Thị Mùi.
Ngô Văn Vỹ sinh Văn Mẹo,Văn Thuật,Ngô Số,Văn Xin,Thị Dậu,Thị Nhỏ.
Ngô Văn Đây sinh Ngô Xé,Thị Huy,Thị May,Đức Thanh,Đức Thân (vt),
Thị Hạnh,Thị Phước,Thị Tâm.
Ngô Ngộ sinh Ngô Định,Ngô Thiêm (Ls.),Xuân Nhĩ,Thị Bình.
Ngô Chí sinh Ngô Thắng,Thành Tài,Ngô Thạnh,Đức Dư,Đức Dinh,Thị Xuân,
Thị Thu,Thị Nguyện,Thị Ước.
Ngô Giăng sinh Ngô Khái,Quang Thành,Ngô Khá,Thị Thương,Thị Thử.
Ngô Sang sinh Thị Mãn,Thị Lượm.
Ngô Liền sinh Ngô Tích,Ngô Pho,Thị Ưng,Thị Thời.
Ngô Điệp sinh Ngô Điệp.
Ngô Công Lê sinh Công Sách,Văn Giai,Thị Hiếu.
Ngô Văn Dai sinh Văn Do,Văn Luân,Ngô Tháo.
Ngô Văn Trác sinh Văn Trực,Văn Chỉ,Văn Diện,Văn Thâm,Văn Liêu,
Thị Tung,Thị Tương,Thị Thâm.
Ngô Văn Đủ sinh Văn Chí,Thị Chánh,Thị Hồi,Thị Họat,Thị Tâm,Thị Kế.
Ngô Văn Lâu sinh Thị Lâu,Thị Đài,Ngô Lệ.
Ngô Văn Khiêm sinh Văn Đạt,Văn Viện,Ngô Đăng,Thị Như,Thị Vận,
Thị Thi,Thị Xin,Thị Niệm.
Ngô chánh Kinh sinh Văn Huấn,Thị Bá,Thị Thọai,Thị Giăng.
Ngô Văn Hộ sinh Văn Vân,Công Đam,Văn Cận,Thị Vận,Thị Ruồi.
Ngô Văn Quy sinh Văn Mậu,Văn Thuần.
Ngô Văn Cẩm sinh Văn Cẩm,Hữu Điển,Duy Trịnh,Kiêm Giám,Thị Tù,Thị Chấp.
Ngô Văn Xin sinh Văn Tuyển,Văn Đó,Thị Cái.
Ngô Văn Gà sinh Văn Thâm,Văn Liễu.
Ngô Văn Kiều sinh Văn Luôn ,Văn Còn,Văn Mới,Văn Cũ,Văn Vu,Thị Thời,
Thị Thân,Thị Len,Thị Luốc,Thị Lọ.
Ngô Văn Bẻo sinh Văn Ngọ,Văn Tý,Văn Mẹo,Thị Hợi,Thị Dần,Thị Thìn,
Thị Mùi.
Ngô Văn Yêm sinh Thị Phận,Thị Chắc,Thị Thiệt,Thị Thêm.
Ngô Văn Biên sinh Văn Chút,Thị Kỷ,Thị Phối,Thị Dần.
Ngô Văn Lai sinh Công Xin,Công Bèn,Văn Nuôi,Văn Xe,Văn Miên,Thị Cân,
Thị Thừa,Thị Hành.
Ngô Công Phiên sinh Ngô Cả (vt),Ngô Lãm,Ngô Diễn,Văn Út,Thị Phặt,
Thị Sắc,Thị Thòan,Thị Mọi,Thị Nghiệp.
Ngô Văn Đông sinh Văn Mẹo,Văn Ký,Văn Gậy,Thị Qua,Thị Bồi,Thị Kiều,
Thị Cúc.
Ngô Văn Mén sinh Văn Đó,Văn Cư,Văn Cò,Văn Chiêm,Thị Huấn,Thị Thời,
Thị Nga,Thị Bảy,Thị Thẳng,Thị ÍT.
Ngô Công Lạc sinh Văn Nhung,Công Hoan,Ngô Phúng,Thị Bột,Thị Tụng,
Thị Huyền,Thị Luân,Thị Huấn.
Ngô Công Nhượng sinh Văn Núi,Văn Sơn,Văn Thuyền,Thị Nhượng,Thị Hải,
Thị Hà,Thị Kiều,Thị Nhị,Thị Tam.
Ngô Công Hòa sinh Thị Hòa,Thị Có.
Ngô Công Xuyến sinh Văn Khải,Văn Nhì,Văn Tứ,Văn Tương,Văn Hương,
Thị Xuyến,Thị Đông,Thị Dư.
Ngô Công Học sinh Văn Quyền,Văn Sai,Văn Xách,Văn Mễnh,Văn Diêu,
Thị Út,Thị âm,Thị Sẻ,Thị Nghé.
Ngô Văn Bán sinh Văn Đông,Văn Dần,Văn Xích,Văn Thứ,Thị Hùynh,
Thị Mai,
Ngô Công Sử sinh Văn Khai,Văn Chù,Văn Mau,Thị Thiết,Thị Cấn,
Thị Lân,Thị Minh.
Ngô Văn Xáng sinh Văn Mọi,Thị Luận,Thị Hiếu.
Ngô Văn Hóan sinh Văn Cô,Văn Thị ,Văn Kỉnh,Văn Được,Văn Cái,Văn Bỉnh,
Thị Rận.
Ngô Văn Ních sinh Ngô Tùng.
Ngô Văn Lương sinh Văn Thìn,Văn Cơ (vt).
Ngô Văn Đính sinh Văn Chính,Văn Đính,Thị Đóng.
Ngô Văn Búa sinh Văn Thi,Văn Hoan,Văn Thị ,Thị Xin.
Ngô Văn Riều sinh Văn Luận,Văn Nuôi (cả hai vô tự).
Ngô Văn Địch sinh Văn Nghi,Văn Trung (vt),Văn Dung,Thị Dự,Thị Trinh,
Thị Con,Thị ChúT.
Ngô Văn Yên sinh Văn Hòai (vt),Văn Như,Ngô Truyền,Văn Dậu,Văn Tuất,Văn Hợi,
Văn Sẻ,Thị Đạo,Thị Nghĩa.
Ngô Văn Truy sinh Văn Cho,Văn Hóa,Thị Lê.
Ngô Văn Tá sinh Văn Phó,Văn Do,Văn Tọai,Thị Thân.
Ngô Văn Xước sinh Văn Huynh,Văn Mãn,Văn Cẩn,Thị Quy,Thị Hồi,Thị Tiễu.
Ngô Văn Bố sinh Văn Khai,Văn Chước,Văn Thắng,Thị Én,Thị Đãi.
Ngô Văn Sữa sinh Văn Tam,Văn Búa,Văn Phố,Văn Tứ,Văn Lục,Văn Ngọ.
Ngô Văn Nghề sinh Thị Nghề,Thị Thời,Thị Mọi.
Ngô Văn Bị sinh Thị Em,Văn Liêm,Thị Mẹo.
Ngô Văn Hội sinh Văn Hội (vt).
Ngô Văn Hiệp sinh Văn Niệm.
Ngô Văn Tòan sinh Văn Tòan,Văn Khóa,Thị Sắc,Thị Em,Thị Con.
Ngô Văn Tỏan sinh Ngô Đạm,Ngô Kỳ,Ngô Năm,Ngô Trân,Ngô Du,Văn Liên,
Thị Lập,Thị Bảy,Thị Điệu.
Ngô Công Duật sinh Công Thơ.
Ngô Văn Lọ sinh Văn Anh,Văn Hòai,Thị Diên,Thị Lắm,Thị Tường,Thị Tân,
Văn Chí,Thị Loan,Ngô Tiêu,Ngô Đức ,Ngô Cư,Ngô Đáo,
Thị Đương,Thị Vân,Thị Sáu,Thị Cưỡng,Thị Đễ.
Ngô Giả sinh Ngô Ban,Ngô Ba,Ngô Xuân,Thị Giả,Thị Đề,Thị Hương.
Ngô Mùi sinh Thị Mùi.
Ngô Điểu sinh Thị Điệp.
Ngô Tài sinh Ngô Đầu,Ngô Tu,Thị Liên,Thị ÚT.
Ngô Văn Cát sinh Ngô Ngoạn.
Ngô Thi sinh Ngô Điệp,Ngô Sách,Thị Khái,Thị Chất,Thị Thơm.
Ngô Dân sinh Thị Dân,NgôBán,Thị Mua.
Ngô Học sinh Thị Học,Bá Thừa,Bá Hùng (vt).
Ngô Văn Hiệu sinh Văn Ky (vt),Văn Liễu,Văn Sỹ ,Thị Hợi.
Ngô Văn Tiếu sinh Văn Diết,Văn Cấn,Văn Ba.
Ngô Văn Vinh sinh Văn Duật,Văn Con,Thị Cước.
Ngô Văn Lai sinh Văn Thiệu (vt).
Ngô Văn Cục sinh Thị Dung,Thị Cái.
Ngô Văn Kỷ sinh Văn Quát,Văn Tác,Thị Hào,Thị Mương.
Ngô Văn Phó sinh Văn Nhự,Văn Lự,Văn Hoạch,Thị Théo.
Ngô Văn Chỉnh sinh Văn Tần,Văn Mao (vt),Thị Từ.
Ngô Văn Dĩnh sinh Văn Liên (vt),Thị Khâm.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Lục,Văn Đáo,Văn Đinh,Văn Thán (cả bốn vô tự),
Văn Lực,Ngô Tại,Thị Thư,Thị Quảng.
Ngô Văn Mậu sinh Văn Đa.
Ngô Văn Dinh sinh Văn Dần,Văn Đối,Văn Trước,Văn Được,Văn Xuân,Văn Quyến.
Ngô Văn Khét sinh Ngô Mính.
Ngô Văn Lam sinh Ngô Thuẫn.
Ngô Văn Điền sinh Văn Được,Văn Tâm,Thị Điển,Thị Nồi.
Ngô Văn Dậu sinh Văn Túy,Văn Mưu,Văn Trí,Thị Ký,Thị Sử.
Ngô Văn Dự sinh Ngô Viện,Thị Sửa,Thị Năng,Thị Cần.
Ngô Văn Ty sinh Ngô Ngự,Ngô Sùng,Ngô Hà,Văn Ổi.
Ngô Văn Cu sinh Thị Môn.
Ngô Văn Lâm sinh Thị Thu.
Ngô Công Thùy sinh Công Tọai,Công Hoằng,Thị Bền,Thị Biên.
Ngô Công Thung sinh Công Đợi,Công Phước,Công Danh,Công Tài.
Ngô Công Lập sinh Công Hiếu,.
Ngô Công Tuân sinh Ngô Cần,Thị Thư,Thị Cái,Thị Đây,Thị Nhã.
Ngô Công Trác sinh Ngô Phương,Thị Thứ,Thị Đề.
Ngô Văn Tiềm sinh Văn Chiêm,Thị Cái.
Ngô Văn Khai sinh Văn Khai,Thị Tâm.
Ngô Văn Nội sinh Thị Giang.
Ngô Văn Mèo sinh Thị Tá.
Ngô Văn Chuột sinh Thị Lợi.
Ngô Văn Dậu sinh Văn Dĩnh,Văn Dực,Văn Đa,Văn Thiểu.
Ngô Đắc Trích sinh Đắc Trâu,Đắc Long,Thị Phụng,Thị Tể.
Ngô Đắc Trâu sinh Đắc Luận,Đắc Đó,Đắc Vấn,Thị Lại.
Ngô Đắc Sữa sinh Đắc Chuột (vt),Đắc Mò,Đắc Hó,Đắc Dĩnh,Thị Tù,Thị Hiếu,
Thị Mén,Thị ChúT.
Ngô Đắc Miệu sinh Thị Lang,Thị Huệ.
Ngô Đắc Khét sinh Đắc Hối,Đắc Diệt,Thị Thìn.
Ngô Đắc Kề sinh Đắc Hảo,Đắc Dung,Đắc Mèo,Thị Kề,Thị Ai.
Ngô Đắc Hốc sinh Đắc Mèo,Đắc Mậu,Đắc Chút,Đắc Chĩnh,Thị Lại.
Ngô Đắc Khuất sinh Đắc Chân,Đắc Liên (cả hai vô tự),Đắc Nuôi.
Đắc Liễu,Đắc Nhỏ,Đắc Đến.
Ngô Đắc Diện sinh Đắc Được (vt),Thị Hậu,Thị Hòai,Thị Uẩn,Thị Nhiều,Thị Lựa.
Ngô Đắc Nghê sinh Đắc Thao,Đắc Em,và hai trai vô tự (Đắc Lào,Đắc Lựa).
Ngô Đắc Ngại sinh Đắc Huyền,Đắc Luyện,Đắc Thê đều vô tự.
Ngô Đắc Vện sinh Văn Lương.
Ngô Đắc Mực sinh Văn Bằng,Văn Lý.

Đời thứ 42

42 Ngô Văn Thể sinh Văn An,Văn Thảo (vt),Văn Khương,Thị Lại.
Ngô Văn Khóa sinh Văn Học (vt),Văn Hòanh,Văn Hóan,Thị Huấn,Thị Phi,
Thị Tốt,Thị Mận.
Ngô Văn Dần sinh Văn Liễu,Văn Mai anh,Văn Mai em,Văn Hảo,Văn Hải,
Thị Én,Thị Hạnh.
Ngô Văn Cán sinh Văn Đại,Văn Phong,Thị Liên,Thị Hồng Vân,Thị Như Tiên.
Ngô Văn Thêm sinh Văn Sơn,Văn Minh.
Ngô Văn Sắc sinh Văn Địch,Thị Đãng,Bồi chị,Bồi em.
Ngô Văn Mính sinh Văn Thành.
Ngô Văn Lý sinh Văn Tổng,Văn Trước (vt),Văn Sau (vt).
Ngô Văn Út sinh Văn Hướng (vt),Thị Bé,Thị Lục,Thị Bê.
Ngô Văn Mực sinh Thanh Trà,Thị Thơ,Thị Hòanh.
Ngô Văn Được sinh Thị Lành.
Ngô Văn Phẩm sinh Văn Phong,Thị Phương,Thị Trang,Thị Cẩm Thi.
Ngô Văn Hường sinh Đức Thuận,Đức Hiền,Đức Hùng,Thành Hiếu,Thành Nhân,
Thành Việt,Thành Hùng,Thị Hạnh,Thị Vân,Thị Thảo.
Ngô Văn Sáo sinh Thị Tuyết,Thị Hồng Vân.
Ngô Văn Hòe sinh Văn Trợ,Thị Bé.
Ngô Văn Trừng sinh Văn Nha,Ngô Nhẫn,Văn Thư,Văn Vọng,Thị Hợi,Thị Lại.
Ngô Văn Tư sinh Ngô Tịnh.
Ngô Văn Từ sinh Văn Dục Ls.
Ngô Văn Thứ sinh Văn Nẫm,Văn…,Thị Phong,Thị Vằn,Thị Vện.
Ngô Văn Thiệu sinh Văn Bồi,Thị Long.
Ngô Văn Chung sinh Văn Bình,Thị Thuận,Văn Luận,Thị Công,Văn Định,
Thị Thảo,Thị Thắng.
Ngô Quy sinh Văn Phúc,Văn Kế,Văn Tiếp,Thị Hiền.
Ngô Văn Nhỏ sinh Thị Phúc,Thị Tương.
Ngô Văn Châu sinh Tấn Lai,Tấn Hùng,Tấn Thùy,Thị Ngân.
Ngô Văn Mao sinh Thị Nga.
Ngô Văn Hiên sinh Đình Lang,Thị Hiên,Thị Ngôn,Thị Cúc,Thị Khai,
Thị Hàng.
Ngô Công Bàn sinh Công Bồi,Công Chước,Công Lợi,Công Quyền,Công Câu,
Thị Nhẫn,Thị Hậu.
Ngô Công Đông sinh Công Kỳ,Công Lợi,Công Hoan,Công Meo,Công Cực,
Công Nghị,Thị Hai,Thị Nên,Thị Đắng.
Ngô Công Méo sinh Công Chước,Công Hý,Thị Chuột,Thị Tấm.
Ngô Công Dư sinh Công Dụng,Thị Thêm.
Ngô Công Nầy sinh Thị Xụt,Thị Cược.
Ngô Công Sào sinh Công Y,Văn Loan,Thị Miên,Thị Tiền.
Ngô Công Lái sinh Văn Sữa.
Ngô Văn Hòa sinh Văn Bình,Thị Diên,Thị Chiểu.
Ngô Văn Vững sinh Văn Sở,Văn Miên,Thị Cái.
Ngô Văn Sét sinh Văn PháT.
Ngô Ngân sinh Tấn Đạt,Thị Ngốc,Thị Ngọt,Thị Bờ,Thị Bụi.
Ngô Thước sinh Văn Ngọc,Đình Hồng,Thị Đắc,Thị Nhạn,Thị Thước,
Thị Kim Yến.
Ngô Cường sinh Văn Lực,Văn Lương,Văn Thành,Thành Được,
Đức Nhiên,Văn Thân,Thị Cường,Thị Châu,Thị RớT.
Ngô Văn Tâm sinh Thị Kỷ.
Ngô Văn Hỷ sinh Công Viễn,Công Xước,Thị Mai,Thị Tùng,Thị Để.
Ngô Văn Em sinh Công Liệu,Thị Liễu.
Ngô Văn Kích sinh Công Tuấn,Thị Kích.
Ngô Câu sinh Ngô Nhứt,Thị Xuân,Thị Khai.
Ngô Văn Bổ sinh Thị Nghi,Thị Hậu,Thị Sau,Thị Đó,Thị DuậT.
Ngô Văn Giao sinh Văn Vàng.
Ngô Bồi sinh Thị Mực.
Ngô Văn Mạnh sinh Văn Mạnh,Văn Được,Thị Thiệt,Thị Thù.
Ngô Văn Luyến sinh Văn Cái,Thị Luyến,Thị Cò,Thị Mực.
Ngô Văn Côn sinh Thị Hiền,Thị Quốc.
Ngô Văn Tích sinh Văn Kẽm,Văn Thanh,Thị Phi,Thị Cái.
Ngô Văn Cán sinh Ngô Tánh,Đình Dũng,Công Thành,Công Tú,
Thị Song,Thị Xê.
Ngô Nuôi sinh Ngô Diên,Văn Dũng,Ngô Niên,Thị TuyếT.
Ngô Bộ sinh Văn Anh,Văn Công, Văn Khánh (Ls.),Văn Ninh,
Văn Thắng,Văn Bình,Thị Y,Thị Phượng.
Ngô Thà sinh Thị Huấn,Thị Thông,Thị Minh,Văn Trung,Văn Thu,
Văn Khôi,Thị Thanh,Thị Bình,Thị Thủy,Thị Hoa.
Ngô Văn Thuật sinh Văn Quý,Văn Trọng,Văn Cảnh,Thị Ngọc,
Thị Nguyệt,Thị Tùng,Thị Độc,Thị ÚT.
Ngô Số sinh Ngô Hiệu,Văn Phong,Ngô Phú,Ngô Quốc, Văn Hạnh,
Văn Phước,Thị Thanh,Thị Tài,Thị Hiền.
Ngô Đức Thanh sinh Đức Dân (Đh),Đức Nam (Đh),Đức Hòang,Thị Nghi,
Thị Vệ,Quốc chị,Quốc em,Thị Lệ Thu,Đức ViệT.
Ngô Định sinh Đức Mạnh,Đức Hường,Đức Hương,Thị Hoa,Thị Xuân.
Ngô Xuân Nhĩ sinh Xuân Nhị,Xuân Hùng,Xuân Hồng,Thị Huệ,Ngô Hà,
Ngô Hải.
Ngô Thắng sinh Thị Trừng (bs.ls.),Trường Xuân,Hà Hiệp (ks),Thị Ánh Đông(bs),
Thị Phương Nam (Đh).
Ngô Thành Tài sinh Thành Lượng,Thị Cúc,Thị Thuận.
Ngô Thạnh sinh Đức Thị nh,Thị Thanh Đà,Việt Hùng.
Ngô Đức Dư sinh Đức Dục,Đức Nhật,Đức Tao,Thị Mỹ Duyên,Thị Mỹ Dung,
Thị Kiều Diễm,Thị Kiều Oanh.
Ngô Đức Dinh sinh Viết Vĩnh (Đh),Nhật Thắng (Đh),Thị Ngọc Thoa,
Thị Ngọc Thy,Thị Ngọc Trinh.
Ngô Khái sinh Đức Duy,Thị Hiền.
Ngô Quang Thành sinh Đức Dũng,Đức Tòan,Đức Lê,Đức Hải,Thị Thuận,
Thị Hồng,Thị Lai,Thị Lợi,Thị Phú,Thị Lộc,Thị Phụng,Đức Long,Đức Lân,
Thị Quy,Thị Loan,Thị Phúc.
Ngô Khá sinh Đức Vui,Đức Tự,Đức Do,Đức Sung,Thị Thanh Nhàn,Thị Thế,
Thị Lệ,Thị Hoa,Thị Ly.
Ngô Pho sinh Ngô Hồng,Ngô Thanh.
Ngô Tháo sinh Văn Thức,Thị Sữa.
Ngô Văn Trực sinh Văn Diên,Văn Minh.
Ngô Văn Diện sinh Văn Kế,Thị Có,Thị Hữu.
Ngô Văn Liêu sinh Văn Bé,Thị Lụa,Thị Bằng.
Ngô Đăng sinh Ngô Tín,Ngô Vàng,Ngô Bửu,Ngô Lang.
Ngô Lệ sinh Văn LuậT.
Ngô Văn Viện sinh Ngô Mạch,Thị Bé.
Ngô Văn Cận sinh Văn Chụp,Thị Cân,Thị Chí,Thị Tâm,Thị Thị nh.
Ngô Hữu Điển sinh Thị Thanh,Thị Ngọc,Ngô Cảnh.
Ngô Duy Trịnh sinh Ngô Căn,Văn Thiêm,Thị Tỏ.
Ngô Văn Tuyển sinh Thị Kỳ.
Ngô Văn Đó sinh Ngô Nghệ,Thị Bích.
Ngô Liễu sinh Ngô Chung.
Ngô Văn Mới sinh Văn Mua,Văn Bán,Đức Dung,Thị Mai,Thị Tâm.
Ngô Văn Cũ sinh Văn Võ.
Ngô Văn Khai sinh Thị Khai,Thị Tâm.
Ngô Văn Nuôi sinh Văn Lợi,Văn Vinh,Thị Nhung,Thị Lợi.
Ngô Văn Xe sinh Văn Liễn (Ls.),Văn Minh,Thị Phiên,Thị Luận.
Ngô Lãm sinh Ngô Thống,Văn Nuôi ,Thị Lâm.
Ngô Diễn sinh Ngô Phùng,Thị Cái,Văn Xí,Ngô Cẩn,Văn Hòang,
Thị Mày,Thị Lương,Thị Mực.
Ngô Văn Út sinh Ngô Tiếng,Văn Xãi,Thị Cái,Thị Xuân.
Ngô Văn Ký sinh Ngô Khoan,Văn Viên,Ngô Hiển,Văn Đặng.
Ngô Văn Gậy sinh Thị Ngọat,Thị Sỏi.
Ngô Văn Đó sinh Thị Thuyền,Cái lớn,Cái nhỏ,Thị Đào.
Ngô Văn Cư sinh Văn Hà,Thị Cư.
Ngô Văn Cò sinh Thị Việt,Văn Cái,Văn Phương.
Ngô Văn Nhung sinh Văn Đăng,Văn Tích,Đức Vỹ,Kim Tương,
Văn Ân,Thị Chước,Thị Trà.
Ngô Công Hoan sinh Văn Bộ (vt),Văn sau (vt),Văn Minh,Thị Sách,Thị Tịch,
Thị Tuyết,Thị Thanh,Thị Mẫn.
Ngô Phúng sinh Văn Hựu,Thị Bồi,Thị Hảo,Thị Quyên.
Ngô Văn Núi sinh Văn Này,Văn An.
Ngô Văn Sơn sinh Văn Xuyến,văn Nhỏ.
Ngô Văn Khải sinh Văn Chút,Thị Tân,Thị Sai,Thị Hiệt,Thị Sung.
Ngô Văn Nhì sinh Văn Mùi,Văn Ty,Văn Thìn.
Ngô Văn Tứ sinh Thị Thảo,Thị Mao,Thị ÚT.
Ngô Văn Hương sinh Thị Dư.
Ngô Văn Quyền sinh Văn Kéo,Văn Tấu,Văn Con,Văn Cò,Văn Út,
Thị Mới,Thị Thai,Thị Xin,Thị Lịch.
Ngô Văn Xách sinh Văn Kiều,Văn Thêm,Ngô Thảo,Văn Nải,Thị Mật,
Thị Thắng,Thị Ngân,Thị Xong,Thị Biện.
Ngô Văn Đông sinh Văn Kỳ,Ngô Đó,Thị Dư.
Ngô Văn Khai sinh Văn Chụp,Văn Mót,Văn Đực,Văn Chữ.
Ngô Văn Mọi sinh Văn Tranh,Văn Để,Thị Xý,Thị Đáng.
Ngô Văn Cô sinh Thị Dĩnh.
Ngô Văn Kỉnh sinh Văn Nhược.
Ngô Văn Bỉnh sinh Thị Cúc.
Ngô Tùng sinh Ngọ An,Thị Hậu.
Ngô Văn Thìn sinh Văn Thũn,Văn Tôn.
Ngô Văn Chính sinh Ngô Lượng.
Ngô Văn Đính sinh Ngô Chinh.
Ngô Văn Hoan sinh Ngô Đàn.
Ngô Văn Nghi sinh Ngô Ngại,Ngô Nghiễm,Thị Cúc,Thị Lan.
Ngô Truyền sinh Hữu Bản,Thị Mực,Thị Truyền,Thị Xiêm,Thị Thêm,
Thị Hoa,Thị Hương.
Ngô Văn Dâu sinh Đình Phụng,Đính Loan,Văn Phòng,Ngô Đức .
Ngô Văn Tuất sinh Ngô Vện,Ngô Đàn,Thị Nhưng,Thị Ngọc.
Ngô Văn Sẻ sinh Văn Chơn,Văn Chưởng.
Ngô Văn Phó sinh Văn Nhược,Văn Đội,Văn Tâm,Văn Hinh,Thị Văn,
Thị Gần.
Ngô Văn Do sinh Văn Sở,Văn Được,Văn Lựu,Văn Bài.
Ngô Văn Huynh sinh Văn Hương,Văn Thường,Văn Khải,Văn Quát,
Văn Thiệp,Thị Thám.
Ngô Văn Cẩn sinh Văn Cừ,Thị Bá.
Ngô Văn Tam sinh Văn Trừng,Thị Trúng,Thị Tường.
Ngô Văn Búa sinh Văn Đào.
Ngô Văn Phố sinh Văn Giang,Văn Mót,Thị Thí.
Ngô Văn Niệm sinh Thị Niệm,Thị Ân,Văn Mực.
Ngô Văn Khóa sinh Đình Bổ,Tấn Bộ,Minh Chánh.
Ngô Đạm Có tên là Nghi Ngô,1880-1953,Tú tài năm 1905.
Năm 1897 tham gia phong trào xuất dương do Cụ Phan Bội Châu tổ chức.
Năm 1905 tham gia tổ chức phong trào Đông Kinh Nghĩa thục.
Năm 1907 tham gia phong trào chống thuế ở Quảng Nam,bị kết án 8 tháng tù.
Năm 1917 tham gia phong trào Duy Tân ,bị bắt lần thứ hai.
1928-1938 ứng cử Hội đồng quản hạt Quảng Nam,Nghị viên Nghị viện
dân biểu Trung kỳ.
1945-1953 Hội trưởng Liên việt huyện Thăng Bình.
Sinh Ngô Hoan,Thị Đồng,Thị Đề,Thị Oanh,Thị Hạnh,Thị Cái,Thị Hỷ.
Ngô Trân sinh Văn Dương,Văn Thiện,Thị Thi.
Ngô Văn Du sinh Ngô Nhu,Ngô Hành,Ngô Bình,Thị Nguyên,Thị Yến.
Ngô Tiêu sinh Ngô Hòa,Ngô Đây,Thị Thạch,Thị Bàng,Thị Mai,Thị Thêm,
Văn Bính.
Ngô Đức sinh Văn Phứơc,Ngô Thảo (định cư Hoa Kỳ),
Ngô Dũng (Ts,định cư Hoa Kỳ),Ngô Nam (định cư Hoa Kỳ),
Thị Phương,Thị Lễ,Thị Nghĩa,Thị Hiền,Thị Hậu.
Ngô Cư sinh Ngô Dõng (định cư Hoa Kỳ),Ngô Mãnh,Văn Nữ (Ls.),
Ngô Dũng (Đh),Thị Thuận,Thị Mộng Ủy,Thị Như Thủy,Thị Kiều Diễm.
Ngô Đáo sinh Minh Hòang (định cư Hoa Kỳ),Minh Dương,Minh Hùng,
Minh Cường,Thị Hoa,Thị Lệ,Thị Ánh Hồng,Thị Hồng Lan.
Ngô Ba sinh Ngô Trương,Ngô Hiệu,Văn Quán,Văn Vàng,Thị Cân,Ngô Đông,
Thị Hạc,Thị Hương.
Ngô Ban sinh Ngô Đông,Quang Cúc,Văn Xù,Văn Em,Văn Nhỏ,Thị Ngọc,
Thị Mai,Thị Lan.
Ngô Đầu sinh Văn Đường,Văn Thanh,Văn Bảy,Văn Tám,Thị Triệu,
Thị Bình.
Ngô Tu sinh Thị Tuấn,Thị Thọai,Thị Cũng,Thị Vui,Thị Mừng,Văn Tòan,
Thị Tuyết,Thị Thương.
Ngô Ngọn sinh Ngô Sa,Ngọ An,Thị Mai,Thị Ba.
Ngô Sách sinh Tần Lợi,Tần Phước (vt),Hòang Sơn,Văn Thọ,Văn Thao,
Thị Được,Thị Tứ.
Ngô Bán sinh Văn Được.
Ngô Bá Thừa sinh Bá Chung,Bá Thủy.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Hà,Văn Quy,Văn Đa,Thị Rớt,Thị Thí,Thị Hòai,
Thị Đó.
Ngô Văn Sỹ sinh Thị Sỹ,Thị Trĩ,Thị Hòai.
Ngô Văn Diết sinh Văn Trâu,Văn Tâm,Văn Thanh,Thị Luận,Thị Xí.
Ngô Văn Cấn sinh Văn Tánh,Thị Ngân,Thị Xuyến.
Ngô Văn Duật sinh Văn Luật,Thị Xuân.
Ngô Tác sinh Quý Đức,Quý Lân,Quý Hòang,Quý Dương,Thị Hương,
Thị Liêm,Thị Ánh.
Ngô Đào sinh Văn Quý,Ngô Minh,Thị Hường.
Ngô Văn Phú sinh Văn Tảo (vt),Ngô Phú,Đức Nuôi (vt),Đức Mày,Văn Thêm,
Văn Lợi,Thị Vinh,Thị Dự,Thị Hường.
Ngô Tại sinh Văn Xí (vt),Văn Khôi,Văn Viễn,Thị Trà,Thị Mai,Thị Thọ.
Ngô Mính sinh Ngô Ngươn,Ngô Tích,Ngô Đáng,Thị Cái.
Ngô Thuẫn sinh Ngô Thuẩn.
Ngô Văn Túy sinh Văn Trân,Thị Chung,Thị Bửu.
Ngô Văn Mưu sinh Văn Xý,Thị Lành,Thị Nghệ.
Ngô Viện sinh Thị Tương,Thị Việt,Thị Hồng,Thị Hiệu,Thị Hòa,Văn Hảo.
Ngô Ngự sinh Văn Thử,Văn Đức ,Văn Trí,Thị Nghĩa.
Ngô Hà sinh Ngô Nhơn,Văn Hà (Ls.),Văn Sanh,Văn Lắm,Thị Nghĩa,Thị Đức.
Ngô Sùng sinh Văn Kính,Thị Tâm.
Ngô Công Tọai sinh Thị Tứ.
Ngô Công Danh sinh Công Dinh,Công Sương,Công Hiền,Công Mận.
Ngô Công Tài sinh Văn Khương,Công Giác,Công Chỉ.
Ngô Công Hiếu sinh Công Hội,Công Hiệp,Công Quả,Công Đức.
Ngô Cần sinh Văn Nghĩa,Văn Thiện,Thị Kiệm,Thị Liêm,Thị Chính.
Ngô Phương sinh TửuTư,Đức Hùng,Nhật Linh,Thị Thành,Thị Thỏa,Thị Mãn,
Thị Hiệp.
Ngô Văn Dực sinh Văn Thanh,Văn Tài,Thị Chí,Thị Luận.
Ngô Đắc Mò sinh Văn Tuất (vt),Văn Thi,Thị Ty,Thị Hân.
Ngô Đắc Hó sinh Văn Thọ (vt),Thị Được,Thị Thưởng.
Ngô Đắc Mậu sinh Văn Quốc (vt),Bá Đính,Văn Thân (vt),Thị Nguyên,Thị Tho,
Thị Nghi,Thị Tịch,Thị Thuấn.
Ngô Đắc Chút sinh Văn Lộc (vt),Văn Tại,Văn Tồn (vt),Thị Thúy.
Ngô Đắc Nuôi sinh Thị Hòa,Thị Thúy.
Ngô Đắc Nhỏ sinh Văn Tài,Thị Lan.
Ngô Thao sinh Thị Ôm,Thị Hòanh,Ngô Bút,Văn Di,Văn Hỡi,Văn Chức,Văn Bổ.
Ngô Em sinh Thị Giai.
Ngô Bằng sinh Văn Nghĩa,Văn Trí ,Văn Thông,Văn Minh,Văn Phước,
Văn Lợi,Thị Lễ,Thị Huệ,Thị Thành,Thị Tài.
Ngô Lý sinh Văn Thanh,Văn Thêm,Thị Trí,Thị Trinh,Thị Hương,Thị Nguyệt,
Thị Nga.

Đời thứ 43

43 Ngô Văn An sinh Văn Minh,Thị Nhơn,Thị Nghĩa,Thị Đức.
Ngô Văn Khương sinh Văn Trung,Văn Phước,Thị Phượng,Thị Oanh,Thị Nữ,
Thị Hoa,Thị Ánh,Thị Tuyết,Thị Thu,Thị Hà.
Ngô Văn Hòanh sinh Văn Hiệp,Việt Hưng,Việt Hùng,Việt Hải,Việt Hòai,
Việt Dũng,Thị Minh,Thị Thu Hà,Thị Thu Hương,Thị Thu Hường,
Thị Thu Hiền.
Ngô Hóan sinh Lê Hòang,Việt Hồng,Thành Hạt,Thành Hảo,Thành Đức,
Thành Tùng,Văn Lai,Thành Gia,Thị Mai Phương,Thị Phú,
Tăng Quốc,Tăng Hỷ.
Ngô Văn Liễu sinh Văn Hậu,Văn Tòan,Văn Tân,Thị Lan.
Ngô Văn Mai sinh Minh Mẫn,Minh Trí,Thị Bích Thuận.
Ngô Văn Mai em sinh Văn Hiền,Văn Hậu,Văn Phúc,Văn Đức,Văn Độ,
Thị Hoa.
Ngô Văn Hảo sinh Văn Nhựt,Văn Cường,Văn Khánh.
Ngô Văn Hải sinh Văn Vinh,Thị Tâm,Thị Thủy.
Ngô Văn Địch sinh Tấn Địch,Ngô Vân,Văn Linh,Thị Thám.
Ngô Văn Thành sinh Văn Sơn,Văn Hải,Văn Tương,Văn Tèo.
Ngô Văn Xuân sinh Văn Tuấn,Văn Phương,Thị Hiền,Thị Kim Anh,
Thị Kim Chi.
Ngô Thanh Trà sinh Thanh Long,Thanh Đức,Thanh Độ,Thị Thanh Hồng,
Thanh Xuân,Thanh Thúy,Thanh Vân.
Ngô Văn Hiền sinh Thị Mỹ Dung.
Ngô Tấn Hường sinh Tấn Đây,Tấn Hùng,Văn Vịnh,Văn Tòan,Văn Sanh,
Văn Phước,Thị Hiệp,Thị Bích Nga,Thị Bạch Tuyết,Thị Vân.
Ngô Văn Thư sinh Văn Thư,Văn Viễn,Văn Chính,Văn Sỹ,Văn Kiên,
Thị Hương,Thị Hạnh,Thị Xuân.
Ngô Nhẫn sinh Văn Dũng,Thị Yến,Thị Tuyền,Thị Phượng.
Ngô Tịnh sinh Công Trí (ks),Công Năng (Đh),Công Thành,Công Tín,
Công Danh,Thị Hoa,Thị Thanh Hải,Thị Thanh Thủy.
Ngô Văn Dục sinh Văn Tĩnh,Thị Hà.
Ngô Nẫm sinh Thành Dự,Thành Công,Thành Danh,Thành Nhân,
Thành Tâm,Thị Ái Nghĩa,Thị Tình.
Ngô Văn Bồi sinh Thị Lang.
Ngô Văn Bình sinh Văn Trung,Văn Quốc,Thị Nga.
Ngô Tấn Lai sinh Tấn Sinh,Tấn Lực,Thị Mỹ Lệ,Thị Mỹ Linh.
Ngô Đình Lang sinh Đức Hồng,Đức Hạnh,Đức Hảo,Thị Hường,
Thị Hà,Thị Tòan,Thị Danh.
Ngô Công Bồi sinh Công Mẹo,Thị Chét,Thị Chạy.
Ngô Công Lợi sinh Công Nguyên,Công Tý,Công Dụng,Công Lắm,
Thị Lý,Thị Nhỏ,Thị Hiếu.
Ngô Công Quyền sinh công Hung,Thị Ngôn,Thị Bạo.
Ngô Công Nghị sinh Công Mẹo,Công Út,Công Khóan,Thị Két,Thị Con.
Ngô Công Chước sinh Thị Ổn,Thị Ảng.
Ngô Công Hý sinh Công Út,Công Thìn,Công Tỵ,Công Tuất,Công Thích,
Thị Thu,Thị Lệ,Thị Thân,Thị Hồi,Thị Thơm.
Ngô Văn Loan sinh Văn Tòan,Văn Dũng,Văn Nhân,Thị Liên,Thị Sen,
Thị Nghĩa,Thị Lệ,Thị Lan,Văn Minh.
Ngô Văn Bình sinh Văn Hòang,Thị Nguyệt,Văn Dinh (con nuôi).
Ngô Văn Sở sinh Ngô Thứa,Thị Hường.
Ngô Tấn Đạt sinh Thanh Tùng,Tấn Nhị,Văn Thuấn,Văn Thảo,Thị Hoa,
Thị Nở,Thị Thi,Kim Thiện.
Ngô Văn Lương sinh Tấn Dũng,Khắc Sơn,Thị Hiền,Thị Như Nguyệt,Thị
Tố Nga,,Thị Như Hà.
Ngô Thành Được sinh Thành Tâm,Quang Thiện,Quang Kiêm,Thị Mỹ Lệ,
Thị Bích Nhân.
Ngô Đức Nhiên sinh Văn Sang,Tùng Lâm.
Ngô Văn Thân sinh Thanh Tuấn,Trung Thành.
Ngô Công Liệu sinh Công Luật,Công Thu,Công Đồng,Thị Xuân,Thị Tiền.
Ngô Nhứt sinh Văn Kỳ,Văn Phú,Văn Cương,Văn Hào,Thị Thông,Thị Đào,
Thị Thanh,Thị Hoa.
Ngô Công Tuấn sinh Thị Thủy,Thị Tú.
Ngô Văn Kẽm sinh Thị Vân,Ngô Dần.
Ngô Văn Thanh sinh Văn Hiệp,Văn Quốc,Văn Kỳ,Thị Liên.
Ngô Tánh sinh Văn Hạnh,Văn Phước,Thị Thủy,Thị Vân.
Ngô Đình Dũng sinh Huy Nam,Huy Quang,Thị ViệT.
Ngô Công Thành sinh Văn Danh,Văn Dự,Văn Định.
Ngô Văn Công sinh Thị Trang,Thị Trâm.
Ngô Văn Ninh sinh Quý Sữa,Minh Tùng,Minh Lang,Thị Thanh Nga.
Ngô Văn Thắng sinh Minh Phong,Thị Hoa.
Ngô Văn Bình sinh Minh Hùng,Thị Tâm,Thị Lý.
Ngô Văn Diện sinh Đình Hà,Thị Thu.
Ngô Hiệu sinh Văn Tư,Văn Huy,Thị Bảo Ngọc,Thị Huệ Tâm.
Ngô Văn Phong sinh Hồng Sơn,Thị Thu Thủy,Thị Thu Hải.
Ngô Phú sinh Thị Vân,Thị Hương.
Ngô Quốc sinh Hữu Quang,Hữu Vinh.
Ngô Văn Hạnh sinh Thị Hà Thương.
Ngô Đức Duy sinh Đức Hùng,Nhật Miên,Nhật Giang,Thị Hiếu,
Thị Hà,Thị Minh.
Ngô Hồng sinh Văn Tự,Văn Do,Thị Tung,Thị Hòanh.
Ngô Thanh sinh Thị Bình.
Ngô Văn Thức sinh Văn Trí,Sơn Thạch,Thạch Anh,Thị Hồng Thủy.
Ngô Văn Bé sinh Văn Thơ,Thị Sách,Thị Kỷ,Thị Phương,Thị Hoa,
Thị Canh,Thị Yến,Thị Xuân,Thị Hạnh.
Ngô Tín sinh Văn Nhơn,Văn Phước,Văn Thạnh,Thị Nghĩa,Thị Thọ,
Thị Mai,Thị Trà,Thị Ly.
Ngô Vàng sinh Văn Hương,Văn Hạnh,Văn Phục,Văn Hung,Thị Lộc,
Thị Bông,Thị Liêm,Thị Phúc.
Ngô Lang sinh Văn Xuân.
Ngô Mạch sinh Văn Tài,Văn Hiền,Văn Hậu,Thị Lộc,Thị Phước,Thị Nhân,
Thị Hoa.
Ngô Cảnh sinh Văn Thống,Văn Hương,Văn Thuận,Thị Vi Minh,Thị Bich Hồng.
Ngô Căn sinh Văn Cúc,Thị Thanh Hương,Thị Thanh Huệ,Thị Thanh Lan.
Ngô Văn Thiêm sinh Tiến Hòa,Tiến Hiệp,Thị Kim Phượng,Thị Kim Hoa,Tiến.
Ngô Nghệ sinh Công Thái,Công Hòa,Thị Nga,Thị Hoa.
Ngô Chung sinh Văn Hòa,Thị Chung,Thị Em,Thị Thuận.
Ngô Văn Mua sinh Ngô Trà,Ngô Lý,Ngô Lựu (cư ở Đắc lắc).
Ngô Đức Dung sinh Đức Doan,Đức Danh,Đức Dự,Thị Xuân,Thị Thu,Thị Hạnh,
Thị Duyến,Thị Diệu.
Ngô Văn Lợi sinh Văn Bé,Văn Thi,Văn Sơn,Thị Thái,Thị Hà.
Ngô Văn Minh sinh Thị Kim Thanh,Thị Kim Yến (bs),Thị Kim Loan (ks),
Thị Kim Oanh,Thị Kim Vân,Thị Kim Ánh,Thị Kim Thoa,Thị Kim Chi,
Thị Kim Khánh.
Ngô Thống sinh Văn Thống,Văn Lệ,Văn Hảo,Thị Thế,Thị Kế,Thị Liên.
Ngô Phùng sinh Thị Mẫn.Ngô Cẩn sinh Văn Hạnh,Văn Sỹ,Văn Nhân,Văn Lành,
Văn Phước,Thị Cần,Thị Thại,Thị Hiền.
Ngô Văn Hòang sinh Văn Tòan,Thị TuyếT.
Ngô Tiếng sinh Văn Khê,Thị Đời.
Ngô Văn Xãi sinh Văn Hiệp,Văn Hưng,Văn Hân,Văn Cảnh,Thị Diệp,Thị Quý.
Ngô Khoan sinh Văn Tòan,Thị Hồng.
Ngô Hiển sinh Thị Thanh,Thị Hương,Thị Hạnh.
Ngô Văn Đặng sinh Văn Chương,Văn Hải,Văn Hành,Văn Sơn,Văn Dũng,
Văn Mười,Thị Trình,Thị Hoa,Thị Thêm.
Ngô Văn Tích sinh Văn Vĩnh,Thị Tặng.
Ngô Đức Vỹ sinh Văn Quy,Văn Trí,Văn Phòng,Văn Thương,Thị Lễ,
Thị Lệ,Thị Huệ.
Ngô kim Tương sinh Văn Đương,Thị Hường,Thị Thảo,Thị Phương,Thị Thuận.
Ngô Văn Ân sinh Văn Pháp,Văn Nhựt,Văn Đức,Thị Mỹ,Thị Anh,Thị Lan.
Ngô Văn Minh sinh Văn Điểu,Thị Hoa,Thị Mai,Thị Cúc,Thị Lộc.
Ngô Văn Hựu sinh Văn Tân,Văn Đa,Văn Tai,Thị Phước,Thị Hạnh.
Ngô Văn Tấu sinh Văn Tài,Văn Chi,Văn Ngọ.
Ngô Thảo sinh Công Trí,Thị Đào.
Ngô Đó sinh Văn Hành,Văn Tri,Thị Tâm,Thị Vọng.
Ngô Văn Chụp sinh Văn Đích,Ngô Nỗi.
Ngọ An sinh Công Tấn,Công Tâm,Công Thọ,Công Đạt,Công Thành,
Công Bình,Thị Phước,Thị Ngọc.
Ngô Lượng sinh Văn Sen,Văn Liêm,Thị Lý,Thị Hoa.
Ngô Ngại sinh Bá Hòang,Văn Thắng,Thị Hường,Thị Hồng,Thị Hoa,
Thị Liễu,Thị Lý.
Ngô Văn Chi sinh Tùng Đức,Tùng Thiện,Tùng Đạo,Tùng Nghĩa,Thị Nga.
Ngô Hữu Bản sinh Văn Thuận,Thị Thung,Thị Nga,Ngô Nuôi,Thị Thanh Triều.
Ngô Đình Phụng sinh Đình Dũng,Đình Nam,Thị Tuyết Nhung,Thị Tuyết Thu,
Thị Tuyết Sương,Thị Tuyết Nữ.
Ngô Đức sinh Văn Bình,Thị Hòang,Thị Diệu,Thị Liên.
Ngô Vện sinh Văn Tèo,Thị Tiền.
Ngô Văn Chơn sinh Văn Linh,Văn Công,Văn Danh,Văn Đặng,Thị Thoa,Hơn.
Ngô Văn Chưởng sinh Văn Lâm,Văn Chung,Văn Tòan,Thị Hành.
Ngô Văn Nhược sinh Văn Nhã,Văn Thi,Văn Bổ,Thị Khá,Thị Hòai,Thị Vang,
Thị Lại,Thị Bình.
Ngô Văn Đội sinh Văn Gặp,Văn Câu(vt),Văn Kê,Văn Bờ,Thị Kéo,Thị Ruộng.
Ngô Văn Tâm sinh Văn Khôi,Thị Như.
Ngô Văn Hinh sinh Thị Hinh,Thị Phu.
Ngô Văn Sở sinh Văn Luyện,Thị Cái,Thị Tường,Thị Cảnh,Thị Gương.
Ngô Văn Được sinh Văn Cư,Văn Quang,Thị Châu,Thị Tri,Thị Bích,Thị Quy.
Ngô Văn Lựu sinh Văn Chỉnh,Văn Bảo,Văn Mỹ,Thị Miên,Thị Dục,Thị Long,
Thị Chung.
Ngô Văn Bài sinh Văn Đức,Thị Thiệu,Thị Danh,Thị Xý.
Ngô Văn Hương sinh Văn Phúng,Thị Hương,Thị Nhượng.
Ngô Văn Thiệp sinh Văn chu,Văn Đăng,Văn Giai,Thị sang,Thị Đích,Thị Lang,
Thị Bé,Thị Thêm.
Ngô Văn Trừng sinh Ngô Quốc,Thị Hữu,Thị Cơ,Thị Lào.
Ngô Văn Giang sinh Văn Sự,Văn Kiệm,Thị Vân,Thị Lại.
Ngô Văn Mót sinh Thị Thiệu.
Ngô Văn Mực sinh Văn Tân,Thị Ái.
Ngô Đình Bổ sinh Đình Phúc Nguyên,Đình Phúc An.
Ngô Minh Chánh sinh Huy Quang,Duy Minh,Minh Quân,Duy Chân,
sinh Đức Kế,Văn Thừa,Văn Nhân (Ls.),Thị Lan,Thị Cúc,Thị Hường.
Ngô Văn Thiện sinh Ngô Quyên,Đình Diệm,Đình Tương,Thị Thai,Thị Xí,
Thị Liễu,Thị Nhân.
Ngô Hành sinh Công Thước,Ngô Nải.
Ngô Hòa sinh Ngô Hiệp,Ngô Hảo,Ngô Hạnh,Thị Hồng,Thị Nhiên,Thị Nhị,
Thị Nhàn,Thị Nhung.
Ngô Đây sinh Thị Đào,Thị Hằng,Thị Nga,Thị NguyệT.
Ngô Văn Bính sinh Vũ Bão,Nhật Trường,Thị Linh Phương,Thị Phượng Linh.
Ngô Trương sinh Minh Đức,Văn Khoa,Thị Hường,Thị Thu.
Ngô Hiệu sinh Văn Thành,Văn Minh,Văn Sơn,Thị Hiệu,Thị Trinh.
Ngô Đông sinh Văn Quang,Thị Nghĩa,Thị Trí,Thị Vinh,Thị Thanh,Thị Nhân,
Thị Lai.
Ngô Đông sinh Văn Minh,Văn Tuấn.
Ngô Quang Cúc sinh Quang Nam,Quang Bình,Thị Hằng Phương.
Ngô Văn Nhỏ sinh Văn Nhơn,Văn Nhật,Văn Nhân,Thị Như,Thị Nhung.
Ngô Sa sinh Văn Thanh,Văn Chinh,Đắc Sơn,Thị Lệ,Thị Quý,Thị Thêm,
Thị Mai.
Ngọ An sinh Thị Xuân.
Ngô Tấn Lợi sinh Văn Danh.
Ngô Hòang Sơn sinh Song Tùng,Thị Hòang Trang,Thị Hòang Trâm.
Ngô Văn Thao sinh Văn Thành,Văn Thuận.
Ngô Văn Được sinh Văn Thanh,Thị Bé.
Ngô Văn Hà sinh Văn Chánh,Thị Ghì.
Ngô Văn Quy sinh Văn Đực,Văn Xẹo,Văn Hiệp,Thị Hòa.
Ngô Văn Đa sinh Văn Tổng,Văn Thắng,Văn Lộc,Văn Lễ,Văn Tòan,Thị Tuyển,
Thị Lợi.
Ngô Văn Tâm sinh Văn Sự.
Ngô Văn Trâu sinh Văn Thỏa,Văn Trí,Văn Thành,Văn Dương,Thị Thuận.
Ngô Văn Luật sinh Văn Lầm,Văn Đức,Văn Quý,Văn Lập,Văn Nên.
Ngô Phú sinh Hữu Hiền,Hữu Lộc,Thị Kim Thời,Thị Kim TuyếT.
Ngô Ngươn sinh Ngô Thơ,Văn Hòai,Thị Ngươn,Văn Hùng,Thị Hồng,Thị Hường.
Ngô Tích sinh Quý Thanh,Văn Hương,Văn Trà,Thị Xuân.
Ngô Đáng sinh Văn Lãnh,Đức Anh,Thị Ngọc,Thị Tài.
Ngô Thuẩn sinh Công Hòa,Công Trí,Công Lực,Thị Cúc,Thị Hoa,Thị Hiệp.
Ngô Văn Trân sinh Văn Trọng,Thị Xuân,Văn Nhì.
Ngô Văn Khương sinh Công Lâu.
Ngô Công Giác sinh Công Gốc,Công Nuôi,Công Khiêm,Công Lắm.
Ngô Công Hội sinh Công Để.
Ngô Công Quả sinh Công Chạy,Công Dài.
Ngô Công Đức sinh Công Long,Công Diễn.
Ngô Văn Thanh sinh Văn Phúc,Văn Hạnh,Thị Hân.
Ngô Văn Thi sinh Văn Thành.
Ngô Bá Đính sinh Văn Chính,Văn Hiền,Thị Hương,Thị Triết,Văn Bài.
Ngô Văn Tại sinh Đình Nghi,Đình Nhĩ,Đình Đương,Đình Thanh,Đình Sỹ,
Đình Quang,Đình Hồng,Thị Sự.
Ngô Văn Tài sinh Văn Đông,Thị Thu,Thị Thanh,Thị Thảo,Thị Thuận,
sinh Văn Nghĩa,Văn Lễ,Tấn Phong,Thị Hiệp.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Bổ,Văn Thanh,Thị Yêm,Thị Danh.
Ngô Văn Trí sinh Văn Dũng.

Đời thứ 44

44 Ngô Công Mẹo sinh Công Quạ.
Ngô Công Nguyên sinh Văn Cứ,Công Diệt,Công Chớ.
Ngô Công Tý sinh Văn Đến,Công Bị,Công Hưu,Thị Bơi,Thị Kiều,Thị Quốc.
Ngô Công Dụng sinh Thị Dung,Thị Tiếng,Thị Y.
Ngô Công Lắm sinh Cớn nhỏ,Thị Lắm,Thị Có.
Ngô Công Hung sinh Công Được,Công Lược,Văn Kiêm.
Ngô Công Mẹo sinh Thị Dần.
Ngô Công Út sinh Công Điền,Thị Lăng,Thị Nhỏ.
Ngô Công Khóan sinh Văn Tuyên,Văn Hạnh,Thị Bình,Công Vạn,Thị Thời,
Thị Xú.
Ngô Công Thìn sinh Thị Xước,Thị Xù,Thị Liệu.
Ngô Công Tỵ sinh Công Họach,Công Tờn,Công Thất,Văn Thảo,Công Em,
Thị Con.
Ngô Công Thích sinh Công Cộng.
Ngô Công Tòan sinh Thị Thùy Trung,Thị Thùy Trâm.
Ngô Văn Dũng sinh Thị Thu Sương.
Ngô Thống sinh Văn Biết,Văn Đồng ,Thị Ký,Thị Nhân,Thị Từ,Thị Tình,
Thị Tâm.
Ngô Văn Đích sinh Văn Nhân,Văn Thị ng,Đức Thạnh,Đức Hưng,Thị Niện,
Thị Vinh,Thị Hường,Thị Chân,Thị Quý.
Ngô Nhã sinh Văn Miện,Văn Ngọc,Thị Quý,Thị Bích.
Ngô Văn Thợ sinh Văn Lê,Văn Thân,Văn Bằng,Thị Kiểm,Thị Cúc,Thị Mười.
Ngô Văn Bổ sinh Văn Hùng,Thị Nhuận,Thị Lan,Thị Lê.
Ngô Văn Khôi sinh Văn Hòang,Văn Thuận,Văn Luân,Văn Xuân,Văn Sinh,
Thị Hồng,Thị Thanh,Thị Lai.
Ngô Văn Phúng sinh Văn Thanh,Văn Thị nh,Văn Xứ,Văn Dụng,Văn Nghiện,
Thị Viễn,Thị Trân.
Ngô Văn Quốc sinh Văn Thành,Văn Thi,Thị Lượn,Thị Lắt,Thị Ước.
Ngô Đức Kế sinh Đức Hải(bs),Minh Đức (Đh),Đức Thắng (Đh),Thị Phước Yên (Đh),
Thị Phước Tuyền (Đh).
Ngô Văn Thừa sinh Đức Huy,Thị Tâm,Thị Vi,Thị Trang.
Ngô Công Lắm sinh Công Bé,Công Tỳ,Công Trang.
Ngô Công Đễ sinh Công Thương,Công Thi,Công Gia,Công Khác,Thị Trân,
Thị Nầy,Thị Đường,Thị Đây,Thị Lợi,Thị Thổn.
Ngô Công Chạy sinh Công Hốt,Thị Lắm.
Ngô Công Dài sinh Công Thơ,Công Phòng,Công Ẩn,Công Thanh,Công Thao,
Thị Thường,Thị Duật,Thị Nghiêm,Thị TuyếT.
Ngô Công Diễn sinh Công Khoa,Công Đệ,Công Xuân,Thị Bình,Thị Thi,Thị Chợ,
Thị Hỷ,Quang Bá,Công Quang,Công Thể,Công Phát,Công Tích,
Công Thuận.

Đời thứ 45

45 Ngô Công Quạ sinh Văn Nhứt,Công Bay,Công Nhỏ,Thị Dèo,Thị Em.
Ngô Văn Cứ sinh Văn Chi,Công Nghị,Công Em,Thị Đá,Thị ÚT.
Ngô Công Đến sinh Công Chạy,Thị Đến,Thị Được.
Ngô Công Hưu sinh Thị Trí,Thị Kéo.
Ngô Văn Tuyên sinh Văn Quốc,Công Sơn,Thị Hòa,Thị Quảng,Thị Phước.
Ngô Văn Hạnh sinh Công Bân,Công Ngơn,Công Ngộ,Công Do,Công Thái,
Thị Liền,Thị Bé.
Ngơ công Họach sinh Công Bá,Công Thọ,Công Đào,Thị Bé.
Ngô Công Tờn sinh Công Sành,Thị Vân,Thị Sọan.
Ngô Văn Thảo sinh Công Hơn,Công Hân,Công Ngà,Công Hòa,Công Giá,
Công Ngọc,Thị Hường,Thị Hưng.
Ngô Công Bé sinh Công Cu,Công Hiệu,Công Họat,Công Trị.
Ngô Công Tỳ sinh Công Ngộ,Thị Tỳ,Thị Tùng,Thị Thừa.
Ngô Công Trang sinh Công Duy (vt),Thị Chiến,Thị Thuật,Thị Lự,Thị Đạo.
Ngô Công Thương sinh Công Kiết,Công Công (vt),Công Phu,Thị Châu,
Thị Bộ,Thị Ngưu,Thị Vương,Chí Hàm,Công Nam,Thị Đấu.
Ngô Công Thi sinh Công Khánh (vt),Công Bửu (vt),Công Luận,Công Trí,
Công Mào,Thị Bán,Thị Trinh,Công Hài,Công Bến.
Ngô Công Hốt sinh Công Y.
Ngô Công Ẩn sinh Công Trí,Công Niên,Công Dậu,Công Danh,Thị Dự,
Thị TuyếT.
Ngô Công Thanh sinh Công Cảnh,Công Mót,Công Bị.
Ngô Công Thao sinh Công Phó,Công Của,Công Mạnh,Công Khẹo,
Thị Kiểu,Thị Mùi.
Ngô Công Khoa sinh Công Đạo,Công Điển,Công Sanh,Công Bàng,Công Tọai,
Thị Thảo,Thị Liếu,Thị Kiểm,Thị Lý.
Ngô Công Đệ sinh Công Kiệm,Công Cần,Công An,Công Thắng,Công Sỹ,
Thị Thơm, Thị Đôn,Thị Tri.Thị Lựu.
Ngô Công Xuân sinh Công Sơn,Công Nhược,Công Tứ,Thị Nho,Thị Nhi,Thị Tầm.
Ngô Công Quang sinh Công Hòe,Công Biện,Công Tuất,Công Sữa,Thị Hương,
Thị Hội,Thị ChíT.
Ngô Công Tích sinh Thị Dung,Thị Chít,Thị Mưu.

Đời thứ 46

46 Ngô Văn Nhứt sinh Văn Sỏi,Thị Định.
Ngô Công Bay sinh Công Quy,Thị Tề,Thị Phụng.
Ngô Văn Chi sinh Công Phi,Công Nỉ,Công Cẩm,Công Phước,Công Đức,
Công Thành,Công Công,Công Cần,Thị Niên,Thị Diễn,Thị Hiệp.
Ngô Công Sơn sinh Công Nam,Thị Vy,Thị Hải.
Ngô Công Bân sinh Công Tùng,Công Trường,Công Thành,Thị Thanh,Thị Thủy.
Ngô Công Hiệu sinh Công Phương,Công Riều,Công Đầu.
Ngô Công Họat sinh Công Hội,Công Sau,Công Trước,Thị Trứ,Thị Sữa,Thị Lê.
Ngô Công Trị sinh Công Hiếu,Công Tịnh,Công Mào,Thị Dinh,Thị Trước,
Thị Sau,Thị Xin.
Ngô Công Y sinh Công Bờ,Công Phiên,Thị Nồi,Thị Hữu,Thị Thời,Thị Tứ.
Ngô Công Ngô sinh Công Liễu,Thị Thơ,Thị Tình.
Ngô Công Kiết sinh Công Nghị,Công Giảng,Công Khiết,Công Cung,Công Kiếu,
Công Thự,Thị Ân,Thị ThuộT.
Ngô Công Thức sinh Công Phương,Thị Tỵ.
Ngô Công Luận sinh Công Sâm,Công Bành,Công Đỉnh,Thị Chuyển,Thị Chèo,
Thị Lợi,Thị Ruộng,Thị Nhỏ.
Ngô Công Chí sinh Công Chấn,Công Ất,Công Mén,Công Giới,Công Kẽm,
Công Mèo,Công Đã,Thị Tiền.
Ngô Công Hài sinh Công Cào,Thị Chấu,Thị Đế.
Ngô Công Bến sinh Công Mậu,Thị Dần,Thị Tỵ,Thị Tứ,Công Phiên.
Ngô Công Trí sinh Công Lực,Công Phòng,Công Dõ.
Ngô Công Niên sinh Thị Phòng,Thị Loan,Thị Quyến,Thị Tuyển,Thị Thơm,
Công Vinh,Công Chiểu,Công Mang.
Ngô Công Cảnh sinh Công Lự,Công Mỹ,Công Ám,Công Lúa,Thị Điển,Thị Diện.
Ngô Công Dậu sinh Thị Chút,Thị Chi,Thị Nghĩa,Thị Tỵ,Thị Quảng,Thị Ký,
Thị Nhơn.
Ngô Công Mót sinh Thị Xuy,Thị Liên,Công Sâm,Thị Quả,Thị Mậu,Thị Đức,
Công Cào,Công Xé.
Ngô Công Bị sinh Công Tống.
Ngô Công Đạo sinh Công Chương,Công Liêm,Công Hung,Công Mạnh,
Thị Của,Thị Sữa,Thị Rân.
Ngô Công Điển sinh Công Tuyết,Công Tân,Thị Đốc.
Ngô Công Bàng sinh Thị Mai.
Ngô Công Tọai sinh Công Phương,Công Tấn,Công Huân,Công Lọ,
Công Nồi,Thị ÚT.
Ngô Công Thắng sinh Thị Kỹ,Thị Luật,Thị Đa,Công Tấn,Công Chút,
Công Lễ,Công Nghi,Thị TháT.
Ngô Công Sỹ sinh Công Khum,Công Huân,Công Dụ,Công Hồi,
Công Cáo,Thị Đạt,Thị Luận.
Ngô Công Sơn sinh Thị Quý.
Ngô Công Tứ sinh Công Địch,Công Đài,Thị Quyên,Thị Thai,Thị Nhỏ,
Thị Đỉnh.
Ngô Công Hòe sinh Công Chút,Thị Dõng.
Ngô Công Biện sinh Công Giá,Công Đỉnh,Thị Thìn.
Ngô Công Tuất sinh Công Điển,Công Thu,Công Dầu,Thị Nhiên,Thị Ngân,Thị Lự.

Đời thứ 47

47 Ngô Văn Sỏi sinh Văn Quyền,Văn Khôi,Văn Kỳ,Văn Tri,Văn Hương,
Văn Thanh và sáu nữ
Ngô Công Tịnh sinh Công An,Công Thi,Công Viết,Công Tài
Ngô Công Mào sinh Công Vàng và ba nữ
Ngô Công Liễu sinh Công Tri và bốn nữ
Ngô Công Nghị sinh Công Thổ,Công Nghiễm,Công Sông,Công Kiều,
Công Thư,Công Sanh,Ngô Đài,Công Phụng,Công Nhã,
Công Cừ,Công Tố và ba nữ
Ngô Công Giảng sinh Công Xuân,Công Dõan,thi Yến
Ngô Công Kiếu sinh Thị Huyến,Công Đề
Ngô Công Cung sinh Công Khuôn, Thị Xề, Thị Khế, Thị Thục, Thị Dứt,
Thị Niếu, Thị Sữa
Ngô Công Sâm sinh Công Lượng,Công Uẩn,Công Thuận,Công Phiến
Thị Yến, Thị Cân, Thị Tạ, Thị Món, Thị Lang
Ngô Công Bành sinh Công Túc, Công Nhuận, Công Bằng, Thị Thiếp,
Thị Mẹo
Ngô Công Đĩnh sinh Công Đĩnh, Thị Tý, Thị Ngọ, Thị Quàn
Ngô Công Chấn sinh Công Phấn, Công Ngoan, Công Tề, Công Phát, Thị
Thanh, Công Khương, Thị Thường, Thị Xụn
Ngô Công Ất sinh Công Cúc,Công Tình,Công Chuột,Công Tý,Công
Thứ, Thị Đoi, Thị Đó
Ngô Công Giới sinh Công Thơm, Thị Giò
Ngô Công Kẽm sinh Công Chuẩn, Thị Uẩn
Ngô Công Cào sinh Công Cáo, công Út, Thị Mãn
Ngô Công Mậu sinh Công Đàm, Thị Chung, Thị Liệu
Ngô Công Bè sinh Thị Nguyên
Ngô Công Phiên sinh Công Liên, Công Lạc
Ngô Công Lư sinh Công Miêu, Công Thanh, Thị Côn, Thị Loan, Thị Tiếu
Ngô Công Mỹ sinh Công Xuyên, Công Chút, Công Chờ, Thị Mỹ
Ngô Công Lúa sinh Công Lạc, Công Bờ, Công Giáp
Ngô Công Xé sinh Văn Hiến
Ngô Công Vinh sinh Công Vinh, Công Hiển, Công Xứng, Văn Hiến
Ngô Công Lự sinh Thị Lự, Thị Sang,Thị Sanh
Ngô Công Liên sinh Công Diệu,Công Hoạt,Công Hôi, Công Ghi, Thị Thông,
Thị Vân, Thị Hoàng, Thị Mai, Thị Quá, Thị Chạo, T.Chút, T.Điển
Ngô Công Mạnh sinh Công Chút,Công Tiểu,Công Phụ,Công Hoan, Thị Tải
Ngô Công Tân sinh Công Địch, Công Thìn, Công Vừu, Thị Lan, Thị Nhị,
Thị Trang, Thị Hiếu, Thị Được, Công Tư
Ngô Công Liêm sinh Công Khương, Thị Huân, Thị Đó, Thị Khả
Ngô Công Lọ sinh Thị Nghẹ
Ngô Công Nồi sinh Công Hạng, Thị Thị
Ngô Công Tấn sinh Thị Chỉ, Thị Khôi, Ngô Cường, Công Thí
Ngô Công Chút sinh Công Ban, Ngô Đích, Thị Tro
Ngô Công Lễ sinh Thị Kỳ
Ngô Công Địch sinh Công Vạn, Công Quyên, Thị Mày
Ngô Văn Giá sinh Văn Vững, Văn Đông, Thị Đó, Thị Mực
Ngô Văn Thử sinh Công Tại, Văn Em, Thị Cái, Thị Đời, Thị Nhí

Đời thứ 48

48 Ngô Công Vàng sinh Công Xuân, Thị Thuận, Thị Thảo, Thị Liên, Văn Thành,
Văn Thanh
Ngô Công Nghiểm sinh Công Vinh, Công Tường,Công Đaọ, Thị Quýt, C.Quát, T.Ẩn
Ngô Công Kiều sinh Thị Kiều
Ngô Đài sinh Công Đệ, Công Huyến, Công Quyên,Công Ngự, Thị Lai
Thị Yến, Thị Độ
Ngô Công Cừ sinhThị Ngọc,Thị Trai,Thị Chiến,Thị Hồ,Công Tụng,CôngChương
Công Liễn
Ngô Công Phụng sinh Thị Phụng, Thị Hương, Công Nhạn
Ngô Công Nhã sinh Thị Xuyến
Ngô Công Tố sinh Công Cần ,Công Ca,Công Thiệp,Công Soạn,
Công Thoan, Công Thân, Công Khởi, Công Diễm, Công
Tuyển, Thị Hoát, Thị Căn
Ngô Công Xuân sinh Công Khoan,Quý Đỉnh,Công Hoằng,Công Miễn, Thị
Thiết, Thị Chì, Thị Vẽ
Ngô Công Doãn sinh Thị Hiếu, Thị Nữ, Thị Tây, Thị Tiến, Thị Nhi, Công Tống,
Ngô Lệ, Ngô Hành
Ngô Công Khuôn sinh Công Khuôn,Công Thủ,Công Phò,Công Nhữ,Công Bỉnh
Thị Chanh, Công Trang,Ngô Tánh,Công Nhượng, Công Minh,
Văn Tình, Thị Phòng, Thị Thành
Ngô Công Uẩn sinh Công Tấn, Phú Chí (con nuôi)
Ngô Công Nhuận sinh Thị Quảng, Công Bường, Công Đó, Công Đăng
Ngô Công Khương sinh Công Bằng, Thị Ninh, Thị Đương, Thị Giấy, Thị Mực
Ngô Công Phấn sinh Công Cần, Công Cửu, Công Hoành
Ngô Công Thơm sinh Thị Đào, Công Nhi, Công Ní, Thị Kích, Công Thích
Ngô Công Cáo sinh Văn Cáo,Công Đáo,Công Chức,Công Được, Thị Diên, Thị
Quảng,Công Hòang, Công Nhàn, C.Huệ, C.Trí, C.Tri, Thị Út
Ngô Công Đàm sinh Công Cảnh, Công Xuân, Công Vui
Ngô Công Miêu sinh Văn Tuỳ, Thị Chi, Thị Tuyên, Thị Em Nhỏ, em Lớn,
Công Hân, Công Ngoan
Ngô Công Thanh sinh Công Uynh, Văn Chước, Thị Thanh
Ngô Công Hiển sinh Văn Lãng, Công Được, Thị Bòng, Thị Có, Thị Xí
Ngô Công Lạc sinh Thị Minh, Công Dinh, Công Việt, Công Bi
Ngô Công Gíap sinh Công Được, Công Thời, Công Hoà, Thị Xin, Thị Thân, Thị
Thuận, Thị Tâm
Ngô Công Diệu sinh Công Đề, Thị Thì, Thị Em
Ngô Công Chút sinh Thị Định, Công Xuyên, Công Khai
Ngô Công Phụ sinh Công Nam, Văn Đối, Công Em
Ngô Cường sinh Thị Mực,Thị Nhí, Thị Mãi,Công Nhân,Công Trí,Công Hiệu
Công Hương, Công Chính, Công Bộ
Ngô Đích sinh Thị Thảo, Thị Hoà, Công Thuận, Công Lý, Thị Hoa, Văn Bảy
Thị Nở, Thị Cúc, Văn Thanh
Ngô Công Vạn sinh Công Trương,Công Thành,Công Luỹ,Công Ân, Công
Hạnh, Thị Hồng
Ngô Công Tại sinh Công Cả, Công Hiền, Công Trí, Công Thức, Công Thông
Công Minh, Thị Nhân, Thị Nghĩa

Đời thứ 49

49 Ngô Công Tường sinh Công Thức,Công Tâm,Công Đại,Công Ý, Công Dậu, Thị
Chi, Thị Năng
Ngô Công Quát sinh Công Hoạt, Công Trì,Công Đồi, Thị Trấn, T.Điếm, Thị Nghi
Thị Hơn, Thị Lan, Thị Huệ, Công Cúc
Ngô Công Đệ sinh Thị Sỹ, Thị Hoặc
Ngô Công Đạo sinh Công Ngôn, Công Đỗ, Thị Hưu, Thị Hộ
Ngô Công Huyến sinh Công Đực, Công Tựu, Công An, Công Bụi, Thị Sách
Ngô Công Tụng sinh Thị Lưu
Ngô Công Chương sinh Thị Lưu
Ngô Công Cần sinh Thị Rế
Ngô Công Soạn sinh Thị Thanh,Thị Thoả, Thị Tình, Thị Tứ,Công Thỏa,Công Hoà
Ngô Công Thiệp sinh Công Mão,C.Đức,C.Dân,C.Lang,C.Hưng, Thị Quý
Ngô Công Thoan sinh Công Trác, Công Nựa
Ngô Quý Đỉnh sinh Thị Thăng
Ngô Công Hoằng sinh Thị Quyên, Thị Mẫu, Thị Sào
Ngô Công Miễn sinh Tấn Hữu, Ngô Hương, Tấn Trinh, Thị Lũ, Thị Ngọ, T.Đản,
Thị Lan, Thị Út
Ngô Hành sinh Ngô Nhiên, Ngô Lễ, Ngô Lộc, Ngô Giao, Ngô Thắng,
Thị Lợi
Ngô Lệ sinh Thị Trình, Thị Lự, Thị Bảo, Ngô Hộ, Ngô Lý, Ngô Luật
Ngô Công Thủ sinh Công Thủ, Thị Huỳnh, Thị Long, Thị Thôi
Ngô Công Bỉnh sinh Văn Mưu, Văn Thân, Thị Yến, Thị Tầm
Ngô Tánh sinh Việt Tương,Việt Hồng, Việt Toàn,Việt Quang, Thị Lai, Thị
Lạc, Thị Hoằng
Ngô Công Nhượng sinh Công Nhân, Công Thảo, Thị Ba
Ngô Công Minh sinh Công Sơn, Công Khê, Văn Hiền, Thị Lang, Thị Hà
Ngô Công Tấn sinh Văn Thanh, Kim Hùng, Công Dũng, Văn Hoà, Thị Trà,
Thị Nhung
Ngô Công Bường sinh Thị Bộ, Văn Tam, Văn Tứ
Ngô Công Đó sinh Thị Bé, Thị Hiền, Văn Hậu
Ngô Công Hoành sinh Thị Tâm
Ngô Công Nhi sinh Công Nhựt,Công Cương,Công Dũng,Công Bảy, Thị Tình
Ngô Công Ní sinh Công Ly,Công Ninh, Công Hùng,Công Tàu, Công Lâu
Công Long, Công Gấm, Thị Nguyên
Ngô Công Thích sinh Công Hoàng, Công Quân,Công Sự, Thị Kim Phượng, Thị
Vân, Thị Lang, Thị Loan, Thanh Hào
Ngô Công Hoành sinh Công Trước,Công Ninh,Công Khương, Công Bé, Công
Khanh, C.Đen, Thị Nhí, T.Cường, T.Dương, T.Thanh, T.Nghĩa
Ngô Công Chức sinh Công Sơn, Văn Chung,Văn Thành, Thị Hường, Thị Ly, Lý
Ngô Công Hoàng sinh Thị Nghi, Thị Nghĩa, Thị Thọ, Công Toàn, Công Lễ, Tấn Lộc
Tấn Khoa
Ngô Công Nhàn sinh Tấn Long, Mai Hoàng, Văn Châu, Thị Hoà
Ngô Công Trí sinh văn Cầm, công Hiệp, văn Hùng, công Tùng, tấn Vinh, Lài
Ngô Công Hân sinh Công Nghĩa, Công Đức, Công Ái, Công Thông, Công Minh,
Thị Lý, Thị Được, Thị Nhí
Ngô Công Ngoan sinh Công Sự, Thị Trử, Thị Thành
Ngô Công Uynh sinh Thị Tiến,Công Thắng,Văn Phước,Công Công ,Công Thành,
Công Ngọc, Thị Hoa, Thị Lợi
Ngô Công Được sinh Thị Tiến, Tấn Tài
Ngô Công Thời sinh Văn Quang
Ngô Công Khai sinh Thị Kiết,Thị Khoá, Thị Nhí, Thị Thi, Thị Tài,Công Thông, Công
Minh
Ngô Văn Đối sinh Công Xử, Công Xong, Công Luận, Công Lý
Ngô Công Em sinh Công Duy, Thị Khánh, Thị Thu, Thị Vân, Văn Công
Ngô Công Trí sinh Văn Điền, Văn Thiên, Thị Liên
Ngô Công Nhân sinh Thị Diệp, Văn Tạo, Văn Nên
Ngô Công Hiệu sinh Thị Hiệp
Ngô Công Thuận sinh Thị Trực
Ngô Công Lý sinh Văn Lịch, Văn Long
Ngô Công Trương sinh Công Thuật,Công Trang,Công Triết, Thị Thanh Thuỷ
Ngô Công Thành sinh Công Thái, Công Hường, Công Tâm, Thị Mỹ Liên
Ngô Công Luỹ sinh Thị Mỹ Lệ, Công Dũng
Ngô Công Trí sinh Văn Triều

Đời thứ 50

50 Ngô Công Thức sinh Thị Phước, Thị Lịch, Thị Phong, Thị Võ, Thị Trạch,Thị Á
Công Thái, Công Âu, Công Quý
Ngô Công Ý sinh Thị Yến, Thị Diệp, Thị Sâm, Quốc Thông,Quốc Bảo Ks
Ngô Công Đồi sinh Công Hường,Công Mai,C.Được, C.Sự, Thị Liễu, T.Dung
Ngô Công Đỗ sinh Công Trọng, Công Thành, Công Thọ
Ngô Công Bụi sinh Văn Lý, Văn Tuấn, Thị Luân, Thị Hồng
Ngô Công Thoả sinh Văn Cảnh, Văn Nga, Thị Ninh, Thị Bình, Thị Nguyệt, T.Nữ
Ngô Công Hoà sinh Thị Bích, Văn Tương, Văn Văn
Ngô Công Mão sinh Công Cường, Công Huy
Ngô Công Trác sinh Công Trác,Thị Tha, Huy Tùng,Huy Kiến,Văn Nhĩ,Thị Thái,
Thị Nhi
Ngô Tấn Hữu sinh Công Song, Công Hỷ,C.Đồng,C.Thông,C.Thành,Thị Thảo,
Thị Thanh, Thị Minh, Thị Liên
Ngô Tấn Hương sinh Công Lực,Công Ứớc,Công Diện,Công Diệp, Thị Tư, Thị
Trình, Thị Hậu, Thị Cơ, Thị Phòng
Ngô Công Nhiên sinh Thị Nghĩa, Thị Thuận, Thị Vân, Thị Thu, T.Đây, T.Tiên,
Đức Dũng, Văn Anh, Văn Hùng
Ngô Công Lễ sinh Văn Hoà, Văn Vĩnh, Văn Viễn, Văn Toàn, Văn Bình, Thị
Cúc, Thị Hoa
Ngô Công Lộc sinh Đức Tâm,Đức Cầu,Đức Vinh,Đức Quang, Thị Trúc, Thêm
Ngô Công Giao sinh Thị Thanh, Thị Thuỷ, thu Hồng, Văn Sơn
Ngô Công Thắng sinh Thanh Huy,Thanh Hoàng, Thị Huyền Trang, diễm Chi
Ngô Công Hộ sinh Thị Phúc, Thị Diệu, Tuấn Hải, Ca Tin
Ngô Công Dự sinh Thị Thái, Thị Hà, Văn Sơn
Ngô Công Mưu sinh Thị Mai, Thị Thu, T.Đông,Văn Long,Văn Y,Văn Ca, V.Liên
Ngô Công Thân sinh Thị Cẩm,Thị Bán, Thị Hoa, Thị Sen,Văn Lộc,Văn Dũng,Văn
Ứớc, Văn Hùng, Văn Thị nh
Ngô Công Tương sinh Anh Tuấn, Thị Mỹ Linh, Mỹ Thu, Mỹ Tâm
Ngô Công Hậu sinh Thị Diệu Thảo
Ngô Công Sơn sinh Đình Trọng
Ngô Công Dũng sinh Thanh Sơn, Thanh Nga, Thị Thanh Minh, Thị Thanh Hải
Thị Thanh Thuý
Ngô Công Gấm sinh Đức Lụa
Ngô Công Quân sinh Đức Tuấn
Ngô Công Khiết sinh Văn Tiến, Văn Tư, Văn Tuấn, Thị Hoà, Thị Hương
Ngô Công Kẽm sinh Văn Nga,Văn Mỹ,Văn Pháp,Văn Hùng,Văn Luật
Ngô Công Toàn sinh Thị Xuân, Thị Thuỷ, Thị Nguyệt, Văn Phúc
Ngô Văn Sơn sinh Văn Dũng
Ngô Công Lễ sinh Tấn Thành, Tấn Danh
Ngô Công Đức sinh Văn Tường,Văn Tài,Văn Phúc,Văn Thanh,Văn Nhàn,Văn
Phương, Thị Liên
Ngô Công Nghĩa sinhVăn Hà,Văn Nhựt,Văn Tùng,Văn Thị ,Thị Hồng, Thị Vân
Thị Hằng
Ngô Công Thông sinh Thị Luận, Thị Mến, Văn Tín,Văn Tuấn, Văn Đương
Ngô Văn Sự sinh Ngọc Linh, Ngọc Lân,Ngọc Lãnh,Ngọc Lễ,Ngọc Liều
Ngọc Lĩnh, Thị Liễu, Thị Lệ
Ngô Công Minh sinh Văn Hồng, Văn Thượng, Thị Sương
Ngô Công Thắng sinh Thị Bệ, Thị Hà, Thị Trang, Thị Hường,Hoà Hiệp,Văn Trí
Ngô Công Phước sinh Thị Nga, Văn Thức, Văn Cu
Ngô Công Thành sinh Văn Sơn, Văn Cường, Kim Hùng
Ngô Công Công sinh Công Tuấn, Thị Bé
Ngô Công Ngọc sinh Thị Liên, Thị Minh
Ngô Công Thông sinh Văn Thái
Ngô Công Minh sinh Văn Hải
Ngô Công Duy sinh Văn Thanh, Văn Việt
Họ Ngô Thổ Quan
Quận Đống Đa thành phố Hà Nội

Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu con trai thứ 7 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn dòng
Ngô Nước ở Trảo Nha tỉnh Hà Tĩnh,sinh hai con trai,con trưởng thiên cư Quảng Nam,
con thứ làm quan nhà Lê ở Thăng Long.Vài đời sau,khi vua Lê Chiêu Thống chạy theo
quân nhà Thanh, Ngô Phúc Thước về ở làng Quan Thổ,xã Thổ Quan,tổng Vĩnh An,huyện
Hoàn Long, trấn Sơn Tây,nay là phường Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội,
nay thành chi họ.

28 Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu, sinh Ngô Thuần Cẩm(con thứ).
29 Ngô Thuần Cẩm Thiên kỵ Thị vệ Kiệt trung hiệu lực Tướng quân, Bà Trần Thị
Chính sinh Phúc Lý
30 Ngô Phúc Lý Vệ uý Tráng tiết Tướng quân, Bà họ Đỗ sinh Phúc Thước
31 Ngô Phúc Thước Thước võ Bá, Thiên kỵ Thị vệ, sinh Phúc Hiển

-Bắt đầu định cư ở Thổ Quan-

32 Ngô Phúc Hiển Tuần phủ Bắc Ninh,bà Nguyễn Thị Bốn sinh Phúc Chính,Phúc Tư
Phúc Lục
33 Ngô Phúc Chính Bà họ Nguyễn, sinh Phúc Thẩm, Phúc Hy
34 Ngô Phúc Thẩm BàNguyễn Thị Nghiêm sinh Ngô Đáng,Ngô Vựng,Ngô Duy,Ngô
Tức, Ngô Tụ, Thị Sung, Thị Hoan
35 Ngô Đức Tụ Bà Mai Thị Lộ sinh Chu Phổ, Phúc Phương, Phúc Bàng

36 Ngô Phúc Phổ Bà Nghiêm Thị Ngọc sinh Phúc Hiệp, Phúc Hán, Phúc Hồ, cả
ba là tự vệ Cây Quéo Sài Gòn hy sinh tại Lái Thiêu- Phúc Du biệt
động Sài Gòn bị bắt tại bót Catina 1951 và bị xử bắn 1952

36 Ngô Phúc Phương Bà Nguyễn Thị Huệ sinh Phúc Nguyên, Thị Yến
37 Ngô Phúc Nguyên Bà Nguyễn Thị Lợi sinh Quang Phong, Thanh Thuỷ Ks., Thị Mai
Tất Vũ, Thị Hoa
38 Ngô Quang Phong Ks,Bà Vũ Thị Hằng sinh Anh Thư

36 Ngô Phúc Bàng sinh Phúc Hoạt, Tiến Nghĩa,Thành Dũng,Thị Quy,Thị Hồng,Tuyết
37 Ngô Phúc Hoạt Bà Phạm Thị Tuân sinh Quốc Minh,Quốc Tuấn, Thị Nga, Thị Hoa
Thị Mai
38 Ngô Quốc Minh Bà Nguyễn Thị Thảo sinh Quốc Trung

37 Ngô Tiến Nghĩa Bà Nguyễn Thị Yên sinh Tiến Trung,Tiến Quang,Quốc Chiến,
Quốc Thắng
38 Ngô Quốc Chiến Bà Nguyễn Thị Tuyết sinh Quốc Hiếu

37 Ngô Thành Dũng Bà Nguyễn Thị Tần sinh Thành Đạt, Thị Vân Anh, Thị Bích Hằng

35 Ngô Vựng Bà Nguyễn Thị Sâm sinh Ngô Kiên, Ngô Toàn, Thị Tề, Thị Xây
Thị Tiêm, Thị Thính
36 Ngô Kiên Bà Đặng Thị Hải sinh Ngô Vọng, Ngô Trọng

36 Ngô Toàn Bà Nguyễn Thị Thiên sinh Ngô Nhã, Thị Nền, Thị Mỹ, Thị Nhiên
37 Ngô Nhã Bà Vũ Thị Miến sinh Tính Huynh,Công Tính, Thị Kính, T.Chinh
Thị Bình, Thị Yến
38 Ngô Tính Huynh Bà Đinh Thị Huyền sinh Thanh Tùng, Thị Nhung, Thị Ánh
38 Ngô Công Tính Bà Phạm Thị Vót sinh Mạnh Tiến, Thị Thanh

35 Ngô Duy Bà Hoàng Thị Thoán sinh Ngô Kha, Thị Cư, Thị Lượng, Thị Điểm
Thị Viêm, Thị Soạn
36 Ngô Kha Bà Nguyễn Thị Xây sinh Ngô Tình, Ngô Khánh, Văn Khương,
Quang Khải, Quang Khanh, Quang Khôi, Quang Khiêm, Thị Hoà
Thị Lượng, Thị Khuê, Thị Thoa

37 Ngô Tình Bà Nguyễn Thị Mùi sinh Tùng Sơn, Thị Thu Hương
37 Ngô Khánh Bà Nguyễn Thị Thu sinh Thị Thanh Thuỷ, Quang Trung, Q.Thành
37 Ngô Văn Khương Đh,Bà Trương Thị Thu Hồng sinh Thị Hồng Nga, Tùng Bách
37 Ngô Quang Khải Bà Đặng Thị Kim sinh Phi Hiền , Thị Kim Thanh
37 Ngô Quang Khiêm Ks,Bà Nguyễn Thị Dần sinh Thanh Trầm, Đức Thọ
37 Ngô Quang Khanh Bà Đinh Thị Bình sinh Quốc Thắng
37 Ngô Quang Khôi Bà Đào Thị Hồng sinh Thanh Tùng, Thị Hồng Điệp, thu Trang

33 Ngô Phúc Tư Bà Vũ Thị Hợp sinh Đức Lai, Ngô Trác, Ngô Tĩnh
34 Ngô Đức Lai Bà Lê Thị Can sinh Văn Phú
35 Ngô Văn Phú Bà Đặng Thị Hiên sinh Ngô Thân, Thị Thanh, Thị Giữa
36 Ngô Thân Bà Nguyễn Thị Thông, sinh Thị Nhung, Ngô Nhinh, Ngô Nhâm,
Ngô Văn Tư, Ngô Văn Hồi,Thị Ế

37 Ngô Nhinh Bà Nguyễn Thị Ngọc sinh Quốc Cường,
Thị Bích Liên,Bích Vân, Bích Thuỷ
37 Ngô Nhâm Bà Tạ Thị Lý sinh Nhị Hà, Nhị Hồng,
Thành Công
37 Ngô Văn Hồi Bà Trần thanh Hằng sinh Chí Hoàng,
Bích Thaỏ
37 Ngô Văn Tư Bà Lê Thị Minh sinh Kiên Trung, Tùng Linh

34 Ngô Trác Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Ngô Vỹ
35 Ngô Vỹ Bà Nguyễn Thị Trang sinh Ngô Trấn
36 Ngô Trấn Bà Nguyễn Thị Cẩm sinh Thế Chí,
Quốc ĐộQuốc Tế, Thị Vịnh, Ngô Tĩnh, Bỉ Đắc
37 Ngô Thế Chí Bà Nguyễn Thị Sữa sinh Đức Khương,
Anh Tuấn, Thanh Bình,Thị An
38 Ngô Đức Khương Bà Nguyễn Thị Hương sinh Đức Thành,
Thị Phương
38 Ngọ Anh Tuấn Bà Vũ Ngọc Liên sinh Anh Tiến, Thị Thuỷ

37 Ngô Quốc Độ Bà Nghiêm Thị Chi sinh Quốc Hùng,
Quốc Quân, Quốc Dân
Thị Thục Hiền, Thu Hà
38 Ngô Quốc Quân Bà Vũ Thị Liên sinh Ngô Kiên

37 Ngô Bỉ Đắc Bà Bùi Thị Phượng sinh Văn Tân, Tuấn Anh,
Thị Mỹ
37 Ngô Tĩnh Bà Phùng Thị Mịch sinh Ngô Đạt (vt)

33 Ngô Phúc Lục Bà Phùng Thị Sáu sinh Ngô Vinh, Ngô Dự,
Thị Bích
34 Ngô Vinh Bà Nguyễn Thị Bé sinh Ngô Đạo (vt)

34 Ngô Dự sinh Ngô Hưng
35 Ngô Hưng Bà Bùi Thị My sinh Thị Đuông, Thị Thức,
Đức Vượng, Đức Long, Đức Kế
36 Ngô Đức Long Bà Ngô Thị Thực,
Bà thứ Phạm Thị Quỳ sinh Đức Thắng,Đức Lợi
Thị Dực, Thị Phơn, Thị Hoà, Thị Hoàn,
Thị Bích, Thị Liên, T.Loan
37 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Phi Hùng, Phi Nga
Thúy Ngân, Thị Ngần
37 Ngô Đức Lợi Bà Nguyễn Thị Lâm sinh Đức Hải, Thị
Bảo Yến

34 Ngô Phúc Hy Bà Vũ Thị Thị nh sinh Ngô Ích
35 Ngô Ích sinh Ngô Hương, Ngô Bái,( biệt quán)

CHI VIII Vân lĩnh Hầu Ngô Phúc Phổ
Làng Vĩnh Ba, xã Hòa Đông, huyệnTuy Hoà, tỉnh Phú Yên

28Ngô Phúc Phổ Vân lĩnh Hầu ,lúc nhỏ có tên là Bạc, con trai thứ 8 Tào Quận công,
phả cũ chép thất truyền,mấy năm gần đây chi họ Ngô chợ Rạng huyện
Thanh Chương về nhận tổ,chưa có thế thứ .
Gần đây lại có họ Ngô Văn ở huyện Tuy Hoà tỉnh Phú Yên nhận là dòng
Ngô Phúc Phổ.
Hiện chưa thể khẳng định được, về niên đại thế thứ và tương truyền
cần nghiên cứu thêm. Tuy còn là tồn nghi, nhưng thể theo lòng thành
của cả họ nên chép vào đây để sưu tầm xác định sau.

29 Ngô Văn ….. sinh Ngô Văn Mẫn
30 Ngô Văn Mẫn sinh Ngô Văn Nguyệt
31 Ngô Văn Nguyệt sinh Văn Thạch, Văn Phân, Văn Đôn, Thị Chuẩn, Thị Chủ, T.Kéo

32 Ngô Văn Đôn Bà Trần Thị Dư sinh Văn Thận, Văn Miền, Văn Nhu,
Thị Tịch,Thị Lần
33 Ngô Văn Nhu Bà Nguyễn Thị Quyến sinhVăn Sỹ,Văn Khánh,Văn Tàu,Văn Sơn
Văn Thôn, Thị Dụng, Thị Thọ

34 Ngô Văn Sỹ Ba Hà Thị Trí,Bà thứ Đặng Thị Hiên sinh Văn Cư,Văn Thu,V.Đậu
Văn Bình, Thị Ở, T.Để, T.Huệ
35 Ngô Văn Bình Bà Nguyễn Thị Thảo sinh V. Thấu,V.Đâu,V.Oai,V.Chấn,V.Hậu
V.Hân, V.Thuyền, Thị Cứng, Thị Cảnh, Thị Mười, Thị Cúc
36 Ngô Văn Thấu Bà Nguyễn Thị Hường sinh Văn Quảng,Văn Xá,Văn Thưởng,
Văn Tuôi, Thị Lại, Thị Liệu, Thị Điểm, Thị Diễn, Thị Nhiễu

37 Ngô Văn Quảng sinh Thị Nghiã
37 Ngô Văn Xá Bà Lê Thị Riềng, Bà thứ Nguyễn Thị Dẹt sinh Ngô Cần,Văn Mịn,
Ngô Tân, Thị Ân, Thị Mĩn, Thị Đào

38 Ngô Cần Bà Đào Thị Hấp sinh Thị Xanh, Thị Linh, Thị Kiểm
38 Ngô Tân Bà Trần Thị Gành sinh Ngô Long,Lâm Tòng, Thị Ẩn,Văn Thắng,
Thị Thư

39 Ngô Long Bà Nguyễn Thị Yến sinh Tất Thắng,Văn Công,Văn Năm,
Thị Sương, Thị Sót
39 Ngô Lâm Tòng Bà Nguyễn Thị Câu

37 Ngô Văn Thưởng Bà Nguyễn Thị Chao sinh Thị Sum, Thị Quả, Thị Chinh, Thị Bình,
Ngô Dễ, Văn Nhơn, Văn Quẹo, Ngô Cản
38 Ngô Dễ sinh Thị Nhuận, Thị Thìn, Thị Phê

37 Ngô Văn Tuôi Bà Phạm Thị Rớt sinh Thị Diện

36 Ngô Văn Oai Bà Nguyễn Thị Nhi sinh Văn Tuân, Văn Nhã, Ngô Ngưng, Ngô
Tuân, Thị Y, Thị Ơn, Thị Tiểu
37 Ngô Văn Tuân Bà Nguyễn Thị Chẻ sinh Thị Chỉnh, Thị Oanh, T.Phần, T.Xang,
Ngô Chẩn, Ngô Kỉnh, Ngô Đàm
38 Ngô Chẩn Bà Đào Thị Phương, Bà thứ Trần Thị Chuông sinh Thị Khiết,
T.Đính, T.Bính, Thị Ba, Thị Thanh, T.Thuỷ, Ngô Nông, Ngô Vân,
Văn Trọng
39 Ngô Nông Bà Lê Thị Nhân sinh Thị Phương, Hồng Phong, Hồng Linh,
Hồng Ân
39 Ngô Vân Bà Lê Thị Bé sinh Thị Lê, Thị Liên, Thị Hiệp, Thời Nhiệm,
Văn Trường

38 Ngô Kỉnh Bà Lương Thị Thừa sinh Ngọc Sức,Ngọc Thử, Ngọc Thức,Ngọc
Xem, Thị Kế, Thị Sang
39 Ngô Ngọc Thử Bà Nguyễn Thị Niệm,Bà thứ Nguyễn Thị Lan sinh Ngọc Thảo, Ngọc Toàn, Ngọc Dân, Thị Cẩn, Thị Loan
39 Ngô Ngọc Thức Bà Đỗ Thị Chiêm sinh Ngọc Ca, Ngọc Đỏ, Thị Chi, Thị Ly

37 Ngô Văn Nhã Bà Trần Thị Mạch, Bà thứ Trần Thị Ngộ sinh Ngô Dã, Thị Chĩn
Thị Xua, Thị Lộc, Thị Nổi

37 Ngô Ngưng Bà Cao Thị Đinh sinh Ngô Tầm,Thái Giám,NgôĐạm,Xuân Bàng,
Ngô Hồng, Thị Hoa
38 Ngô Tầm Bà Dương Thị Kẽm sinh Ngô Xuân, Ngô Hà,Văn Sáu, Thị Lam,
Thị Bảy, Thị Tám, Thị Chín, Thị Mười, T.Thừa, T.Thu
39 Ngô Xuân Bà Lê Thị Hãnh sinh Thị Lài, Thị Lai, Thị Gái
39 Ngô Hà Bà Nguyễn Thị Mận sinh Thị Dương, Thị Diêm, Thị Hộp
Ngọc Dung, Ngọc Dân, Ngọc Hạ

38 Ngô Thái Giám Bà Lê Thị Đón sinh Tấn Hạnh, Thị Yến, Thị Sang, Thị Nhạn
39 Ngô Tấn Hạnh sinh Thị Lệ Minh, bích Thảo, bích Hải, Đức Trí

38 Ngô Đạm Bà Nguyễn Thị Xích sinh Thị Xanh, Xuân Miến, Văn Liên,Văn
Thắng, Thị Tiến
39 Ngô Xuân Miến Bà Phạm Thị Hương sinh Quốc Huy, Quốc Vũ

38 Ngô Hồng Bà Võ Thị Khanh
38 Ngô Xuân Bằng Bà Mai Thị Diệp sinh Thị Diện, Thị Nhàn, Thị Đởn, Thị Kiều,
Ngọc Bích, Xuân Ninh, Xuân Vinh

37 Ngô Tuân Bà Nguyễn Thị Mỏi sinh Xuân Bang, Xuân Lộc, Xuân Tấn,
Xuân Thơm, Thị Sớm, Thị Trưa
38 Ngô Xuân Bang sinh Thị Diệm, Thị Tú

38 Ngô Xuân Lộc Bà Dương Thị Tin sinh Xuân Yên, X.Được,Xuân Sử,X.Đồng,
Thị Phán, Thị Diệp, Thị Ý, Thị Vân
39 Ngô Xuân Yên Bà Nguyễn Thị Luyến sinh Xuân Tâm, Xuân Trung, Xuân Việt
39 Ngô Xuân Được Bà Lê Thị Sa sinh Thị Phương, Xuân Quý

38 Ngô Xuân Tấn Bà Tạ Thị Bàn sinh Xuân Bảo, Xuân Lâm
39 Ngô Xuân Baỏ Bà Nguyễn Thị Điều sinh Thị Nga, Xuân Quốc

38 Ngô Xuân Thơm Bà Võ Thị Sang sinh Thị Hương,Thị Sớt,Thị Huệ,Thị Liễu,T.Đào,
Xuân Công, Xuân Nhân

36 Ngô Xuân Chấn Bà Huỳnh Thị Cân sinh Thị Lụa

36 Ngô Xuân Hậu Bà Trương Thị Đạt,bà thứ Nguyễn Thị Bịp và Nguyễn Thị Liêu
Sinh Thị Dấu,Thị Bẻo,Thị Nấu,Thị May,Văn Quang,Ngô Nhặm
37 Ngô Văn Quang Bà Nguyễn Thị Nơi sinh Ngô Tú, Ngô Dài, Ngô Xếp, Văn Lốn,
Thị Chốn, Thị Bể

38 Ngô Tú Bà Lê Thị Bốn sinh Văn Sâm,Thị Nhung, Thị Nhân,Thị Chúng, Thị Sáu, Thị Phụ, Thị Thừa,Văn Nam, Như Trạch
39 Ngô Văn Sâm Bà Cao Thị Trang sinh Văn Nhựt, Văn Tam,Văn Tứ, Thị Nhị
39 Ngô Văn Nam Bà Nguyễn Thị Nhàn sinh Văn Giang

38 Ngô Dài Bà Hà Thị Ao sinh Văn Thường,Văn Bằng, Thị Thọt, Thị Yên
Thị Tâm, Thị Hiệp
39 Ngô Văn Thường Bà Phạm Thị Điểm sinh Thị Nhanh
39 Ngô Văn Bằng Bà Nguyễn Thị Hường sinh Xuân Phước,XuânSang,Xuân Thắng,
Xuân Vinh, Thị Sương, Thị Kiều

38 Ngô Xếp Bà Nguyễn Thị Sở, Bà thứ Trần Thị Thanh sinh Thị Hương, Thị
Vân, Xuân Hoàng, Xuân Hạnh, Đình Phúc
39 Ngô Xuân Hoàng Bà Nguyễn Thị Trang sinh Thị Loan, Thị Liễu,Đình Luận,Đ.Lập

37 Ngô Nhặm Bà Hà Thị Biền sinh Ngô Diệp, Ngô Cuộc, Ngô Cút, Thị Kỳ
Thị Kít, Thị Kịt, Thị Kim

34 Ngô Văn Khánh Bà Võ Thị Ngữ, Bà thứ Võ Thị Thơ sinh Văn Tuyên,Văn Toàn
Văn Thái, Văn Hồi,Văn Hứa,Văn Sum,Văn Thức, Thị Cầm,
Thị Quyền, Thị Quyết, Thị Tập
35 Ngô Văn Tuyên Bà Nguyễn Thị Hân sinh Văn Thuần,Văn Kiêm,Văn Khuôn,Văn
Viên,Văn Tây, V.Đạo, Văn Nữa, Thị Thuộc, Thị Kỹ, T.Đợi
36 Ngô Văn Thuần Bà Đào Thị Lại sinh Văn Phẩm,Văn Ngộ,Văn Huyện, Thị Hoa
Thị Vỵ, Thị Tỳ, Thị Tục, Thị Cửu, Thị Kiết
37 Ngô Văn Ngộ Bà Nguyễn Thị Hết sinh Ngô Nghĩnh,Ngô Đặng, Ngô Đắc,
Thị Liễu
38 Ngô Nghĩnh Bà Đoàn Thị Sen,Bà thứ Trần Thị Cấn sinh Ngô Đó, Ngô Mầu,
Kim Quý, Văn Câu, Thị Ơn, Thị Cành
39 Ngô Đó Bà Cao Thị The sinh Văn Thạch, Thị Phấn, Thị Thơm, Thị Tho,
Thị Thư, Thị Hạnh
39 Ngô Mầu Bà Lê Thị Đào sinh Kim Học, Thị Hiền,Kim Hoài,Kim Huy, Thị
Bũm, Thị Oanh
39 Ngô Kim Quý Bà Lê Thị Nhi sinh Thị Trúc, Thị Liến, Ngọc Thân, Ngọc Dân,
Ngọc Ninh
39 Ngô Văn Câu Bà Nguyễn Thị Thiện sinhTấn Lục,Ngọc Linh,Tấn Lợi,Ngọc
Lâm , Văn Lượng, Thị Lam

38 Ngô Đặng Bà Nguyễn Thị Bửng sinh Kim Hùng, Kim Lưng, Kim Lẫy,Kim
Cườm, Thị Xuyến, Thị Kim
39 Ngô Kim Lưng Bà Nguyễn Thị Thọ sinh Thành Nam, Thành Việt, Thị Miêu
39 Ngô Kim Lẫy Bà Đào Thị Hánh sinh Thị Hằng, Thị Chi

38 Ngô Đắc Bà Lê Thị Sữa sinh Ngọc Dung,Đức Thắng,Minh Long,
Đức Trình, Thị Loan, Thị Liên
39 Ngô Đức Thắng Bà Lê Thị Lan sinh Quốc Việt

37 Ngô Can Bà Đào Thị Hay,Bà thứ Trần Thị Thương sinh Ngô Phùng, Ngô
Trực,Văn Kiển, V.Đây, Kim Sang,Thị Đay,Thị Cho,Thị Tho
38 Ngô Phùng Bà Nguyễn Thị Riêu sinh Ngô Chinh , Ngô Bốn, Ngô Năm, Ngô
Sáu, Thị Thành, Thị Thổi
39 Ngô Năm Bà Huỳnh Thị Lùng sinh Thị Thương, Đình Luân
39 Ngô Sáu Bà Đinh Thị Sâm sinh Thị Sim,Thị Sương, ThịSinh,Thị Sơn,
Thị Sợ, Quốc Sư, Quốc Sự, Tú Siền, Thành Siên

37 Ngô Cương Bà Nguyễn Thị Nhiễu sinh Ngô Hào,Tố Hữu,Trực Minh,Văn
Bằng, Ngô Tự, Thị Phú, Thị Nhị, Thị Cúc
38 Ngô Tự Bà Nguyễn Thị Nghi sinh Đình Khoa,Văn Nhông,Văn Ánh,
Thị Thi
39 Ngô Văn Nhông Bà Lê Thị Minh sinh Rô Ben
39 Ngô Văn Ánh Bà Phan Thị Lan sinh Chí Hoà, Chí Hiệp

37 Ngô Cương Bà Lê Thị Chẩm sinh Thị Rô, Thị Rãnh, Thị Mươn, Thị Liên, Ngô
Chính
38 Ngô Chính Bà Võ Thị Thuỵ sinh Thị Dương,Thị Phụng, Thị Phương, T.Nhanh,
Thị Tám, Ngô Tiền,Văn Ngọc,Văn Minh, Văn Tiến

37 Ngô Nhượng Bà Phùng Thị Tịch, Bà thứ Huỳnh Thị Lê sinh Thị Mích,Thị Mịch
Thị Xịch, Hà Thanh, Ngô Liêm, Ngô Cát, Ngô Đài
38 Ngô Hà Thanh Bà An Thị Maõ sinh 4 con không rõ tên
38 Ngô Liêm Bà Nguyễn Thị Hoa sinh Thị Lọc, Thị Kỹ, Ngô Diệm, Ngô Nhiên Ngô Thắng, Ngô Nhất
39 Ngô Diệm sinh Thị Sen

38 Ngô Đài Bà Phạm Thị Hạnh sinh Văn Đàm , Thị Diễn, Thị Diễm, Thị Diên,
Văn Bình

37 Ngô Tương Bà Lê Thị Bim sinh Ngô Như,Văn Khuê,Văn Cấp,Văn Cư,Văn
Canh, Văn Nhuệ, Thị Nhẫn, Thị Nhị
38 Ngô Văn Cư Bà Lê Thị Tám sinh Hùng Hoan,Văn Thạch, Thị Thuý, Thị Bích
Thị Thuỷ
38 Ngô Văn Canh Bà Phan Thị Sang sinh Thạch Cẩn,Văn Hạ,Văn Hồi, Thị Văn

36 Ngô Văn Viên Bà Võ Thị Đeo sinh Ngô Nắng, Ngô Niều, Ngô Đó, Ngô Mão,
Văn Rỏn, Thị Diển, Thị Rèn
37 Ngô Nắng Bà Thị Cút sinh Văn Soi, Thị Suối
37 Ngô Niều Bà Hồ Thị Cộ sinh Ngô Tre, Thị Liền, Thị Ngọc, Ngô Quang,
Thị Ngào
38 Ngô Tre Bà Đặng Thị Quyên sinh Ngô Trước, Văn Trúc, Văn Trách,
Thị Sâm, Thị Giót
39 Ngô Văn Trúc Bà Trần Thị Đẹp sinh Thanh Bình,Thanh Hùng, Thị Yến, T.Luyến
39 Ngô Trách Bà Phan Thị Nhạn sinh Văn Việt, Minh Tâm, Thị Tùng, Thị Kết,
Thị Giá

38 Ngô Quang Bà Trần Thị Rung sinh Thị ảnh, Thị Lan, Thị Liễu, Thị Lệ

37 Ngô Đó Bà Võ Thị Xuồng sinh Ngô Như, Ngô Chạy, Thị Mà, Thị Mậu.
38 Ngô Như BàLê Thị Đậy,Bà thứ Nguyễn Thị Cửa sinh Ngô Lư,Ngô
Hương, Ngô Trúc, Ngô Sáu, Thị Năm, Thị Tám, Thị Chín
39 Ngô Lư Bà Phạm Thị Chín sinh Văn Sang,Văn Giáo,Văn Cao, Thị Thư,
Thị Kim, Thị Lam, Thị Chín
39 Ngô Hương Bà Trần Thị Bảy sinh Văn Hoà, Văn Hiếu, Văn Diệu, Văn Thoại,
Thị Thảo, Thị Hiền.
39 Ngô Trúc Bà Lương Thị Căn sinh Văn Trạng, Văn Quỳnh, Văn Quý,
Thị Trang, Thị Bé
39 Ngô Văn Sáu Bà Hà Thị Sương sinh Văn Tiến, Văn Tùng, Thị Liên, Thị Liêu.

38 Ngô Chạy Bà Nguyễn Thị Liệu sinh Ngô Đức , Ngô Thắng.

37 Ngô Mão Bà Võ Thị Cân sinh Thị Xê,Thị Chửng,Thị Khế, Thị Ẩn,
Văn Vững.
38 Ngô Văn Vững Bà Lê Thị Nhị sinh Thị Liên, Thị Liêm, Thị Lĩnh, Thị Liều,
Thành Lăng, Thành Liễn.
39 Ngô Thành Liễn Bà Trần Thị Năm sinh Hoàng Vũ

37 Ngô Văn Rỏn sinh Thị Phép, Văn Khương, Thị Băng
38 Ngô Văn Khương sinh Thị Điền, Thị Năm, Thị Sáu, Thị Tám

36 Ngô Văn Tây Bà Đinh Thị Chuột sinh Thị Dệt, Thị Dùng, Thị Lắc, Thị Lúp.

35 Ngô Văn Hồi Bà Lê Thị Nghĩa sinh Văn Luân,Văn Niên,Văn Thư, Thị Sang.
36 Ngô Văn Luân Bà Huỳnh Thị Dện sinh Thị Kỷ, Thị Dần, Thị Tròn, Thị Dành,
Thị Tuồng.
36 Ngô Văn Niên` Bà Lê Thị Miệt sinh Văn Tùng, Thị Trường, Văn Duy.
37 Ngô Văn Tùng Bà Nguyễn Thị Thập , Bà thứ Lê Thị Muốn sinh Ngô Châu, Thìn.
38 Ngô Châu Bà Lê Thị Cạnh sinh Thị Nhi, Thị Phi, Thị Nhung
38 Ngô Thìn Bà Nguyễn Thị Bích sinh Văn Tỵ, Thị Nhị,Văn Mậu, Ngô Năng,
Ngô Hanh.

39 Ngô Văn Tỵ sinh Thái Tĩnh, Thị Tuyên, Thị Tâm.
39 Ngô Văn Mậu Bà Trương Thị Kim sinh Trường Huề,Trường Hoan,Khải Hoàng,
Thị Hoàng Anh, Thị Hoàng.
39 Ngô Năng Bà Trần Thị Xuân sinh Trường Ninh.

35 Ngô Văn Hứa Bà Lê Thị Thắm sinh Văn Lược,Văn Lại, Thị Khuy, Thị Lâu,
Thị Chim, Thị Cu, Thị Cò, Thị Lợi, Thị Sen, Thị Thừa, Văn
Hoàn,Văn Quốc, Văn Khải, Thị Khiểng.

36 Ngô Văn Quốc sinh Văn Chí
36 Ngô Văn Khải Bà Huỳnh Thị Thôi sinh Ngô Trữ, Ngô Dược, Ngô Nhung, Ngô
Luận, Ngô Tại, Thị Liên, Thị Tiếp.
37 Ngô Trữ Bà Tạ Thị Xo sinh Đình Trọng, Kim Anh, Thị Hãn
38 Ngô Đình Trọng Bà Hà Thị Kính sinh Thị Hiệp, Thị Diệp, Thị Trọng, Thị Thảo,
Đình Nam, Đình Tèo, Đình Hân.
38 Ngô Kim Anh Bà Nguyễn Thị Nhị sinh Kim ảnh, Thị Thuấn, Thị Ánh, Thị Hoa,
Phước Hưng, Phước Lợi, Phước Hào, Phước Cương

37 Ngô Nhung Bà Lê Thị Gần sinh Thị Niềm, Thị Kiểm, Thị Điểm, Thị Cẩm, Thị
Trẩm, Thị Nhánh, Thị Quyên, Đình Phước,Đình Thiện, Đ.Hiền.
38 Ngô Đình Phước Bà Trần Thị Nhanh sinh Thị Sương, Thị Huệ, Thị Huê,
Thị Hương,Thị Ơn, Trung Hoàng
39 Ngô Trung Hoàng sinh Trung Hội, Trung Huy, Trung Hoài, Thị Hạnh, Thị Hơn,
Thị Hợp

38 Ngô Đình Thiện Bà Nguyễn Thị Sữa sinh Thị Thuý, Thị Thuỳ, Thị Trang, Thị
Quang, Thị Trương, Đình Trung, Văn Bình
38 Ngô Đình Hiền Bà Hồ Thị Hiền sinh Thị Ất, Thị Thảo, Văn Nguyên.

37 Ngô Được Bà Dương Thị Nhỏ sinh Tấn Lực, Tấn Quyền, Ngọc Quyện.
38 Ngô Tấn Quyền Bà Nguyễn Thị Hương sinh Thị Lệ, Thị Thuỷ, Thị Mỳ, Thị Bê,
Tấn Bi.
38 Ngô Ngọc Quyện Bà Trần Thị Thắm sinh Thị Quỳnh,Thị Gấm,Thị Gương,Tấn Quân

37 Ngô Kim Để Bà Nguyễn Thị Gọi sinh Đình Thám, Ngọc Diệm,Văn Duy, Thị
Sang, Thị Hương.
38 Ngô Ngọc Diệm Bà Nguyễn Thị Chẻo sinh Ngọc Diệp,Ngọc Dương, Thị Dâng,
Ngọc Du, Ngọc Dang.
38 Ngô Văn Duy Bà Lê Thị Xị sinh Thị Chi, Văn Thiêm,Văn Dem, Văn DúT.

37 Ngô Luận Bà Nguyễn Thị Mân sinh Thị Hoà, Thị Thanh, Thị Can, Thị Trà,
Tấn Tài
38 Ngô Tấn Tài Bà Lê Thị Trực sinh Tấn Toàn, Tấn Tuấn, Tấn Thí, Thị Thúc.

37 Ngô Tại Bà Trần Thị Huề ,Bà thứ Trần Thị Xuyến và Trần Thị Liễu
sinh Thị Nhẫn, Thị Nhịn, Thị Mươn, Thị Nhan, Thị Neo, Thị
Vương Thị Rít,Văn Chúng,Văn Thuỷ, Kim Lùng, Kim Hữu.

35 Ngô Văn Thức Bà Nguyễn Thị Mỹ sinh Văn Nô,Văn Thử,Văn Cường,Văn Hiếu,
Thị Danh, Thị Diễn, Thị Nhặt, Thị Ý
36 Ngô Văn Thử Bà Trần Thị Dường sinh Văn Sáng, Thị Ngẫu, Thị Kỹ.
37 Ngô Văn Sáng Bà Nguyễn Thị Đậy sinh Văn Lý, Thị Hường.
38 Ngô Văn Lý Bà Nguyễn Thị Lại sinh Văn Hương, Văn Ân, Văn Hân, Thị Sen.
39 Ngô Văn Hương Bà Huỳnh Thị Ngọc sinh Thị Loan, Thị Thảo, Đại Nghĩa, Minh
Đức, Minh Dũng.

36 Ngô Văn Cường Bà Lê Thị Quý,Bà thứ Lê Thị Tài,Phạm Thị Đặng và Huỳnh Thị Lệ
sinh Trọng Cảnh, Trọng Kiểm, Thị Cải.
37 Ngô Trọng Cảnh Bà Lê Thị Thuỵ,Bà thứ Lê Thị Khẳm sinh Thạch Ủng,Thạch Lộc,
Thị Lê, Thị Lam, Thị Sương.
38 Ngô Thạch Ủng Bà Trần Thị Khiểm sinh Thạch Phổ, Thị Phiểng, Thị Phương, Thị
Thoa, Thị Phi, Thị Vỵ, Thạch Doãn, Thạch Diễm, Thạch Dĩnh
38 Ngô Thạch Lộc Bà Huỳnh Thị Liên sinh Đình Dũng, Đình Duy,Đình Duyên, Thị
Diệu, Thị Diệp, Thị Dâng.

37 Ngô Trọng Kiểm Bà Trần Thị Hồng sinh Trọng Hạnh, Trọng Bình, Trọng Thành,
Trọng Bác, Trọng Cư, Thị Nhung, Thị Dung, Thị Anh.

38 Ngô Trọng Hạnh Bà Lê Thị Hương sinh Lệ Huyền, Thị Hoa,Thị Huệ, Trọng Hội.
38 Ngô Trọng Bình Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ sinh Trọng Tĩnh, Thị Thuý, Thị Thi,
Thị Thơ.
38 Ngô Trọng Thành Bà Lê Thị Phước sinh Viết Phú, Thanh Nghi, Thị Ngà.

34 Ngô Văn Tàu Bà Nguyễn Thị Tồn,Bà thứ Nguyễn Thị Kích sinh Văn Hải,V.Hồ,
V.Chất, V.Chí, V.Phát, Thị Huống, Thị Đa.
35 Ngô Văn Hải Bà Đặng Thị Nhũ sinh Thị Nhùng,Thị Huỳnh,Thị Tương,Thị Kinh,Thị Úc, Thị Chỉ, Thị Thêm,Văn Phương,Văn Chiểu,Văn Lan.
36 Ngô Văn Phương Bà Trần Thị Kén,Bà thứ Lê Thị Dụng sinh Văn Hoé, Phụng Trì,
Văn Ngọ, Văn Xíu, Thị Hối, Thị Chi, Thị Hán.
37 Ngô Phụng Trì Bà Nguyễn Thị Vụ sinh Xuân Hường,Xuân Hàm,Thị xuân Hương
38 Ngô Xuân Hường Bà Nguyễn Thị Chi sinh Đình Du,Xuân Đổng,Xuân Đào,Xuân
Sắc, Thị Đốc, Thị Tràng.
39 Ngô Đình Du Bà Nguyễn Thị Đàn sinh Đình Diêm,Đình Diên,Đình Dũng,
Thị Diệu, Thị Diêu, Thị Dùng, Thị Dằng
39 Ngô Xuân Đổng Bà Nguyễn Thị Rác sinh Thị Dung,Dung Mỹ,Thị Hồng,Xuân
Phong.
39 Ngô Xuân Sắc Bà Bùi Thị Giải sinh Xuân Sinh, Xuân Sang, Xuân Sạn, Thị Sen,
Thị Gái, Thị Út
38 Ngô Xuân Hàm Bà Lê Thị Năm sinh Xuân Thâm

36 Ngô Văn Lan Bà Nguyễn Thị Liễu sinh Văn Đầm, Thị Soạn, Thượng Viện .
37 Ngô Thượng Viện Bà Trần Thị Vy,Bà thứ Trần Thị Uyển và Lê Thị Tốn sinh Thượng
Bộ,Thượng Đảm,Thượng Ẩn,Thượng Đản,Thượng Khiết,Thượng
Anh, Thị Ngang, Thị Nghi, Thị Miên, Thị Diễn, Thị Phú, Thị Thư,
Thị Hào, Thị Mỹ, Thị Thang, Thị Nguyên.
38 Ngô Thượng Đảm Bà Phan Thị Phúc sinh Phan Lưu, Phan Ty, Thị Phan Xuân, Thị
Phan Thân, Thị Phan NguyệT.
39 Ngô Phan Lưu Bà Đỗ Thị Phượng sinh Mạnh Kha, Mạnh Doãn, Mạnh Quỳnh,
Thị Hoa Nguyên, Thị Thanh Nhã.
39 Ngô Phan Ty Bà Mã Thị Bích Loan sinh Tầm Nguyên,Tây Nguyên,Trung
Nguyên, Đình Nguyên.

38 Ngô Thượng Ẩn Bà Nguyễn Thị Mai Lan sinh Thị Kim Liên, Thị Thu Trang,Việt
Trung, Phương Nam.
39 Ngô Việt Trung Bà Trần Thị Thu Hiền sinh Thị Thảo Ly

38 Ngô Thượng Anh Bà Nguyễn Thị Thạo sinh Thượng Bi, Thượng Tin, Thị Nguyệt,
Thị Phi, Thị Lam, Thị Hiền, Thị Nương, Thị Út

35 Ngô Văn Chí sinh Văn Tuyển,Văn Tuy,Thị Đích,Thị Trọn,Thị Huyện,Thị Huẫn,
Thị Mậu.
36 Ngô Văn Tuy sinh Văn Hôi, Văn Hoi, Văn Móc, Văn Chạm.
37 Ngô Văn Hôi Bà Đào Thị Dơi sinh Ngọc Dận, Ngọc Dã, Ngọc Thời.
38 Ngô Ngọc Thời Bà Lê Thị Thà sinh Ngọc Phú, Ngọc Tài, Văn Sáu, Thị Hồng
39 Ngô Ngọc Phú sinh Tấn Hữu, Tấn Ích, Thị Bé, Thị Thu, Thị Anh
39 Ngô Ngọc Tài sinh Tấn Thọ, Thanh Tràng, Văn Kin, Thị Hương
39 Ngô Văn Sáu Bà Bùi Thị Sa, Bà thứ Lê Thị Hạnh sinh Đình Năng,Đình Phúc,
Đình Phích, Đình Khởi, Thị Kiều, Thị Diễm

38 Ngô Dã Bà Nguyễn Thị Miền sinh Ngô Luận, Văn Hưng, Thị Sáu, Thị
Thị Dưng, Thị Nhưng, Thị Nhi
39 Ngô Luận Bà Lương Thị Ánh sinh Minh Diệu, Minh Điện, Minh Tịnh, Thị
Liên, Thị Thu Vịnh,Thị Thu Hạ

37 Ngô Văn Moi Bà Huỳnh Thị Đậm sinh Ngô Gái, Ngô Khải, Ngô Khai, Thị Cào,
Thị Trai
38 Ngô Gái Bà Trần Thị Ý sinh Ngô Kham, Ngô Mạnh, Ngô Khảm, Thị Tảo
39 Ngô Khảm Bà Đặng Thị Cúc sinh Ngô Lực,Kim Hùng,Văn Hiền, Thị Thanh,
Thị Thuỷ, Thị Thành

38 Ngô Khái Bà Cao Thị Lúc sinh Ngô Quốc, Ngô Hánh, Ngô Hề, Ngô Hấn
39 Ngô Quốc Bà Đặng Thị Hành sinh Quang Tịnh,Văn Sơn,Văn Tý, Thị Xuân,
Thị Vàn, Thị Mười, Thị Dư
39 Ngô Hề Bà Nguyễn Thị Thiệt sinh Thị Tiến, Thị Thơm, Thị Cúc,
Thanh Trường

38 Ngô Khai Bà Đào Thị Lục sinh Văn Ngưu, Ngô Nam, Ngô Dương, Ngô
Thành, Thị Sáu, văn Hiền

37 Ngô Móc Bà Huỳnh Thị Điệp sinh Thị Níu, Thị Thiết
34 Ngô Văn Sơn Bà Nguyễn Thị Thân, Bà thứ Thị Trúc sinh Văn Thi, Văn Thiệu,
Văn Chỏi, V.Điều, Thị Nhì, Thị Diệu, Thị Như, T.Điêu, Thị Trác,
Thị Giàu, Thị Chức, Thi Đồng, Thị Lý
35 Ngô Văn Thi Bà Trần Thị Tìm sinh Văn Chư, Văn Nghị, Văn Hối, Văn Hấp,
Thị Dự, Thị Khiếu, Thị Chánh, Thị Thuỳ
36 Ngô Văn Chư Bà Nguyễn Thị Thương, Bà thứ Lê Thị Hồi sinh Văn Chi,Văn My
Thị Ơn
37 Ngô Văn My Bà Phạm Thị Tu, Bà thứ Huỳnh Thị Chơn sinh Xuân Chư,Quang
Môn, Văn Lượn, Thị Gầy, Thị Xuân, Thị Hồng, Thị Hưng, Thị Mận
Thị Thiền, Thị Tần
38 Ngô Xuân Chư Bà Trương Thị Hoà sinh Xuân Quang, Xuân Lai, Xuân Phi
39 Ngô Xuân Quang Bà Lê Thị Lệ sinh Thị Xuân Nhạn

38 Ngô Quang Môn Bà Phạm Thị Chín sinh Quang Trương,Quang Siêu, Quang Pháp,
Thị Diễm, Thị Diệu, Thị Dược

36 Ngô Văn Nghị Bà Thị Quế, bà thứ Nguyễn Thị Thao sinh Văn Xu, Văn Căn,
Văn Xuất, Văn Khịn, Thị Thành, Thị Thót
37 Ngô Văn Xu Bà Võ Thị Kính, bà thứ Hồ Thị May sinh Ngô Ngọc,Ngô Phú,
Văn Nhơn, Văn Tám, Văn Chín, Thị Mười, Thị Cúc
38 Ngô Phú Bà Trần Thị Mai sinh Đình Tài, Đình Tiến, Thị Thảo, Thị Lệ, Thị
Tiền, Thị Lý, Thị Diềm
38 Ngô Văn Nhơn sinh Xuân Danh
38 Ngô Văn Tám sinh Xuân Tùng

36 Ngô Văn Hối Bà Trần Thị Quý sinh Văn Hấp, Thị Vận, T.Đất, Thị Cảo, T.Đan,
Văn Kình, Tấn Cương
37 Ngô Tấn Cương Bà Lê Thị Kiển sinh Tấn Nông, Thị Út, Tấn Công
38 Ngô Tấn Nông sinh Thị Bích Hiệp,Thị Bích Hạnh

35 Ngô Văn Chỏi Bà Ôn Thị Dung sinh Văn Môn, Văn Sang, Văn Đăng
36 Ngô Văn Đăng Bà Lưu Thị Ngai sinh Văn Đón, Văn Đưa, Văn Trì, Văn Tâm,
Văn Thiết, Ngô Du
37 Ngô Văn Trì Bà Lê Thị Bợ sinh Văn Khế, Thị Huế
38 Ngô Văn Khế Bà Cao Thị Lưu, bà thứ Phạm Thị Sẻ sinh Văn Sí, Văn Sung,
Văn Sang, Văn Luân, Thị Hân, Thị Nhành, Thị Mai, Thị Thảo,
Thị Sê, Thị Huyền
39 Ngô Văn Sí Bà Lê Thị Phát sinh Thị Hồng

37 Ngô Du Bà Nguyễn Thị Khen sinh Ngọc Lành, Ngọc Ảnh, Thị Ngọc
34 Ngô Văn Thôn Bà Trương Thị Ban sinh Thị Đèo,Thị Muôn.
Chi IX Tỏan võ Hầu Ngô Phúc Trị

28 Ngô Phúc Trị Toản võ Hầu con trai thứ 9 Tào Quận công,
khi mới 10 tuổi bố đã từ trần,
(1643-…) quân Chúa Nguyễn lấn chiếm đất Nghệ An đến bờ sông Lam, trong cơn
binh hoả lạc mẹ được bà bảo mẫu nhận làm con đem về nuôi ở xã Ngọc
Sơn, sau ngày ổn định trở về quê ở làng Phù Việt lấy vợ. Thị võ ở phủ,
trúng cách ra làm Quản quân, dòng dõi quân thần được phong tước Hầu,
làm Lực sĩ Ty lực sỹ Hiệu uý, sau được thăng Đô chỉ huy sứ ty Chỉ huy
Đồng tri, Thượng Trụ quốc, sinh Ngô Phúc Bình.
29 Ngô Phúc Bình Dật võ Hầu, có hai Bà, sinh Phúc Tân, Phúc Lạng, Phúc Sùng,
Phúc Lâm

30 Ngô Phúc Tân sinh Phúc Tiệm

31 Ngô Phúc Tiệm sinh Phúc Duyện

32 Ngô Phúc Duyện tước Bá, theo nho học trúng Tam trường.
Năm 1786 quân Tây Sơn ra bắc,Ông đang làm Trấn thủ Nghệ An,
cùng Võ Tá Giao tập hợp lực lượng dự định đánh chặn đường về
của quân Tây Sơn.Nhưng quân Tây Sơn rút quá sớm, lực lượng
của Ông còn mỏng nên bị đánh tan.
Phả cũ ghi: “Trong vụ này cha con ông bị sa cơ”.
Ông quay về tập hợp trai tráng trong làng giữ an ninh trật tự trong
vùng,tiếp Chiếu Cần vương của Lê Chiêu Thống. Ông dẫn một
đội quân ra Thăng Long nhận chức Quản đội Đinh tả, đi đánh dẹp các
vùng Chương Đức,Mỹ Lương. Sau khi Nguyễn Hữu Chỉnh ra bắc , Ông về quê, sinh ba con Phúc Chinh và hai người khác vô tự.

33 Ngô Phúc Chinh sinh Phúc Tân
34 Ngô Phúc Tân sinh Ngô Đài, Ngô Cam, Ngô Tam
35 Ngô Cam sinh Đức Liệu (Ls.)
35 Ngô Đức Tam sinh Đức Vấn, Ngô Đáp, Ngô Hiếu

36 Ngô Đức Liệu sinh Đức Hùng, Đức Khang
36 Ngô Đáp sinh Đức Hương và sáu con gái
36 Ngô Hiếu sinh Đức Nghi, Đức Chung và sáu con gái.

30 Ngô Phúc Sùng Tư lộc Hầu,con trai thứ ba của Dật trung Hầu, sinh Phúc Động,
Phúc Nghiêm
31 Ngô Phúc Động sinh Phúc Khang
32 Ngô Phúc Khang sinh Phúc Trạch
33 Ngô Phúc Trạch cha mất sớm ,được ông bà ngoại nuôi, sinh :
Phúc Trạm, phái Cố Bằng ở Trảo Nha và ở Tiến Lộc,
Phúc Hoằng ,phái Cố Bồi ở Tiến Lộc,
Phúc Trực, phái Cố Nghinh ở Tiến Lộc,
Phúc Hào, phái Cố Bản ở Tiến Lộc
Phúc Truỵ, phái Cố Cù ở Tiến Lộc.

34 Ngô Phúc Trạm có bốn Bà,sinh Phúc Chu,Phúc Cưu,Đức Dị,Cảnh Giới, Thị Nhỏ

35 Ngô Phúc Chu Bà Lê Thị Hường, Bà thứ Lê Thị Hiêu sinh Phúc Lưu,Phúc Dinh
Đức Hiên, Đức Dư, Thị Bưu, Thị Ngưu, Thị Năm, Thị Bảy
36 Ngô Phúc Lưu Bà Nguyễn Thị Nhiễu, sinh Đức Luật,Đức Lập,Đức Canh,
Xuân Sóc,Xuân Sách, Thị Lệ, Thị Sáu

37 Ngô Đức Luật (Ls.) sinh Xuân Thoan, Thị Nghéc, Thị Tư
38 Ngô Xuân Thoan Bà Nguyễn Thị Lịch, sinh Văn Thuân,Văn Thắng, Thị Hiền.

37 Ngô Đức Lập hai Bà, sinh Đức Lợi, Thị Phước
38 Ngô Đức Lợi Bà Trần Thị Mai sinh Chung Hoàn , Thị Thuỷ, Thị Khuyên.

37 Ngô Đức Canh Bà Nguyễn Thị Nậy, sinh Đức Chí, Đức Quyền, Đức Thìn,
Đức Phú, Đức Quý
38 Ngô Đức Quý Bà Phạm Thị Nhân sinh Đức Thanh,Đức Lâm,Đức Long
38 Ngô Đức Thìn Bà Trần Thị Hoa sinh Thị Như Quỳnh,Thị Quỳnh Trang

37 Ngô Xuân Sóc Bà Lê Thị Sáu, sinh Đức Dụng, Thị Hoa
38 Ngô Đức Dụng Bà Bùi Thị Sáu, sinh Đức Trung, Thị Hương

37 Ngô Xuân Sách Bà Nguyễn Thị Nghiêm, sinh Xuân Thanh, Xuân Sơn, Thị Liên,
` Thị Lam, Thị Hồng

36 Ngô Đức Hiên Bà Trần Thị Cần, sinh Viết Lương, Đức Năm, Xuân Sáu, Thị
Mực,Thị Mậu

37 Ngô Viết Lương Bà Phạm Thị Anh, sinh Đức Quyền,Đức Mại,Đức Hoàng,Đức
Hải, Thị Huyền, Thị Hương
38 Ngô Đức Quyền Bà Phan Thị Tứ, sinh Thị Hoà Phương
38 Ngô Đức Hoàng Bà họ Bùi, sinh một trai, một gái
38 Ngô Đức Hải Bà Bùi Thị Mai sinh Kiều Anh

37 Ngô Đức Năm Bà Lê T.Đường, sinh Mạnh Tần,Sỹ Liên,Mạnh Tuấn, Thị Hương
38 Ngô Mạnh Tần Bà Võ Thị Hà, sinh Mạnh Dung,Mạnh Hoà, Thị Thuý, Thị Oanh
38 Ngô Sỹ Liên Bà Nguyễn Thị Luận, sinh Kim Dung
38 Ngô Mạnh Tuấn Bà Nguyễn Thị Hằng ,sinh Thị Hạnh

37 Ngô Xuân Sáu Bà Đoàn Thị Tuyết, sinh Xuân Hùng, Xuân Dinh,Đức Dung,
Thị Vân, Thị Thuý, Thị Mai
38 Ngô Xuân Hùng Bà Nguyễn Thị An, sinh Bảo Giang, Hoà Giang
38 Ngô Đức Dung Bà Nguyễn Thị Phúc, sinh Đức Long, Đức Linh

36 Ngô Phúc Dinh Bà Nguyễn Thị Mai, sinh Đức Khánh
37 Ngô Đức Khánh Bà Trần Thị Niên, sinh Đức Châu, Thị Chắt
38 Ngô Đức Châu Bà Lê Thị Diến, sinh Đức Văn

36 Ngô Đức Dư Bà Từ Thị Em, sinh Xuân Thực,Xuân Tâm,Xuân Cát, Thị Cháu,
Thị Hai, Thị Minh
37 Ngô Xuân Thực (Bs) Bà Trần Thị Ba, sinh Xuân Ngân, Xuân Nguyên, Xuân Lợi,Xuân
Quyền, Xuân Chương, Thị Liên
38 Ngô Xuân Ngân Bà Nguyễn T.Đinh, sinh Xuân Dũng, Xuân Hùng, Xuân Nguyên
Thị Hương
38 Ngô Xuân Quyền Bà Nguyễn Thị Thanh, sinh Đức Hải, Thị Thuý
38 Ngô Xuân Nguyên Bà Nguyễn Thị Hường sinh Đức Hoàn
38 Ngô Xuân Lợi Bà Nguyễn Thị Vân, sinh Thị Huyền, Đức …

37 Ngô Xuân Tâm Bà Lương Thị Cảnh ,sinh Đức Toàn, Đức Minh,Chinh Đức,
Thị Loan, Thị Khai, Thị Nguyệt, Thị Anh
38 Ngô Đức Toàn Bà Nguyễn Thị Hè, sinh Đức Hoàng,Đức Nam

37 Ngô Xuân Cát Bà Đinh Thị Miền, sinh Đức Tuấn, Thị Lan, Thị Hương, Thị Lam,
Thị Thuận

35 Ngô Phúc Cưu (1863-1945)có hai bà,sinh Đức Quý,Đức Thi,Đức Cầm,Đức Tín,
Đức Huấn,Đức Cửu,Đức Thập,Đức Toàn,Đức Du, Thị Trương,
Thị San, Thị Tuấn, Thị Em
36 Ngô Đức Quý sinh 1917,Bà Nguyễn Thị Lưu, sinh Thị Mai,Đức Tùng,Đức Bách
Đức Lý (cả gia đình di cư Thái Lan).

37 Ngô Đức Tùng Bà Đào Thị Thuý, sinh Trọng Tài,Thu Thanh,Thị Thìn,Thị Thu
Thoa,Quang Toàn, Bạch Tuyết(Ks)
38 Ngô Trọng Tài Ks,Ls ,Bà Trần Thị Thu, sinh Trọng Tuấn, Thị Ngọc Oanh,V.Diệp
38 Ngô Quang Toàn Ks, Bà Đinh Thị Phương Hoà, sinh Chi Lan

37 Ngô Đức Lý Bà Nguyễn Thị Nghiêm ,sinh Thị Nguyệt, Thị Đào

37 Ngô Đức Bách sinh Ngô Lý, Ngô Hy, Đức Loan

36 Ngô Đức Thi Bà Võ Thị Dinh,sinh Đức Anh,Đức Chế,Đức Quốc Ls,Đức
Quang, Thị Trâm, Thị Oanh, Thị Thông, Thị Độ

37 Ngô Đức Anh Bà Ly Thị Hỷ, sinh Đức Sơn, Thị Thuỷ, Thị Hà
38 Ngô Đức Sơn Bà Lê Thị Bắc, sinh Đức Trường, Đức Giang, Đức Quyền

37 Ngô Đức Chế Bà Võ Thị Hoan,sinh Đức Linh,Đức Lượng,Đức Tường,
Đức Túc, Thị Hương, Thị Tý
38 Ngô Đức Linh Bà Nguyễn Thị Liễu, sinh Đức Phú

37 Ngô Đức Quốc Bà Nguyễn Thị Lục, sinh Đức Hưng,Đức Hoà, Đ.Hải,Đ.Hiền

37 Ngô Đức Quang Bà Trần Thị Chắt, sinh Đức Thanh, Thị Minh

36 Ngô Đức Tín Bà Nguyễn Thị Dị ,sinh một trai hai gái,di cư Thái Lan

36 Ngô Đức Huấn Bà Nguyễn Thị Uyển,sinh Đức Hồ (Ls.),Đức Việt,Đức Nam,
Đức Đàn,Thị Sơn, Thị Phương

37 Ngô Đức Việt Bà Nguyễn Thị Nghiêm, sinh Đức Bắc, Đức Trung, Đức Vinh,
Đức Quang, Thị Liên
38 Ngô Đức Bắc (Ls.) bà Trần Thị Hồng, sinh Xuân Lam
38 Ngô Đức Trung Bà Nguyễn Thị Lan, sinh Đức Sơn
38 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Nga, sinh Đức Hùng

37 Ngô Đức Nam Bà Vang Thị Thi,Bà thứ Nguyễn Thị My,sinh Đức Tâm,Thị Oanh,
và hai con gái
37 Ngô Đức Đàn Bà Nguyễn Thị Dung ,sinh Đức Thọ, Đức Thắng, Đức Thông,
Đức Thành
38 Ngô Đức Thọ sinh Quang Huy
36 Ngô Đức Cửu Bà Nguyễn Thị Cum,sinh Đức Huynh,Thị Tứ, Thị Tam,
Thị Nhượng,Thị Minh, Thị Thành, Thị Dung
37 Ngô Đức Huynh Bà Trần Thị Hạp sinh Đức Hồng,Đức Lam,Đức Sơn, Thị Lan,
Thị Vân, Thị Tuyết, Thị Thuỷ
38 Ngô Đức Sơn Bà Trần Thị Tuyền, sinh Phúc Trương, Thị Hoài

36 Ngô Đức Thập Bà Hà Thị Nậy,sinh Đức Duẩn,Đức Quân,Đức Nguyên, Thị Lý,
Thị Thuyết
37 Ngô Đức Tác Bà Nguyễn Thị Hoạt, sinh Đức Phúc,Đức Dương,Đức Tuấn,
Đức Hải
37 Ngô Đức Hoạch Bà Võ Thị Nhân, sinh Thị Dung, Thị Hương, Thị Trang

36 Ngô Đức Toàn Bà Nguyễn Thị Tuệ, sinh Đức Vinh, Đức Quang
37 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Đôi, sinh Đức Quyết, Đức Thắng, Thị Hoa
37 Ngô Đức Quang Bà Võ Thị Khương, sinh Đức Phú, Đức Quý

36 Ngô Đức Du Bà Trần Thị Tuý, sinh Đức Hoàn, Thị Xoan, Thị Huệ, Thị Thường
37 Ngô Đức Hoan Bà Nguyễn Thị Nhật, sinh Đức Thanh, Đức Đạt

35 Ngô Đức Dị Bà Nguyễn Thị Thanh, sinh Đức Đoan
36 Ngô Đức Đoan Bà Nguyễn Thị Đích, sinh Thị Đoan

35 Ngô Cảnh Giới Bà Võ Thị Thảo, sinh Đức Điểu, Thị Kỳ, Thị Nhỏ, Thị Yên,
Thị Năm,Thị Sáu
36 Ngô Đức Điểu sinh Đức Cưu, Thị Cháu, Thị Bình
37 Ngô Đức Cưu Bà Trần Thị Quang, sinh Đức Hồng,Đức Thắng,Đức Thái,Đức
Thìn, Thị Minh
38 Ngô Đức Hồng Bà Lê Thị Hồng, sinh Đức Sơn, Thị Lan
Phái 2 Chi IX
Phái Đa Phúc,
xã Nghi Công, huyện Nghi Lộc,tỉnh Nghệ An
( Mới về nhận họ năm 1995)

30 Ngô Phúc Lạng sinh Phúc Nhu, Phúc Tư, Phúc Thâm
Phúc Tư họ Thương bình huyện La Sơn (Hương Khê),
Phúc Thâm ở quê gốc .

31 Ngô Phúc Nhu tự Ngô TứTăng, quê gốc ở thôn Bằng Khang xã Cổ Liêu sau dời
về xã Hảo Hiệp huyện Chân Lộc.Khoảng năm 1740 dời về Kẻ
Mươi tức thôn Đa Phúc,tổng Hải Đô,phủ Hưng Nguyên nay là xã
Nghi Công huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An
Bà Nguyễn Thị Thành ,sinh Tứ Liên,Trọng Đương.

32 Ngô Trọng Đương sinh Trọng Hài, Trọng Hoà, Trọng Hợp, Thị Bàn
Trọng Hoà chỉ truyền được 4 đời

33 Ngô Trọng Hài Bà cả và bà thứ sinh Trọng Cẩn, Trọng Khôi, Trọng Lăng
(Trọng Lăng chỉ truyền được 3 đời)

34 Ngô Trọng Cẩn sinh Trọng Chí, Trọng Cần, Duy Doãn và ba gái

35 Ngô Trọng Chí sinh Thị Khai, Thị Đoan, Trọng Lang (vt), Trọng Huệ
36 Ngô Trọng Huệ sinh Trọng Tín (vt), Trọng Giá
37 Ngô Trọng Giá sinh Trọng Lới
38 Ngô Trọng Lới sau đổi Ngô Đức Sinh, sinh Đức Minh
39 Ngô Đức Minh sinh Đức Phương, Thị Hường, Thị Nhung, Thị Vượng, Đức Lượng

35 Ngô Trọng Cần (1797- 1859) Bà cả sinh Trọng Trân, Thị Đố, Thị Xạ, Thị Tiên,
Thị Nghiên, bà thứ sinh Thị Biên, Thị Ngạo, Thị Nhưng, Thị Bạn,
Trọng Du ( mất tích)
36 Ngô Trọng Trân (1829- 1906) sinh Thị Phát, Trọng Quát, Trọng Thân, Trọng Bốn
37 Ngô Trọng Quát tự Ngô đại Cơ, sinh Thị Phương, Thị Vân, Thị Chương,
Trọng Khiêm, Thị Triệm, Đức Toàn, Đức Hồ, Đức Lưu
38 Ngô Trọng Khiêm (ông Thiều) tự Ngô Minh Châu, sinh Thị Thiều
38 Ngô Đức Toàn huý Ngô trọng Tốn, sinh Đức Uyên, Thị Nhiên, Đức Bàng,
Đức Bường.

39 Ngô Đức Uyên (1925-1991) sinh Thị Ngọc Anh (Đh)

39 Ngô Đức Bàng Ks,sinh Đức Chương, Thị Lan, Thị Tâm, Đức Dũng
40 Ngô Đức Chương sinh Thị Tuyết Mai, Thị Hồng Ngọc, Đức Tuấn

39 Ngô Đức Bường Bs,sinh Thị Giang, Thị Thanh, Đức Bình

38 Ngô Đức Hồ sinh Thị Hiên,Đức Dô, Thị Diêu,Đức Tiêu, Thị Đào,Đức Dào Ls,
Thị Giáo
39 Ngô Đức Dô sinh Thị Dơn, Thị Bôn, Đức Sơn, Đức Hà, Thị Hương, Thị Hoan,
Đức Quỳnh, Thị Phượng

39 Ngô Đức Tiêu sinh Đức Hải (Ls.), Đức Nhật, Đức Nguyệt, Đức Nga, Thị Ngạn,
Đức Đàn, Đức Đồng, Thị Thị nh

38 Ngô Đức Lưu sinh Đức Tao, Đức Tuynh (Ls.)
39 Ngô Đức Tao sinh Thị Thảo,Đức Tuyên,Đức Tân,Thị Song,Thị Hồng, Đức Phồn

37 Ngô Trọng Bốn sinh Đức Tuỳnh, Thị Tiềm, Thị Khôi, Thị Huy
38 Ngô Đức Tuỳnh huý Ngô trọng Tời, sinh Ngô Đức Kỳ, Đức Sam, Đức Siêm

39 Ngô Đức Kỳ sinh Đức Kỳ(Ls.), Đức Cường
39 Ngô Đức Sam sinh Đức Nam,Đức Luyên,Đức Tuyền, Thị Tứ, Thị Ngụ,Đức Lục,
Đức Trí, Thị Vị
39 Ngô Đức Siêm sinh Đức Vinh,Đức Lương,Đức Khương,Đức Khang,Đức Thái,
Thị Bình, Thị Minh, Thị Mai, Đức Hồng, Đức Lĩnh

34 Ngô Trọng Khôi sinh Trọng Tuế (vt), Trọng Xứ, Thị Thăng
35 Ngô Trọng Xứ sinh Thị Trí, Văn Chí , Văn Hàn , Văn Mặc, Thị Như,
Thị Nhưng, Văn Quý
36 Ngô Văn Mặc sinh Thị Gon, Trọng Tuỳ, Văn Huề, Văn Câu, Thị Diệu
37 Ngô Trọng Tuỳ sinh Đức Xong, Đức Trường
38 Ngô Đức Xong sinh Thị Châu, Đức Phong, Thị Phương
39 Ngô Đức Phong sinh Đức Giáp, Thị Hồng, Đức Trinh, Đức Chuyên, Thị Thêm

38 Ngô Đức Trường sinh Đức Trường
39 Ngô Đức Trường sinh Thị Hường,Thị Đường,Đức Dương,Đức Cảnh,Đức Khanh,
Thị Thu

37 Ngô Văn Huề tức Ngô Đức Đường sinh Văn Tuề, Thị Phúc ,Đức Lộc,
Đức Hùng
38 Ngô Đức Lộc sinh Đức Yên, Thị Tịnh,Đức Song,Đức Hào,Đức Thao,ĐứcBằng
38 Ngô Đức Hùng sinh Đức Dũng, Thị Thanh

37 Ngô Văn Câu tức Ngô Đức Tài, sinh Thị Tài, Thị Em

36 Ngô Văn Quý sinh Thị Dạnh,Đức Tiến,Đức Tửu,Đức Phướng,Đức Dịnh
37 Ngô Đức Tiến sinh Đức Tiến , Đức Hoá
38 Ngô Đức Hoá Bà cả sinh Đức Cung, bà thứ sinh Thị Hạnh, Thị Khánh, T.Thành
39 Ngô Đức Cung sinh Thị Hải, Thị Lý, Thị Thuyết, Đức Thắng, Đức Lợi, Đức Hoài

33 Ngô Trọng Hợp sinh Trọng Các, Trọng Thích

34 Ngô Trọng Các sinh Trọng Lôi, Trọng Bảo (vt)
35 Ngô Trọng Lôi sinh Trọng Tào, Trọng Thước
36 Ngô Trọng Tào sinh Trọng Giác, Trọng Tiếu, Trọng Kiêu, Thị Xen

37 Ngô Trọng Giác sinh Đức Xuốn, Đức Xuôn

38 Ngô Đức Xuốn sinh Đức Hoè, Thị Em, Thị Thực
39 Ngô Đức Hoè sinh Đức Hoà,Thị Thuận, Đức Cảnh, Thị Thanh, Thị Danh,
Thị Canh,Đức Cung, Thị Kính

38 Ngô Đức Xuôn sinh Thị Liên (Ls.), Thị Tuyết, Thị Hà

37 Ngô Trọng Tiếu sinh Đức Nuôi, Đức Ba, Đức Nghĩa

38 Ngô Đức Nuôi sinh Thị Xuân, Thị Xuyên, Đức Quyến, Thị Nhâm, Thị Nhuyên
39 Ngô Đức Quyến sinh Thị Soa, Thị Mai, Thị Thái, Thị Thương, Thị Thật

38 Ngô Đức Ba sinh Đức Châu, Thị Lựu,Đức Thạch,Đức Quang,Đức Vinh,
Thị Thị nh, Thị Bình, Đức Công

39 Ngô Đức Châu sinh Thị Niềm,Thị Thắng, Thị Thanh,Đức Hùng, Đức Cường
39 Ngô Đức Thạch sinh Thị Thắm, Thị Tình, Thị Duyên, Đức Trọng, Thị Thêm
39 Ngô Đức Quang sinh Thị Hoa,Đức Đại, Thị Thoả, Thị Bé
39 Ngô Đức Vinh sinh Đức Linh, Đức Nghiêm, Thị Trang

38 Ngô Đức Nghĩa sinh Đức Sỹ,Thị Nhị,Đức Đường,Thị Luyện, Thị Khuyên, Thị Liên,Thị Hồng, Đức Hoan, Đức Mười, Đức Khanh, Thị Hiền

39 Ngô Đức Sỹ sinh Thị Sen, Thị Soa, Đức Khoa
39 Ngô Đức Đường sinh bốn gái
39 Ngô Đức Hoan sinh Đức Hải, Đức Hưng

37 Ngô Trọng Kiêu tức ông Cháu Chíp, sinh Thị Cháu, Đức Hai, Đức Ba, Thị Tư, Thị
Địu, Đức Năm

38 Ngô Đức Hai sinh Đức Duyện, Đức Biên, Thị Diên, Thị Doan,Đức Loan,
Đức Hồng, Thị Hương

39 Ngô Đức Duyện sinh Đức Sơn,Đức Giang,Đức Dung,Thị Diệu,Đức Hiếu, T.Huyền
39 Ngô Đức Biên sinh Đức Tuấn, Thị Oanh, Thị Hiệp, Đức Hiến
39 Ngô Đức Loan sinh Thị Phượng, Đức Hùng, Thị Ngân, Đức Trung
39 Ngô Đức Hồng sinh Thị Trinh

38 Ngô Đức Ba sinh Đức Nhung (Ls.), Thị Trầm, Đức Ngọc, Thị Hường
39 Ngô Đức Ngọc sinh Thị Nguyệt, Đức Chiến, Thị Phương, Thị Lan, Đức Thắng

38 Ngô Đức Năm sinh Thị Hoa, Thị Hồng, Đức Long, Đức Châu, Thị Thanh, Thị
Chương, Thị Hào, Đức Lương, Thị Đào

39 Ngô Đức Châu sinh Đức Vinh,Thị Phương Thị Bình,Thị Minh,Đức Thắng,ĐứcLợi
39 Ngô Đức Lương sinh Thị Liên, Thị Lan

36 Ngô Trọng Thước sinh Đức Xí
37 Ngô Đức Xí sinh Thị Hoe, Thị Lý, Đức Nguyên, Đức Tý

38 Ngô Đức Nguyên sinh Đức Hiếu, Thị Thảo, Đức Tuấn
38 Ngô Đức Tý sinh Thị Thuý, Đức Sơn, Thị Bình, Đức An, Đức Toàn
34 Ngô Trọng Thích sinh Trọng Ngân
35 Ngô Trọng Ngân sinh Trọng Ất, Trọng Thính
36 Ngô Trọng Ất sinh Đức Lành,Đức Thiu,Thị Nhờn,Thị Thư,Thị Enh,Trọng Kinh

37 Ngô Đức Lành sinh Thị Cháu, Đức Lường
38 Ngô Đức Lường sinh Đức Cương, Thị Nhì, Thị Cúc, Thị Sáu, Đức Biên, Thị Diệu

39 Ngô Đức Cương sinh Đức Tùng, Thị Nết, Đức Năng, Đức Hội, Đức Lý
39 Ngô Đức Biên sinh Đức Tuấn, Thị Mai

37 Ngô Đức Thiu sinh Đức Thao, Thị Em
38 Ngô Đức Thao sinh Đức Thảo

37 Ngô Trọng Kinh sinh Đức Bường, Thị Yêm
38 Ngô Đức Bường Ls,sinh Đức Cường, Thị Liên, Thị Hương
39 Ngô Đức Cường sinh Đức Dũng, Đức Sỹ

Phái 3 Tiểu phái 2 Chi IX

34 Ngô Phúc Hồi Bà Võ Thị Tài, sinh Đức Phải, Đức Liên, Đức Phú, Đức Thắng,
(Hoằng) Đức Thấu, Thị Bồ, Thị Kỷ

35 Ngô Đức Phải Bà Nguyễn Thị Thuật, sinh Đức Kỵ, Đức Thường, Đức Son, Thị
Toan, Thị Khôi

36 Ngô Đức Kỵ Bà Võ T.Đông, bà thứ Phạm Thị Chuỳ và Hà Thị Sương, sinh Đức
Chước, Thị Phước, Đức Ba, Đức Bốn
37 Ngô Đức Chước Bà Phạm Thị Khuê sinh Đức Hiền,Đức Hựu, Đức Diễm,
Đức Thùy,Đức Lục, Thị Gọn, Thị Em

38 Ngô Đức Hựu Ls,Bà Phạm Thị Xuân, sinh Đức Ái, Đức Vân, Thị Thân
39 Ngô Đức Ái Bà Phạm Thị Lệ,sinh Đức Nghĩa Đức Quân, ĐứcTạo, Thị Nhân

38 Ngô Đức Thuỳ Bà Lê Thị Liên, sinhĐức Liên,Đức Hải,Đức Trung(Đh), Thị Mai,
Thị Huệ, Thị Thảo
38 Ngô Đức Lục Ls,Bà Võ Thị Em, sinh Đức Tâm

37 Ngô Đức Ba Bà Võ Thị Lựu ,sinh Thị Biện, Đức Vọng
38 Ngô Đức Vọng Bà Võ Thị Thỉ, sinh Đức Mạo,Đức Tý,Đức Luận, Thị Xuân, Thị
Khanh, Thị Hanh, Thị Bình, Thị Nghĩa

39 Ngô Đức Mạo Bà Phạm Thị Hân, sinh Đức Đạo,Đức Công,Đức Hảo, Thị Hồng
39 Ngô Đức Tý Đh,Bà Nguyễn Thị Luân, sinh Đức Bá, Thị Nguyệt

37 Ngô Đức Bốn Bà Nguyễn Thị Tư, sinh Đức Đoài,Đức Lập,Đức Việt,Đức Cư,
Đức Thuận, Đức Bút, Thị Huệ, Thị Lan

38 Ngô Đức Đoài Bà Phạm Thị Em,sinh Đức Duyên,Đức Khoa,Thị Cháu,Đức Linh,
Đức Minh, Thị Huyên

39 Ngô Đức Linh Bà Phạm Thị Hoa, sinh Đức Trung, Thị Thuý, Thị Thanh, T.Thảo
39 Ngô Đức Duyên Bà Phạm Thị Bình, sinh Đức Hiếu, Đức Hoà, Thị Hoài

38 Ngô Đức Lập Bà Nguyễn Thị Cháu, sinh Đức Tiến, Đức Bảo, Đức Bích,
Đức Xuân, Đức Ngân
39 Ngô Đức Tiến Bà Nguyễn Thị Huyền, sinh Đức Quý

38 Ngô Đức Việt Bà Nguyễn Thị Chiu,sinh Đức Hoà,Đức Dương,Thị Việt,Thị Hải,
Thị Thuỷ

36 Ngô Đức Son Bà Nguyễn Thị Sỹ, sinh Đức Thước, Thị Em
37 Ngô Đức Thước sinh Đức Thông, Đức Trâm, Đức Diệu, Thị Cảnh

38 Ngô Đức Thông Bà Phan Thị Vân,bà thứ Võ Thị Em, sinh Đức Chất,Đức Thảo, Thị
Sen, Thị Tâm, Thị Tứ, Thị Hiền, Đức Cần , Thị Thường
39 Ngô Đức Thảo Bà Võ Thị Thuỷ, sinh Đức Thành, Thị Thuý

38 Ngô Đức Trâm Bà Võ Thị Nuôi, sinh Đức Tâm,Đức Minh,Đức Anh,Đức Hùng,
Đức Liệu, Thị Thanh, Thị Vân

39 Ngô Đức Tâm Bà Trần Thị Bông, sinh Ngô Bính, Đức Quế, Thị Huệ, Thị Nhâm
39 Ngô Đức Minh Bà Võ Thị Tý, sinh Thị An, Thị Linh
39 Ngô Đức Anh Bà Bùi Thị Thanh ,sinh Thị Kim
39 Ngô Đức Liệu Bà Võ Thị Hòa sinh Đức Vinh,Đức Danh,Đức Huân

38 Ngô Đức Diệu Bà Nguyễn Thị Huyền, sinh Đức Chiến, Đức Thắng, Đức Lợi,
Đức Lộc, Đức Tới, Đức Thống, Đức Xanh
39 Ngô Đức Chiến Bà Phạm Thị Nuôi, sinh Đức Hiệp, Đức Định, Thị Huế
39 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Hường, sinh Đức Đại, Thị Lý

36 Ngô Đức Thường Bà Phạm Thị Cơ, sinh Đức Nhị, Đức Mục, Thị Ba, Thị Út
37 Ngô Đức Nhị Bà Võ Thị Viện, sinh Đức Lược, Đức Lịch, Thị Cháu, Thị Thích

38 Ngô Đức Lược Bà Nguyễn Thị Nhỏ, bà thứ Đặng Thị Em, sinh Đức Quang,Đức
Thanh, Thị Bình, Thị Hiển, Thị Thìn, Thị Xuân, Thị Thu

38 Ngô Đức Lịch Bà Lê Thị Lạc, sinh Đức Hồng, Đức Hoan, Đức Tịnh,Đức Vinh,
Thị Hà, Thị Vân

39 Ngô Đức Hoan Bà Hà Thị Dung, sinh Đức Hùng, Đức Hảo, Thị Huyền
39 Ngô Đức Vinh Bà Nguyễn Thị Hậu, sinh Đức Bảo

37 Ngô Đức Mục Bà Võ Thị Nhỏ, sinh Đức Sức (Ls.), Thị Ngoéc
35 Ngô Đức Liên Bà Lê Thị Vơn ,sinh Đức Phúc,Đức Trạo,Đức Đoan,Đức Vi,
Thị Thước, Thị Thiển, Thị Giăng

35 Ngô Đức Phú Bà Võ Thị Thu, bà thứ Võ Thị Chín, sinh Thị Đửu, Thị Bốn,
Đức Chức
36 Ngô Đức Chức Bà Phạm Thị Ngoé, sinh Đức Thuyết, Đức Mỹ, Đức Xoan

Phái 3 Tiểu phái 3 Chi IX

34 Ngô Phúc Trực sinh Đức Nghinh, Đức Lương, Đức Thái

35 Ngô Đức Nghinh Bà Nguyễn Thị Trinh, bà Thứ Nguyễn Thị Thuận và Nguyễn Thị
Tiến, sinh Đức Nhật, Đức Thành, Đức Lạc

36 Ngô Đức Nhật Bà Thị Tại, sinh Đức Nhu, Thị Ba, Thị Bốn
37 Ngô Đức Nhu Bà Võ Thị Trinh, sinh Đức Lai, Đức Nghinh,Đức Thỉnh,Thị Tình,
Thị Tiêu

38 Ngô Đức Nghinh Bà Nguyễn Thị Em, bà thứ Bùi Thị Tam ,sinh Đức Tý, Đức Thìn,
Đức Kỷ, Thị Trịnh

39 Ngô Đức Tý Bà Phạm Thị Nhân, sinh Thị Ngân
39 Ngô Đức Thìn Bà Trần Thị Chín, sinh Thị Thương, Thị Thuận, Thị Hoà, Thị Huệ
39 Ngô Đức Kỷ Bà Phạm Thị Đức, sinh Thị Hương

38 Ngô Đức Thỉnh Bà Nguyễn Thị Khuây, sinh Đức Bảy, Đức Vị, Đức Thanh,
Thị Cháu, Thị Em, Thị Thêm, Thị Dần

39 Ngô Đức Bảy Bà Nguyễn Thị Bằng, sinh Đức Danh, Thị Thuý
39 Ngô Đức Vỵ Bà Phạm Thị Trinh, sinh Đức Hùng, Thị Hiến

38 Ngô Đức Lai Bà Võ Thị Duận, sinh Đức Mạnh, Đức Dánh, Thị Mùi
39 Ngô Đức Mạnh Bà Tràn Thị Hoa, sinh Đức Viết, Đức Tương,Thị Nguyệt, Thị Ái
39 Ngô Đức Dánh Bà Võ Thị Hoa, sinh Đức Ngọc

36 Ngô Đức Thành Bà Võ Thị Tư, bà thứ Lương Thị Trì ,sinh Đức Cường,Đức Thọ,
Đức Ích, Thị Dị, Thị Mực

37 Ngô Đức Thọ Bà Lương Thị Trì, sinh Đức Tín, Thị Mực (di cư Thái Lan)
38 Ngô Đức Tín Bà Võ Thị Tứ, sinh Đức Bá, Đức Ngọ (Ls.),Đức Đường,
Đức Quyền,Thị Tín, Thị Soa
39 Ngô Đức Đường Bà Võ Thị Liên, sinh Đức Hùng, Đức Hải, Đức Thắng
39 Ngô Đức Quyền Bà Võ Thị Vinh sinh Ngô Đức , Thị Huyền

37 Ngô Đức Ích Bà Nguyễn Thị Đệ, sinh Đức Tân, Đức Dân, Đức Minh, Thị Ích,
Thị Tan, Thị Ất
38 Ngô Đức Tân Ls,Bà Võ Thị Kính, sinh Đức Nhân, Thị Mão
38 Ngô Đức Dân hai bà, sinh Đức Tiết, Đức Giáp, Thị Diện, Thị Phương, Thị Loan,
Thị Liên
38 Ngô Đức Minh Bà Nguyễn Thị Thức, sinh Đức Hồng, Đức Lĩnh, Đức Biên

37 Ngô Đức Cường Bà Phạm Thị Nhỏ, sinh Đức Hiệu, Đức Thị nh, Đức Chân
38 Ngô Đức Hiệu Bà Võ Thị Xuân, sinh Đức Vấn, Đức Luyện,Đức Cầu,Đức Mận,
Thị Huấn
39 Ngô Đức Vấn Bà Lê Thị Linh, sinh Đức Xuyến

38 Ngô Đức Thịnh sinh Đức Nam, Đức Ninh, Đức Đê
38 Ngô Đức Chân Bà Phạm Thị Hương,sinh Đức Thiết,Thị Thái, Thị Thuỷ, Thị Thám
Thị Hương

36 Ngô Đức Lạc Bà Võ Thị Di, sinh Đức Biên, Đức Khánh
35 Ngô Đức Lương hai bà, sinh Đức Khanh, Đức Mân
36 Ngô Đức Khanh Bà Nguyễn Thị Phong, sinh Đức Đáng, Đức Dong, Thị Đình,
Thị Ngạc
37 Ngô Đức Đáng Bà Võ Thị Khởi, sinh Đức Tựa, Đức Nựa, Thị Dáng, Thị Dưu,
Thị Hựu
38 Ngô Đức Tựa Bà Phạm Thị Cháu, sinh Đức Chinh,Đức Nhàn,Đức Phương,Đức
Tám, Thị Châu, Thị Ninh, Thị Tuyết, Thị Thu
39 Ngô Đức Chinh Bà Nguyễn Thị Hiến,sinh Đức Anh, Đức Tường, Thị Hoa,Hương

38 Ngô Đức Nựa Bà Nguyễn Thị Xuân, sinh Đức Lam, Đức Khánh, Đức Phú,
Thị Tuấn, Thị Hồng

36 Ngô Đức Mân Bà Phạm Thị Ngơi, sinh Đức Phấn
37 Ngô Đức Phấn Bà Trần Thị Lâm, sinh Đức Toán, Thị Thoán, Thị Xoan, Thị Tỵ
38 Ngô Đức Toán Bà Thị Loan, sinh Đức Lập,Đức Sơn,Đức Tùng,Đức Dũng,Đức
Hoàn, Đức Hải, Thị Xoan, Thị Bé
35 Ngô Đức Thái Bà Vũ Thị Uyển, sinh Đức Viên, Đức Hiên, Đức Nguyên,
Đức Tuyên (vt).
36 Ngô Đức Viên Bà Võ Thị Hậu,sinh Đức Lương,Đức Đương (vt),Đức Chương,
Thị Em
37 Ngô Đức Lương ba bà Vương Thị Em,Nguyễn Thị Chín và Phạm Thị Tam,
sinh Đức Lương , Đức Vịnh, Đức Tịnh, Thị Thuần, Thị
Nhuần, Thị Hà
38 Ngô Đức Vịnh Bà Võ Thị Thanh, sinh Đức Trung, Thị Hà
38 Ngô Đức Tịnh Bà Phạm Thị Hương, sinh Đức An

37 Ngô Đức Chương Bà Lê Thị Miên, sinh Đức Trình, Đức Tích,Đức Thích, Thị Thu,
Thị Xuân
38 Ngô Đức Trình Bà Võ Thị Hiên, sinh Đức Quang, Đức Bảo, Thị Cúc, Thị Mai, Thị
Hoa, Thị Hiền, Thị Hồng, Thị Huy
39 Ngô Đức Quang Bà Võ Thị Hoa, sinh Đức Diệu, Thị Trang, Thị Thuỳ Dương

38 Ngô Đức Tích Bà Lê Thị Quýt, sinh Đức Ánh, Đức Thuỷ, Thị Thanh, Thị Cảnh,
Thị Nguyệt
39 Ngô Đức Thuỷ Bà Thị Hồng, sinh Đức Hoàn
36 Ngô Đức Nguyên Bà Võ Thị Nhiên,sinh Đức Vượng,Đức Hướng, Đức Phúc, T.Lai,
T.Đỉnh, T.Thỉnh
37 Ngô Đức Vượng sinh Đức Dũng (Ls.), Đức Hùng

37 Ngô Đức Hướng bà Võ Thị Nhỏ, sinh Đức Toạ, Đức Tịch,Đức Được,Đức Lục,
Đức Quế, Thị Loan, Thị Nhâm
38 Ngô Đức Toạ Bà Nguyễn Thị Tân và bà Thị Quý, sinh Đức Tiệp, Thị Liệu, T.Việt
Thị Tuyết
38 Ngô Đức Tịch Bà Nguyễn Thị Hạnh, sinh Đức Bắc, Đức Tài, Thị Thái
38 Ngô Đức Được Bà Lương Thị Khai, sinh Đức Trung, Thị Hằng, Thị Hiền
38 Ngô Đức Quế Bà Phạm Thị Thuỷ, sinh Thị Hoa

37 Ngô Đức Phúc hai bà, sinh Đức Anh,Đức Thạnh,Thị Lan,Thị Huệ,Thị Lý,Thị Hoa,
Thị Hường, Thị Như
38 Ngô Đức Anh Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh Đức Tuấn, Đức Quang, Thị Kìều
38 Ngô Đức Thạnh Bà Nguyễn Thị Lý, sinh Thị Ngân , Thị Nga, Thị Nguyệt

Phái 3 Tiểu phái 4 Chi IX

34 Ngô Phúc Hào Bà Nguyễn Thị Ven và Đào Thị Trành,sinh Đức Kham,
Đức Thiện,Thị Nền,Thị Nhàn,Thị Nghiêm,Thị Nghị,Đức Luận,
Thị Dị, Thị Út

35 Ngô Đức Kham sinh Thị Sum, Thị Hợp, Thị Do, Đức Ký, Thị Yển

35 Ngô Đức Thiện Bà Vũ Thị Hường, sinh Đức Dượng, Đức Yên, Đức Yển, Thị
Trưởng, Thị Mậu, Thị Chi
36 Ngô Đức Dượng Bà Phan Thị Nhị, sinh Đức Dục, Đức Thắng,Đức Chí,Đức Bình,
Thị Năm
37 Ngô Đức Thắng Bà Nguyễn Thị Lai, sinh Dức Bích, Thị Lợi ,Thị Tuất

37 Ngô Đức Chí Bà Phạm Thị Cháu, sinh Đức Đính, Đức Lịnh, Thị Tuyên ,Thị Đôi
Thị Huấn
38 Ngô Đức Đính Bà Võ Thị Nhân, sinh Đức Thăng, Thị Diện, Thị Liệu, Thị Nguyệt,
Thị Long, Thị Huế
38 Ngô Đức Lịnh Bà Võ Thị Lý, sinh Đức Tuân, Đức Tú, Đức Phú
37 Ngô Đức Bình Bà Dương Thị Thuận, sinh Đức Thảo, Thị Hiền, Thị Liêu, Thị
Thương, Đức Phước
36 Ngô Đức Yên Bà Nguyễn Thị Hiểu và bà Võ Thị Liên,sinh Đức Trinh,Đức
Chính,Đức Duyệt,Thị Bình,Đức Hán,Đức Đề,Đức Danh,Đức
Phòng,Thị Thiêm
37 Ngô Đức Trinh Bà Võ Thị Chính, sinh Đức Hiển,Đức Vinh,Đức Tùng, Thị Hiền,
Thị Mạo
38 Ngô Đức Vinh Bà Võ Thị Lam, sinh Đức Trà, Thị Quyên, Thị Huệ
38 Ngô Đức Tùng Bà Nguyễn Thị Hà, sinh Thị Canh, Thị Nga, Thị Mai, Đức Trung

37 Ngô Đức Duyệt Bà Phạm Thị Tịnh, sinh Đức Ngọc, Thị Cháu, Đức Hảo, Đức An
Đức Lự
38 Ngô Đức Ngọc Bà Thị Phương, sinh Đức Hùng, Đức Cường

37 Ngô Đức Đề Đh,Bà Đinh Thị Thuý (Đh), sinh Đức Đạt, Đức Đỉnh

37 Ngô Đức Phòng Bà Trần Thị Luân (Ls.), bà thứ Phạm Thị Dân, sinh Thị Nhung,Đức
Trung

35 Ngô Đức Luận Bà Võ Thị Di, sinh Đức Ngự, Đức Giăng,Đức Trữ, Thị Nữ
36 Ngô Đức Ngự Bà Phạm Thị Khuyên, sinh Đức Bá, Đức Quý, Đức Ngân,
Thị Phượng, Thị Lanh, Thị Vỹ
37 Ngô Đức Quý Bà Nguyễn Thị Tám ,sinh Đức Thuận, Đức Hảo, Thị Huyền

36 Ngô Đức Trữ Bà Võ Thị Tặng, sinh Đức Đạo, Đức Kiên, Đức Kiểu,
Thị Như,Thị Kiều
36 Ngô Đức Giăng Bà Nguyễn Thị Phương ,bà thứ Nguyễn Thị Tăng, sinh Đức Thân,
Đức Nhàn, Thị Thuyết, Thị Minh, Thị Tuyết, Thị Hồng

Phái 3 Tiểu phái 5 Chi IX

34 Ngô Phúc Truỵ Bà Võ Thị Đào, sinh Đức Phương,Đức Gia, Thị Cù, Thị Uông,
Thị Bốn
35 Ngô Đức Phương Bà Phạm Thị Hai, sinh Thị Xuân, Thị Lạc, Thị Hèo

35 Ngô Đức Gia Bà Phan Thị Hoà, sinh Đức Nhập, Đức Thành, Thị Nhỏ, Thị Em
36 Ngô Đức Nhập Bà Phạm Thị Tín, sinh Đức Nhân,Đức Trí, Minh Đức, Đức Tính,
Thị Thiệp, Thị Ngại, Thị Chức, Thị Chát
37 Ngô Đức Nhân Bà Nguyễn Thị Loan,sinh Đức Tiền,Đức Hàn,Đức Văn,Thị Tuyên

37 Ngô Đức Trí Bà Nguyễn Thị Nhường, sinh Đức Vỹ, Thị Tăng, Thị Lý, Thị Lan,
Thị Huệ
37 Ngô Minh Đức Bà Phan Thị Thu sinh Đức Kỷ, Thị Yến

37 Ngô Đức Tính Bà Võ Thị Thư, sinh Thị Thanh.
Phái 4 – Chi IX
30 Ngô Phúc Lâm Khiêm Quận công , tự Hồng Tích, hiệu Thuần Trai ,đỗ
(1724-1784) Tiến sĩ năm 1766.Ông là người biên soạn “Tân kỷ Hoan châu
Ngô thị truyền gia tập lục” còn lại đến ngày nay, làm Hiến sát
sứ Thanh Hóa, Tham chính Sơn Tây, Tri tả Bình phiên, chức Thị
lang. Năm 1778 lên Lạng Sơn cầm đầu phái bộ cùng Trung Quốc
giải quyết vấn đề biên giới. Khi về nhiễm bệnh vẫn phải
đi Thanh Hóa.Có chỉ xuống đi Tham trấn Thuận Hóa, bệnh trầm
trọng phải về kinh điều trị, từ trần, tặng Khiêm Quận công, mộ
táng ở cồn Thịnh Quang.
Ông có hai bà sinh Phúc Lương ( lúc còn trẻ cầm quân đi đánh
ở Rú Bầng tử trận chưa vợ ), Phúc Trường.

31 Ngô Phúc Trường sinh Phúc Chinh, Ngô Phùng

32 Ngô Phúc Chinh Cử nhân, làm Tri huyện Gia Bình, sinh Cố Nhu
33 Ngô.. .(cố Nhu) sinh Ngô Phái, Ngô Hồ, Ngô Tuân, Thị Nhu
34 Ngô Phái sinh Thị Ngoéc, Thị Tiếu, Thị Tính, Thị Tình
34 Ngô Tuân sinh Thị Quý, Thị Hợi, T.Đa,Đức Miện (Ls.),Đức Phú,Đức Tân
35 Ngô Đức Phú sinh Thị Quỳnh Anh,Thị Thu Trang, và một trai.

32 Ngô Phùng Cử nhân, Giáo thụ Bắc Ninh, Toản tu Quốc sử quán,thăng
(1805-1863) Quang Lộc tự Thiếu khanh(tòng tứ phẩm)
sinh : -Ngô Huệ Liên,
-bà cụ Quản, Lạc thiện sinh Lê Văn Luyện ,
-bà cụ Nguỵ ,Xuân Viên sinh Ngụy Hiếu Tích,
-bà cụ Bang Kiều ,sinh Võ Liêm Sơn ,
-bà Tú Nguỵ Giang, sinh Ngô Bồi,Ngô Tương.

33 Ngô Huệ Liên (1840-1912),Tham tri Bộ Lễ -Tòng nhị phẩm
Có ba bà, bà cả sinh Ngô Đức Kế, Ngô Đức Thiệu, Ngô Đức Vóc
(chết trẻ).
Bà hai sinh Ngô Đức Diễn, Thị Ninh;bà thứ ba Nguyễn thị Viễn
sinh Thị Viện
34 Ngô Đức Kế (1878-1929)Tiến sỹ Mậu tuất 1901,Việt Nam Chí sỹ, hiệu Tập Xuyên.
sinh Ngô Đức Trì, Thị Mẫn, Thị Khiêm
35 Ngô Đức Trì (1902- 1941) Bà Lê Thị Sáu sinh Thị Hằng, Ngô Đức Thọ
36 Ngô Đức Thọ PGS-Ts,Bà Nguyễn Thị Thọ, sinh Thị Kim Chi, Thị Mai Hương,
Đức Anh.

34 Ngô Đức Thiệu sinh Thị Chương, Ngô Đức Đệ, Ngô Đức Tốn (vt)
35 Ngô Đức Đệ sinh 1905,bà người Điện bàn
sinh Đức Trung (Ls.),Đức Hiếu, Đức Hoà, Thị Thảo, Thị Việt Lan
36 Ngô Đức Hiếu sinh Đức Dũng, Thị Bích Ngọc

33 Ngô Bồi Đỗ đầu xứ ,sinh Ngô Thiện
34 Ngô Thiện sinh Ngô Cơ
35 Ngô Cơ sinh Ngô Mưu, Ngô Đức Hảo

36 Ngô Mưu sinh Đức Hùng, Đức Dũng, Thị Trâm, Thị Oanh
37 Ngô Đức Dũng Bà Nguyễn Thị Hạnh ,sinh Đức….

36 Ngô Đức Hảo Bà Trần Thị Hà, sinh Đức Thanh, Đức Tịnh, Thị Nga, Thị Tuyết,
Thị Xuyến, Thị Sáu
33 Ngô Tương sinh Ngô Ảnh, Ngô Xán
34 Ngô Ảnh sinh Thị Chắt, Đức Quảng, Đức Tri, Đức Đường, Đức Tân Ks
35 Ngô Đức Quảng đông con cháu

34 Ngô Xán sinh Ngô Chân, Ngô Quang, Ngô Toàn
35 Ngô Chân sinh Đức Sơn, Đức Hồng, Đức Phúc, Thị Lý, Thị Cẩm
36 Ngô Đức Hồng Bà Thị An, sinh Đức Mậm

Chi X Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều
Huyện Lệ Thủy,tỉnh Quảng Bình

28 Ngô Phúc Triều Khanh tương Hầu ,con trai thứ 10 Tào Quận công ,Trấn thủ bến
Trọng Đồng Hới ,vợ con ở lại không về, sinh ba con , con trưởng
trở về Trảo Nha, truyền đến đời 33 Ngô Phúc Duyện.
Dòng Trưởng Chi X

33 Ngô Phúc Duyện sinh Ngô Viến,
34 Ngô Viến có vợ và con trai nhưng đã mất vào những năm 80.
Dòng thứ 2 Chi X

Dòng Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều về sau theo đạo Thiên chúa, truyền đến đời 33 là
Ngô Đình Khả, làm Thượng thư Phụ Đạo Đại Thần triều Đồng Khánh nhà Nguyễn. Sau ngày vua
Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt , phong trào Cần Vương Phan đình Phùng tan rã, thực dân
Pháp đưa ra hai bản án đày vua Hàm Nghi và quật mộ Phan đình Phùng. Ngô Đình Khả
trong triều đình Nam triều không ký bản án đày vua, Nguyễn Hữu Bài không ký bản án
quật mộ. Đương thời có câu “Đày vua không Khả- quật mả không Bài”.

33 Ngô Đình Khả Thượng thư Phụ Đạo đại thần triều Đồng Khánh,Cố vấn của Vua
Thành Thái nhà Nguyễn,
Sinh Ngô Đình Khôi,Ngô Đình Thục ,Ngô Đình Diệm,
Ngô Đình Nhu,Ngô Đình Luyện ,Ngô Đình Cẩn.

34 Ngô Đình Khôi Tổng đốc,gia đình không rõ.
34 Ngô Đình Thục Tổng Giám mục,không vợ con,mất 1984 tại Mỹ.
34 Ngô Đình Diệm 1901-1963,Tốt nghiệp Trường Hậu bổ năm 1920 ,làm quan ở các tỉnh
miền Trung (Thứa Thiên,Quảng Trị,Ninh Thuận),1930 Tuần phủ
Bình Thuận.1933 Thượng thư Bộ lại trong Nội các Bảo Đại,Đại thần
Viện Cơ mật.Năm 1934 vì tranh chấp với Phạm Quỳnh nên từ chức
Thượng thư Bộ Lại,gia nhập phe Cường Để.
Tháng 7 năm1954 được Bảo Đại mời ra làm Thủ tướng thay Bửu Lộc.
Từ 1955 đến 1963 là Tổng thống Cộng hòa Việt nam.
Bị sát hại trong cuộc đảo chính quân sự ngày 1 tháng 11 năm 1963 tại Sài Gòn.
Không vợ con.
34 Ngô Đình Nhu (1911-1963)Cử nhân luật,bà Trần Lệ Xuân,
sinh Lệ Thủy(mất sớm),Đình Trác,
Đình Quỳnh,Lệ Quyên (Lệ Quyên lấy chồng người Italia,sinh con trai
Ngô Đình Sơn,hiện định cư tại Italia).
Bị sát hại trong cuộc đảo chính quân sự ngày 3 tháng 11 năm 1963 tại Sài Gòn.
35 Ngô Đình Trác Ks.sinh 1952,bà người Italia,sinh ba trai,một gái,định cư tại Italia.
35 Ngô Đình Quỳnh Cử nhân,đại diện thương mại một công ty Hoa Kỳ tại Brusselles (Bỉ).
Gia đình không rõ.
34 Ngô Đình Luyện mất 1990 tại Paris (Pháp),gia đình không rõ.
34 Ngô Đình Cẩn Bị Nguyễn Khánh xử bắn năm 1964,không vợ con.

Dòng thứ 3 Chi X
Dòng thứ 3 ở lại Lệ Thủy, truyền đến nay đời 36, trưởng phái là Ngô Thôn

36 Ngô Thôn sinh Ngô Khiêm là trưởng phái hiện nay ở Đội 4 hợp tác xã
Phổ Trạch xã Mỹ Thủy huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, cả phái có
trên 20 hộ .
Chưa có thế thứ.
NHÂN VẬT
Ngô Tử Án
Đại thần Tiền Lê,
Con Ngô Xương Sắc, cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều, quê quán Châu Ái,ngày sinh ngày mất không rõ, là tiên tổ 9 đời Hưng Quốc công Ngô Kinh.Ông là Đại thần nhà Tiền Lê,làm Châu mục dưới thời nhà Lý.
Vua Lê Đại Hành chuẩn bị cho cuộc hành quân đánh Chiêm Thành,thấy ông là người có tài về giao thông đường thuỷ,uỷ thác cho ông cầm ba vạn quân đào khúc sông nối liền sông Đáy với sông Hoát,để tránh cửa Thần Phù thường hay có bão tố nguy hiểm.Nạo vét khúc sông nối liền Yên Định với Tĩnh Gia, sông Kênh Son, Kênh Sắt (tục gọi là Kênh nhà Lê) tiếp đến khúc sông ở Hưng Nguyên, thành đường sông nối liền Hoa Lư với cửa biển Nam Giới (tức cửa Sót ở tỉnh Hà Tĩnh).
Lại tiếp lệnh mở con đường bộ từ cửa biển Nam Giới, vượt qua giải Hoành Sơn (Đèo Ngang) vào tận đất Chiêm Thành, tạo thành con đương thuỷ bộ hành quân bình Chiêm Thành.Di tích nạo vét Kênh Son, Kênh Sắt còn lưu lại ngày nay, là một ghế đá trong hang đá ở địa phận xã Quỳnh Lộc huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, gần bờ kênh, chổ tựa lưng có khắc ba chữ “Thuỷ thạch tiên”, trên vách đá có đề bài thơ,trong kháng chiến chống Mỹ, bị bom phá và vì khai thác đá, nên không tìm ra nữa.Các cụ già địa phương vẫn còn nhớ rõ là di tích của cụ Ngô Tử Án.
Sinh Ngô Tử Uy.

Ngô Thế Bang (…-1546)
Thái Bảo Dực Quốc công,
Thụy Chân Tâm,con trai Thanh Quốc Công Ngô Khế.
Tước phong trước niên hiệu Quang Thiệu triều Lê Chiêu Tông (trước năm 1516): Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự, Phụ quốc Thượng Trụ quốc,Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự,Thái Phó, gia Thái Bảo Dực Quốc công,tứ thụy Hiền Đức Thượng sỹ.
Mất 24 tháng 10 năm Bính Ngọ 1546,mộ táng tại xứ Mả Xám,làng Thung Thượng.
Đền thờ sắc phong Dực bảo Trung hưng Đoan Túc Tôn thần.
Họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông cùng các anh Ngô Văn Bính,Ngô Khắc Cung dẫn quân bản bộ về Thanh Hóa, chiếm cứ vùng Yên Định,cùng Lê Ý dấy nghĩa phù Lê. Lê Ý thất bại,ông gia nhập vào quân Nguyễn Kim ở Ai Lao,làm Đô tướng về đánh chiếm huyện Lôi Dương, Ông là người đã có dự kiến cử Ngô Lan đưa Hoàng tử Lê Duy Ninh sang dấu ở đất Lào,phòng sau này có người nối ngôi chính thống nhà Lê.
Bà Chính thất Quốc Phu nhân Lê Thị Ngọc Quyền hiệu Từ hòa Phu nhân,bà kế thất Nguyễn Thị Từ Ý,hiệu Ôn hòa Phu nhân.
Sinh:
Vũ Quận công Ngô Bạt tự Cảnh Cao,
Diễn giang Hầu Ngô Tùng,
Tây giang Hầu Ngô Chi tự Bình.
Ngô Phúc Bẩm
Họ Ngô Tam Đa huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh ,con trưởng Ngô Phúc Tông dòng Vỵ Quận công, đời thứ 31,họ Ngô Trảo Nha Thạch Hà,dòng Ngô Nước,có tám anh em trai và ba em gái.
Ngô Phúc Tông là con thứ Đô Chỉ huy sứ Ngô Phúc Cẩm,bốn anh em đều tước Hầu.
Ông Ngô Phúc Bẩm có ba con trai, con trưởng ở Tam Đa,con thứ Ngô Khải về ở Lộc Nguyên,thành Thuỷ tổ họ An Lộc huyện Can Lộc ngày nay.

Ngô Đức Bình (1824-1879)
Hòang giáp,
Có tên là Ngô Đức Tư lúc đi thi.Con trai Ngô Đức Hồng Cử nhân Tri huỵện Thọ Chân thuộc phái 4 chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha.Học giỏi nhưng thi hương mấy khóa không đỗ, ở nhà dạy học,tham gia “Bình Tây sát tả”. Năm 1865 triều đình vua Tự Đức mở Ân khoa Nhã sỹ, ai chưa đỗ cử nhân thi hương cũng được dự thí. Ông ứng thí thi hội đỗ, vào thi đình trúng Đệ nhị giáp Đồng tiến sỹ xuất thân ( Hoàng giáp ).Khoa Nhã sỹ này lấy năm người đỗ Nhã sỹ và Đồng Nhã sỹ xuất thân..
Lúc bấy giờ triều đình đang gặp nhiều khó khăn, khắp nơi mất mùa đói kém, dân nghèo nổi dậy tứ tung, ngoài thì quân Pháp vừa chiếm xong Đà Nẵng , đòi nhiều nhượng bộ mới. Đầu đề bài thi chính hỏi : Tình hình như thế nên hoà hay nên đánh. Bài thi của ông xoay quanh bốn chữ “Dương hoà Nhi chiến “(Giả hoà mà đánh ) hợp với chủ trương của đa số trong triều đình bấy giờ nên được đỗ cao. Khi vào diện kiến, vua Tự Đức thấy ông đã nhiều tuổi (lúc này ông đã 42 tuổi) lại có tên là Tư, bèn ra câu đối :
Thập khẩu tâm tư, tư thân tư gia tư phụ mẫu.
Ông ứng khẩu đối :
Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên tạ địa tạ quân vương.
Ý và nghĩa : Chữ thập, chữ khẩu, chữ tâm ba chữ ghép lại thành chữ tư,nghía là lo nhớ,
lo mình, lo nhà, lo cha mẹ.
Vế đối : Chữ thốn, chữ thân, chữ ngôn ghép ba chữ lại thành chữ tạ, nghĩa là tạ ơn,
tạ trời, tạ đất, tạ nhà vua.
Vua Tự Đức phê vào quyển bốn chữ ” Bác nhã lão thành “.
Ông làm quan Tế tửu Quốc tử giám mấy năm,sau đi làm Án sát tỉnh Quảng Bình. Năm Tự Đức kỷ mão1879,ông làm Phó chủ khảo trường thi hương Nam Định, khi trở về Quảng Bình nhiễm bệnh từ trần tại nhiệm sở. Thi hài được an táng tại quê nhà Trảo Nha.
Ông có bốn bà,sinh bảy con trai, bốn con gái, con cháu nội ngoại trai gái ngày nay có gần ngàn, có mấy chục Cử nhân, Kỹ sư, Bác sĩ, Giáo sư,Tiến sĩ. Đích Tằng tôn là Ngô Đức Mậu,nguyên Phó Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam.

Ngô Phúc Bình
Dật võ Hầu,
Con trưởng Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị, cháu nội Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,vào đời 29 chi 9 dòng Ngô Nước Trảo Nha, làm tướng cầm quân, đến thời Trịnh Doanh về nghỉ nghiên cứu đông y, trồng vườn thuốc đặt tên là Lạc thảo viên. Ông là thân sinh Tiến sĩ Khiêm Quận công Ngô Phúc Lâm,Tư lộc Hầu Ngô Phúc Sùng.

Ngô Phúc Bình
Thuỷ tổ họ Ngô Thụy Phương huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây (xưa là huyện Yên Sơn) gốc Trảo Nha dòng Ngô Nước, thiên cư sau ngày quân Tây Sơn vào Thăng Long,sau đổi sang họ Lê Ngô,sinh Lê Ngô Duệ là thân sinh Lê Ngô Cát.

Ngô Đăng Bính
Thuỷ tổ họ Ngô Loan Dã, huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, con thứ Ngô Đăng Khản họ Ngô Hà Linh, cháu nội Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu họ Trảo Nha, thiên cư về Loan Dã vào đời thứ 27.

Ngô Văn Bính (1473-1540 )
Thái Bảo Thuỵ Quận công,
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, quê quán xã Đồng Phang huyện Yên Định (nay là xã Định Hòa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).
Đại thần thời Lê Sơ, đề xướng công cuộc phù Lê diệt Mạc.Thời Lê sơ được phong Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần, Lưu thủ Đông Kinh, kiêm Đề lĩnh Tứ thành Thuỵ Quận công.
Lê Trang Tông lên ngôi (1533),phong Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự Thái Bảo Thuỵ Quận công, tứ thuỵ Trung Nghị Thượng sỹ.
Ông mất ngày 27 tháng 7 năm 1540,hưởng thọ 68 tuổi,mộ táng trên cồn Phác Cá.
Bà Lê Thị Hậu hiệu Từ Ân Quận Phu nhân,mộ táng ở xứ Mả Xý, bà thứ họ Nguyễn, bà thứ ba người Lào.
Sinh năm con trai:
Diễn đức Hầu Ngô Chiểu,
Thanh Quận công Ngô Khê,
An đức Hầu Ngô Thái,
Hoàng giáp Ngô Bật Lạng,
Vĩnh trung Hầu Ngô Hoán,
ngày nay thành nhiều dòng họ ở nhiều tỉnh.
Ngày đầu chuẩn bị công cuộc phò Lê diệt Mạc, trong buổi chuyện trò với Nguyễn Kim ông đã tỏ ra không tin lòng dạ Nguyễn Kim, đưa ra câu chuyện mộng Thiên Đình ” Diệt Mạc này sinh Mạc khác thì sao?”.
Con trai là Ngô Bật Lạng phải chạy trốn ra đất Mạc vì bị hiềm nghi ngoại thích, sau thi đỗ Hội nguyên (Hoàng giáp 1550) làm quan với nhà Mạc.

Ngô Văn Cang
Thuỷ tổ họ Ngô Kế Xuyên huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, con trai trưởng Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu, cháu nội Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, vào ở đây trong thời chiến tranh Trịnh Nguyễn.

Ngô Tử Canh
Đại thần nhà Tiền Lê,
Con trai Ngô Xương Sắc, cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều.
Thời Lê Đại Hành, cùng Từ Mục đi sứ Chiêm Thành bị giam giữ lại mấy năm, sau ngày Lê Đại Hành chiến thắng Chiêm Thành (năm 892) mới được trở về
Có nhiều công giúp nhà Tiền Lê xây dựng nền độc lập mới và mở mang văn hoá. Sau khi chết được lập đền thờ. Dòng dõi thất truyền.

Lê Ngô Cát
Họ Ngô Thụy Phương huyện Chương Mỹ Hà Tây.
Cử nhân mậu thân 1848,Án sát.
Vốn là họ Ngô đổi làm họ Lê Ngô, dòng Vỵ phái Hầu con Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ,vào đời 32.Cha là Lê Ngô Duệ, đỗ cử nhân.
Có bốn con trai và một con gái.

Ngô Phúc Cẩm
Thuận lộc Hầu,
Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ thời Lê trung hưng.
Con trai Diên Quận công,cháu Vỵ Quận công dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,vào đời 29.
Sinh Ngô Phúc Lới,Ngô Phúc Tổng, con cháu thiên cư về xã Quang Lộc cùng huyện, một chi về thôn Yên Lai huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa.
Ngô Phúc Chánh
Lãng phương Hầu,
Con Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Đẩu,cháu đích tôn Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,vào đời 31 họ Ngô Trảo Nha tỉnh Hà Tĩnh.
Quả cảm Tướng quân(Chánh Thất phẩm) Chánh Vệ úy.
Bà Mai Thị Vượng, sinh :
Ngô Phúc Phương Đại tư đồ Hoành Quận công ,
Ngô Phúc Bích,
Ngô Phúc Điền.

Ngô Chiểu
Diễn đức Hầu,
Con trưởng Ngô Phúc Trường, cháu nội Khiêm Quận công Ngô Phúc Lâm, đời thứ 32 chi 9,họ Ngô Trao nha Hà Tĩnh, làm Tri huyện huyện Gia Bình.

Vỵ Quận công
(Không rõ tên), con thứ Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh và bà Lê Thị Đệ .
Bà là Quận chúa họ Trịnh, sinh hai con trai:
Ngô Phúc Diên Diên Quận công,Thủy Tổ họ Ngô Tam Đa nay ở xã Quang Lộc huyện Can Lộc và
Đề đốc Lý Quận công (thất truyền).
Dòng Diên Quận công phân chi họ Ngô An Lộc và họ Ngô Yên Lai.

Ngô Phúc Cơ
Thủy Tổ dòng họ Ngô Thì,Ngô Gia Văn phái.Nguyên có tên là Ngô Sử Hậu (Nậu).
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,sau vụ án Lệ Chi Viên, là một trong sáu người con Ngô Khế phải đổi tên đi lánh ẩn,mà phả cũ gọi là “Cư biệt quán”.Ông về làng Tó xã Tả Thanh Oai ,cho đến nay đã gần 20 đời.

Ngô Khắc Cung (1452-1541)
Thái Phó Nam Quận công,
Con Thái Úy Thanh Quốc công Ngô Khế, quê Đồng Phang huyện Yên Định ( nay là xã Định Hóa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).
Ông sinh năm Nhâm Thân 1452, mất ngày 10 tháng giêng năm Tân Sửu 1541.
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu tham dự triều chính,gia thụ Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc Đại phu ,Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự, Thượng Trụ quốc,gia Thượng Trí,Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,Thái Phó Nam Quận công,thuỵ Sùng Nghị Thượng sỹ.
Làm tướng thời Lê sơ,khi Mạc cướp ngôi nhà Lê, anh em ông đưa quân bản bộ về quê Yên Định lo việc phù Lê diệt Mạc cùng Lê Ý được vài năm. Lê Ý thất bại, anh em ông cùng Nguyễn Kim xây dựng lực lượng phù Lê, sau ngày chiếm lại được huyện Lôi Dương,ông bị bệnh từ trần ngày 10 tháng giêng năm Tân Sửu 1541,thọ 90 tuổi.
Ông là người trung dũng trụ cột của vương triều, trong thì phò thiếu chúa, ngoài lo việc quân cơ, công nghiệp trung hưng anh em ông là người xướng lên trước.
Bà Thái Bình Trường quốc Công chúa Lê Thị Ngọc Phiến, hiệu Bà Dịch Quận Phu nhân. Bà người thôn Dựng Tú, con gái Sấm thọ Hầu Lê Đài (Lê Hùynh), mất ngày 24 tháng 9, mộ ở tang Đào Ao xã Sinh Dược huyện Gia Viễn, gần sơn lăng, có đền thờ trên đỉnh núi (do họ ngoại phụng tự) .
Sinh : Tham đốc Triều an Hầu Ngô Diệp,
Ngô Thị Ngọc Phỉ lấy Dũng Quận công,
Ngô Thị Ngọc Phương lấy Uy Quận công.

Ngô Thị Ngọc Dao (1420 -1496)
Quang thục Hoàng Thái Hậu,
Con gái Chương Khánh Công Ngô Từ, đời thứ 20, Tiệp dư,chị là Ngô Thị Ngọc Thung Cung phi,cả hai đều là vợ Lê Thái Tông.
Vào cung năm 1436, sinh Công chúa Hương Long (chết trẻ) và Lê Tư Thành tức Vua Lê Thánh Tông.
Kỵ ngày 26-3 ( nhuận ), mộ táng ở xã Phụng Công huyện Đức Quang.
Lê Thánh Tông dựng Thuần Mẫu đường thờ tiên tổ bên ngọai (họ Ngô), lại dựng Điện Thừa Hoa để Hoàng Thái Hậu thay áo,sau trở thành nơi thờ Bà, hàng năm hương khói.
Ngày nay đã được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa (tại xã Định Hòa huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa ).

Ngô Đình Diệm (1901-1963)
Thượng thư,
Quê xã Đại Phong huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình.
Con trai Thượng thư Ngô Đình Khả một Đại thần các triều Đồng Khánh,Thành Thái,Duy Tân nhà Nguyễn.
Ngô Đình Khả vốn dòng họ Ngô gốc Trảo Nha (chi 10).Tiên tổ là Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều,con trai thứ 10 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, trấn thủ Bến Trọng ( Thời Lê Trịnh ) vợ con ở lại không về, lập nghiệp ở xã Phổ Trạch huyện Lệ Thủy. Bố Ngô Đình Khả theo Đạo thiên chúa, gặp lúc phong trào “Bình Tây sát tả” Thời vua Tự Đức, ở Phổ Trạch ít người công giáo, sợ bị tàn sát, ông chạy vào xã Đại Phong,nơi có cơ sở công giáo mạnh để được an toàn.
Thuở nhỏ bố làm quan, ông học ở Huế, tốt nghiệp Trường Hậu bổ năm 1920.Ra làm quan ở các tỉnh miền Trung (1923Tri huyện Quảng Điền Thừa Thiên,Tri phủ Hải Lăng Quảng Trị,Ninh Thuận). Năm 1930 lên đến chức Tuần phủ Bình Thuận (Tòng Nhị phẩm). Năm 1932 được cử làm Thượng thư Bộ lại trong Nội các Bảo Đại,Đại thần Viện Cơ mật. Năm 1934 từ chức vì tranh chấp với Phạm Quỳnh và mâu thuẫn với Pháp, gia nhập phe Cường Để. Sau cách mạng tháng 8 ở Đà Lạt cùng em trai là Ngô Đình Nhu. Năm 1950 sang Mỹ. Tháng 7 năm 1954 được Bảo Đại mời về làm Thủ tướng,thay Bửu Lộc. Năm 1955 lên làm Tổng thống Cộng hòa Việt Nam (miền nam Việt Nam).
Ngô Đình Diệm cùng Ngô Đình Nhu bị các thế lực khác do Mỹ dàn dựng chỉ đạo giết chết trong cuộc đảo chính quân sự ngày 1-11-1963.
Mộ phần của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu ở cạnh nhau tại nghĩa trang Lái Thiêu (nghĩa trang nhân dân số 6),không có tên mà chỉ có tên Thánh,và Huynh chỉ Ngô Đình Diệm,Đệ chỉ Ngô Đình Nhu.Mộ phần thân mẫu họ và Ngô Đình Cẩn cũng gần đó.
Ngô Đình Diệm không có vợ con.
Ngô Phúc Diên
Diên Quận công,
Con trai Vỵ Quận công,cháu Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh,đời thứ 28 dòng Ngô Nước Trảo Nha.
Bà là Quận chúa họ Trịnh,sinh :
Ngô Phúc Cẩm Thuận lộc Hầu,
Ngô Phúc Thuận Phó Trung úy Chân Lộc Hầu ,và
Tại bá Hầu Chánh Đội trưởng(không rõ tên).
Thủy Tổ dòng họ Tam Đa, An Lộc, Yên Lai.

Ngô Đức Diễn ( 1898-…)
Con trai Ngô Huệ Liên, em Tiến sỹ Ngô Đức Kế, dòng Ngô Nước Trảo Nha, đời thứ 34. Đỗ Diplome, dạy học ở trường Quốc học Vinh Nghệ An, đồng sáng lập viên Hội Phục Việt,sau đổi Tân Việt cách mệnh Đảng,rồi đổi Đảng Tân Việt,tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương,là Ủy viên Thường vụ, năm 1929 bị Pháp bắt tại Vinh, đưa vào giam ở nhà lao Phủ Thừa (Huế), bị tra tấn, lâm bệnh chết trong nhà tù ,chưa có vợ con.

Ngô Phúc Diễn
Diễn phái Bá,
Con trai Phái trung Hầu, cháu nội Thuyên phái Hầu, đời thứ 31 phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha, sinh Ngô Đức Hồng Cử nhân,có cháu là Hoàng giáp Ngô Đức Bình.

Ngô Phúc Diễn (1770-1838)
Diễn võ Bá,
Tự Pháp Nghĩa,con trai thứ 5 Hòanh Quận công Ngô Phúc Phương và bà Trương Thị
Từ Thiên Á Quận quân,tiểu phái 3 phái trưởng chi 5 đời 33 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh
dòng Ngô Nước, Thủy tổ phái nội thành Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Bốn,con gái Đại vương Nguyễn lang Linh Đường,
Sinh Ngô Phan,Ngô Đào,Ngô Dương,Ngô Uông(vt),Thị Lê,Thị Trần,Thị Ngoan.

Ngô Xuân Diệu (1916-1985)
Nhà thơ,
Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 (ngày 29 tháng Giêng Bính Thìn) ,tại Vạn Gò Bồi,xã Tùng Giản,huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định.Cha là Ngô Xuân Thụ đỗ Tú tài kép Hán học vào làm thầy dạy học ở Bình Định kết duyên với bà Nguyễn Thị Hiệp.
Quê ở Trảo Nha Thạch Hà/nay là huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Là nhà thơ,nhà lý luận và phê bình,con Tú tài Ngô Xuân Thụ, cháu nội Tú tài Ngô Phúc Bổn,vào đời 39, chi 5 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước.Đỗ Tham tá thương chính,từ 1940-1943 làm tại Sở Đoan Mỹ Tho(Tiền Giang)
Sau cách mạng tháng 8 là Đại biểu Quốc hội khoá 1 của tỉnh Hải Dương ( 1946-1960 ),UVBCH Hội Văn Nghệ Việt Nam 1948,UV BCH Hội nhà văn Việt Nam khóa I,II,III.,Viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm nghệ thuật CHDC Đức 1983.
Mất ngày 18-12-1985, không có vợ con.
Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996.
Tác phẩm: Thơ,thơ 1938
Gửi hương cho gió1945
Sáng 1953
Mẹ con 1954
Riêng chung 1960
Tôi giàu đôi mắt 1970
Thanh ca 1980.
v.vv…
Truyện ngắn Phấn thông vàng 1939
Nhiều bút ký,tiểu luận phê bình và dịch thơ nhiều nhà thơ nổi tiếng trên thế giới.

Ngô Nhật Dụ
Đại nho gia,
(Khoảng thế kỷ thứ 8, thời thuộc Đường),con Triệu tổ Ngô Nhật Đại, Tằng tổ Ngô Vương Quyền.
Đại nho gia đầu tiên của họ Ngô Việt Nam, làm Liêu tá trong Phủ Đô hộ thời thuộc Đường.

Lê Ngô Duệ
Họ Lê Ngô Thụy Phương, huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây. Nguyên họ Ngô dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,cháu Vỵ phái Hầu,thời Tây Sơn ra bắc, đổi họ Lê lánh nạn về làng Lang Điền huyện Yên Sơn trấn Sơn Nam,nay là xã Thụy Phương huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây ,thuộc phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha,vào đời 31,sinh Cử nhân Lê Ngô Cát.

Ngô Nhật Đại
Triệu Tổ họ Ngô Việt Nam.
Tiên tổ các đời trước phả cũ không ghi chép,có thể là vào thời kỳ chưa có phả.
Quán Ái Châu (vùng thuộc Thanh Hóa ngày nay), sống vào thời cuối Đường (Bắc thuộc thế kỷ thứ 8).Sinh con trai Ngô Nhật Dụ làm Liêu tá trong phủ Đô hộ, Cao Tổ của Ngô Vương Quyền.
Phả cũ chép:”Quán Ái Châu dĩ nông nghiệp khởi, sinh Ngô Nhật Dụ”.Con cháu dòng dõi đến nay (cuối thế kỷ 20) gần 50 thế hệ,trên 1300 năm, gồm hàng triệu người, hơn hai trăm chi họ lớn nhỏ cư trú trên khắp mọi miền đất nước Việt Nam, ở nước ngoài cũng có hàng vạn người.
Có một thuyết nói rằng: Cụ Ngô Nhật Đại vốn là một Hào trưởng vùng Cửa Sót, châu Phúc Lộc thời thuộc Đường, cùng quê với Mai Thúc Loan, giúp Mai Thúc Loan khởi nghĩa.Sau khi thất bại,Mai Thúc Loan rút vào động Khuất Liêu,Ngô Nhật Đại chạy ra châu Ái ẩn náu,sinh cơ lập nghiệp ở đó.

Ngô Đạm (1880-1953)
Họ Ngô Kế Xuyên xã Bình Trung huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam, vào đời thứ 42. Có tên Nghi Ngô. Con trai Ngô Văn Toản, dòng Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu thuộc chi VII ,gốc Trảo Nha Thạch Hà,tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1897 tham gia phong trào Đông du. Đỗ Tú tài khoa 1905. Năm 1905 tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa thục,1907 tham gia phong trào xin sưu ở Trung kỳ bị bắt,bị kết án tám tháng tù.Năm 1917 tham gia phong trào Duy tân do cụ Thái Phiên vận động, bị thực dân bắt lần thứ 2. Năm 1928-1938 ứng cử Hội đồng quản hạt Quảng Nam,Nghị viên Nghị viện Trung kỳ trong nhóm Phan Thanh chống thuế tỷ lệ, đòi ân xá chính trị phạm, thi hành luật lao động.
Sau Cách mạng tháng 8 làm Hội trưởng Liên Việt huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam.
Sinh Ngô Hoan.

Ngô Phúc Đang
Hàn Quận công,
Đồn trưởng đồn Bố Chính, mất tại nhiệm sở,con trai thứ hai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, Tiên tổ Chi II Thổ Sơn xã Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh (vào đời thứ 28).
Được phong tước Quận công năm Vĩnh Trị thứ 3(1678), phong cùng ngày với Đằng Quận công Ngô Phúc Hạp, Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ (ba anh em trai).
Sinh: Huân cơ Hầu Ngô Phúc Huân,
Trạc võ Hầu Ngô Phúc Kỳ,
Thuật võ Hầu (không rõ tên).

Ngô Phúc Đẩu 1668-1718
Nhuệ võ Hầu,
Con trưởng Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ vào đời 32, dòng trưởng Chi 5 họ Ngô Trảo Nha Thạch Hà ,dòng Ngô Nước.
Thân sinh Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh,ông nội Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương,

Ngô Phúc Điền
Thuỷ tổ họ Ngô Phú Điền xã Hưng Phú huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, con thứ Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hà,cháu Tổng binh Đồng tri Ngô Phúc Hải,dòng Ngô Nước Trảo Nha, ở quê mẹ ở Phú Điền ( vào đời thứ 24 ).

Ngô Phúc Điền
Diên Quận công,
Con Vỵ Quận công dòng Ngô Nước Trảo Nha ( đời thứ 28 ), con cháu thiên cư về làng Tam Đa, nay là xã An Lộc huyện Can Lộc,Thuỷ tổ họ Ngô Tam Đa, phân chi về An Lộc huyện Can Lộc Hà Tĩnh và Yên Lai huyện Nông Cống Thanh Hóa.

Ngô Phúc Điền
Kiêm lộc Hầu,
Cẩm y vệ Thự vệ,Chánh cai đội.
Con trai thứ sáu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn ( đời thứ 28 ), Thuỷ tổ họ Ngô Văn Cử ( Chi 6 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh ), xã Xuân Lộc huyện Can Lộc Hà Tĩnh.
Sinh Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm,Thụy tường Hầu Ngô Phúc Giang.

Ngô Phúc Điền
Chi 5 họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh, vào đời thứ 32, con Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh,dòng Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ, thiên cư trở thành Thuỷ tổ họ Ngô làng Nguyệt Ao ( Lai Thạch ).

Ngô Độ
Tùng khê Hầu,
Tên cũ là Ngô Hữu Phái, có bản chép là Ngô Thế Thái.Thụy Trung Mẫn,Thủy Tổ họ Ngô An Mô huyện Triệu Hải tỉnh Quảng Trị,.
Con thứ 10 Thanh Quốc công Ngô Khế. Năm 1558 theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, đóng quân ở Ái Tử, về qua sông Thạch Hãn sinh cơ lập nghiệp, thành dòng họ Ngô An Mô, Tước Quận Công của Vua Lê phong trước khi đi theo giúp Nguyễn Hoàng.
Sinh :Ngô Văn Bài, Ngô Văn Sỹ.
Sau thành bốn chi :
Ngô Văn Cảnh-Ngô Văn Minh-Ngô Văn Lương-Ngô Văn Dũng.
Ngô Thị Ngọc Lâm là con gái dòng họ An Mô.
Có đền thờ,sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù Tôn thần.

Ngô Phúc Giám
Khoát võ Hầu,
Con thứ hai Hoành Quận công Ngô Phúc Phương, họ Trảo Nha thiên cư Yên Viên huyện
Gia Lâm Hà Nội ( quê vợ họ Đinh ) thành một phái của Chi 5 Trảo Nha dòng Ngô Nước.
Bà họ Đinh,hiệu Từ Cung,sinh:Ngô Phúc Long (tức Ông Cả Hiệu),Cụ Trung,Cụ Trùm,
Ngô Phúc Tấn (tức Ông Tú Lương),Cụ Tuần ở Vạn Phúc,Cụ Dơi ở Thanh Trì.

Ngô Phúc Giang
Thuỵ tường Hầu,
Con Kiêm lộc Hầu Ngô Phúc Điền, vào đời 29 chi 6 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước,
cháu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn.
Sinh Chính đạo Công (thất truyền), Pháp minh Công Ngô Phúc Minh.

Ngô Phúc Hải
Tổng binh Đồng tri,
Họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước.Tổng binh Đồng tri ,Trấn thủ trấn Thái Nguyên, con trai Quản Lĩnh Công Ngô Nước họ Ngô Trảo Nha Hà Tĩnh, vào đời 22.Có sức khoẻ hơn người, 13 tuổi đã bắt được trộm cướp, hơn 20 tuổi đã đi Trấn thủ Thái Nguyên thời Lê sơ, khi chết được thiên táng, mộ ở chân rú Rum ( Mã Yên Sơn )cũng gọi là rú Thành, ở huyện Hưng Nguyên Nghệ An, đến nay vẫn còn. Con trai là Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hà, cháu là Ngô Phúc Thanh Vĩnh lộc Hầu Trấn thủ trấn Nghệ An và Ngô Phúc Điền Thủy tổ họ Ngô Phú Điền Hưng Nguyên Nghệ An.

Ngô Phúc Hạp
Đằng Quận công,
Con trai thứ ba Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,vào đời 28 họ họ Ngô Trảo Nha dòng
Ngô Nước.
Sau ngày Tào Quận công từ trần(1652),ông là Chân kỳ Hầu mới 25 tuổi,là tướng trẻ có tài,
được Chúa Trịnh giao cầm quân vào đất Chiêm Thành cũ,đánh sau lưng quân Chúa
Nguyễn.Đi quá sâu vào Châu Đốc,vợ con Ông ở lại đó không trở về quê củ Trảo Nha.
Nay thành Thủy tổ họ Ngô ở ấp Châu thới 2,Thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang.

Ngô Phúc Hiển
Tuần phủ Bắc Ninh.
Họ Ngô Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội.
Con trai Ngô Phúc Thước Thiên kỵ Thị vệ Thước võ Bá, cuối Lê trung hưng về ở làng Quan Thổ xã Thổ Quan, nay là phường Thổ Quan, quận Đống Đa Hà Nội.
Đời 32 dòng Ngô Nước Trảo Nha.

Ngô Cảnh Hoàn (1720-1786)
Thu lĩnh Hầu,
Thiên tướng quân thủy Quản lãnh đội Tiền trạch thời Lê Hiển Tôn, tử trận cùng hai con trai trên sông Hồng ở bến Thúy Ái trong khi chỉ huy chiến thuyền ngăn cuộc tiến quân của Nguyễn Huệ vào Thăng Long ( 1786 ). Vợ ba là bà Phan Thị Thuấn tử tiết theo chồng ,được phong Liệt nữ và biển vàng “Trung Liệt Nhất Gia “, có đền thờ ở Thúy Ái Hà Nội và Trảo Nha ,nay thuộc thị trấn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Ông là con trai Cảnh Quận công, cháu Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh.
Ông có ba bà.Bà thứ ba là Liệt nữ Phan Thị Thuấn.
Con trai là Trâm ngọc Hầu Ngô Lượng Lang,những người con trai khác đều chết trận.

Ngô Phúc Hoành
Hoành phố Hầu,
Con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu , vào đời thứ 26 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước , có nhiều con phân tán trở thành thuỷ tổ nhiều chi họ, dòng trưởng ở xã Chỉ Châu, nay là xã Thạch Trị huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Phúc Hộ (1634-1704)
Phượng Quận công,Đô đốc
Con trai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, tiên tổ chi 5 ở Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, phân chi Hà Nội, Hà Tây, Quảng Nam, Nghệ An, Phú Yên.
Năm Vĩnh Trị thứ 3 đời Lê Hy Tôn năm 1678, ba anh em được phong tước Quận công cùng ngày.
Đạo sắc phong nguyên văn chữ Hán, tạm dịch như sau:
“Thuận thiên thừa vận,
Hoàng thượng xuống chế rằng :
Trời sinh anh tài hào kiệt, cốt để phù vận nước,
Vua hiền cầm cân khen thưởng , cốt để chính công lao
Việc tốt nêu gương toả ra khắp cõi
Vũ huân tướng quân thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Phượng lân Hầu Ngô Phúc Hộ, trong ngạch bộ binh, kẻ sỹ vuốt nanh, người tài lỗi lạc,
Gặp lúc Càn Thống tiếm xưng vua, Tiên khảo nhà ngươi quyết tâm đuổi bắt, vừa ngày tang tóc sinh nội biến, Tiên khảo nhà ngươi phò giá tiến công,
Tướng môn tất sinh tướng tài, Võ công liền thăng võ trật
Luyện gang thép vượt khó lập công to,
Cầm cán cân đắn đo sao cho đúng
Vậy cứ công mà thăng quan tước, lấy đó mà sáng tỏ thù lao.
Hiến thân cho nước, chí trung, để dốc lòng làm tròn nghiệp lớn.
Cha ngươi trước đã có công tiềm để, nhà ngươi lại đã phụng thị lâu ngày, đã cầm quân đánh dẹp, nhiều lần lập công to,
Phụng Nguyên soái điển quốc chính,
Cung phụng Đại nguyên soái Chưởng quốc chính, Thượng sư đại phụ Minh khang Thái vương xuống chỉ ra ân, đã được đình thần kiểm nghị, xứng đáng phong tước Quận công,được là Phụ quốc Thượng tướng quân phụ quốc thượng trật Phượng Quận công,
Khâm thử!
Vĩnh Trị năm thứ 3 tháng 11 ngày 19 (1678)”
Ông sinh các con trai:
Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ (phái trưởng),
Tuấn đức Hầu (phái 2)ở phủ Quảng Trạch Quảng Bình,
Vỵ phái Hầu (phái 3) ở huyện Lang Điền, nay là xã Thụy Phương huyện Chương Mỹ Hà Tây,
Thuyên phái Hầu (phái 4) ở Trảo Nha,
Suyên cung Hầu thất truyền.

Ngô Hồng
Phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng Ngô Nước. Con trai Diễn phái Bá, đỗ Cử nhân làm Tri huyện huyện Thọ Chân dưới triều Thiệu Trị(1841-1847),đánh mất ấn, bị cách chức về làng dạy học, sinh Ngô Đức Bình đỗ Hoàng giáp.

Ngô Phúc Huân
Huân cơ Hầu,
Con trưởng Hàn Quận công Ngô Phúc Đang,cháu Thái bảo Tào Quận công
Ngô Phúc Vạn,đời 29 dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh,sinh Long võ Hầu,
Long võ Hầu sinh Thanh vân Hầu,Thanh vân Hầu sinh Đoan thọ Bá.(Đều không rõ tên)

Ngô Cảnh Hựu ( 1520-1596)
Thái bảo,Thế Quận công,
Có tên là Ngô Phúc Trừng (đổi tên vì kỵ huý vua Lê Lê Duy Hữu ), tự Minh Trứ, thuỵ Đôn Hậu phủ quân, con trai Vĩnh lộc Hầu Ngô Phúc Thanh, dòng Ngô Nước Trảo Nha, đời thứ 25. Xếp Nguyên công trong công cuộc Trung hưng nhà Lê .Được mở Quân doanh Bật nghĩa, vào hàng “Luỹ đại công thần dữ quốc đồng hưu”.
Năm quý tỵ 1593 có công trong lúc thu phục Kinh thành, thăng Thiếu bảo, phong Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc. Sau khi Kinh thành đã ổn định, Chúa sai bách quan rước xa giá vua Lê về ngự triều, đại xá thiên hạ, luận công khen thưởng, ông được thăng Thiếu bảo, dự vào hàng 11 người có công đầu,
Phụ Quốc công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thiếu bảo Thế Quận công,gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc Thượng tướng quân,Bật nghĩa Doanh .
Có ba bà:Từ Quang,Diệu Hằng,Trịnh Thị Diệu Minh.
Sinh: Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh,
Ngô Thị Ngọc Nguyên Thứ phi Bình An Vương Trịnh Tùng,
Hòanh phố Hầu Ngô Phúc Hòanh họ Chỉ Châu,
Khang trạch Hầu Ngô Phúc Mai họ Cổ Bái,
Câu kê Hầu họ Thạch Mỹ,
Ngô Đăng Khản họ Hà Linh,
Ngô thuận Tâm họ Trần Vỵ Xuyên.
Trên 70 tuổi, năm 1594, Ông xin về trí sĩ.
Ông mất ngày 25 tháng 5 năm bính thân 1596 thọ 77 tuổi,mộ ở thôn Chi lễ xã Thái Hà.

Ngô Đức Kế (1878-1929)
Tiến sỹ,
Việt Nam Chí sỹ, hiệu Tập Xuyên, con trai Tham tri Ngô Huệ Liên, cháu Cử nhân Ngô Phùng, anh Ngô Đức Diễn, thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha,dòng Ngô Nước.
Ông thông minh từ nhỏ,18 tuổi đỗ Cử nhân, 23 tuổi đỗ Tiến sỹ khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 1901, Ông không ra làm quan, cùng Đặng Nguyên Cẩn , Lê Văn Huân lập Triều dương Thương điếm ở Vinh , làm nơi liên lạc thân sỹ Bắc Trung Nam, vận động cách mạng chống thực dân Pháp, dành độc lập tự do cho đất nước.
Năm 1908 bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo , năm 1921 được trả tự do ,trở về tiếp tục hoạt động cách mạng (xem phần nhân vật đột xuất).
Năm 1929 nhiễm bệnh mất ở Bạch Mai (Hà Nội), mộ táng ở làng Phương Mai Hà Nội, nay đã được cải táng về quê ,đặt trên đồi Nghèn thuộc Thị trấn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Sinh con trai Ngô Đức Trì, con gái Ngô Thị Mận, Ngô Thị Khiêm,có cháu đích tôn là PGS Tiến sỹ Ngô Đức Thọ.

Ngô Khải
Thuỷ tổ họ Ngọ An Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, con trai Ngô Phúc Bẩm, dòng Diên Quận công,vào đời thứ 30. Gốc Trảo Nha dòng Ngô Nước.

Ngô Đăng Khản
Thuỷ tổ họ Ngô xã Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh.Thường gọi là Ngôn,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước. Gặp phải lúc quân Mạc Kính Điển đánh vào Nghệ An, chiếm đóng bờ nam sông Lam hai tháng, Ngô Cảnh Hựu còn cầm quân ở Thanh Hóa, con nhỏ phải chạy lánh nạn, nhân đó thiên cư luôn không trở về. Con cháu ngày nay cư trú khắp các vùng Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, Tuyên Hoá ,Quảng Trạch, Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.

Ngô Phúc Khê
Vinh thái Hầu,
Con thứ Khang trạch Hầu ở Cổ Bái, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, vô tự, có đền thờ ở hai thôn Gia Thiện và Hữu Phường ở Cửa Sót huỵện Thạch Hà Hà Tĩnh (Thờ chung với Phan Quận công), sắc phong Linh phù Tôn thần.

Ngô Khế (1426- 1514)
Thái úy Thanh Quốc công,
Hiệp mưu thuần tín tá lý đồng đức Hoàng tôn Công thần,thăng thụ Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu,gia thụ Đặc tiến khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu, Tham dự triều chính Cố mệnh Đại thần, Đông bình chương Quân quốc trọng sự, Tư đồ Thượng Trụ quốc,Thái uý, gia Thượng Trí, Thanh Quốc công, thuỵ Sùng Thịnh Thượng sỹ, lập đền thờ phong Trác vỹ Thượng đẳng Tôn thần.
Ông là con thứ Dụ vương Ngô Từ,em trai Quang thục Hòang Thái hậu mẹ vua Lê Thánh Tông.
Ngô Khế làm quan trải các triều: Thánh Tông 38 năm,Hiến Tông 7 năm, đến Túc Tông, đều làm Cố mệnh Đại thần. Phụ tá triều Quang Thuận,Hồng Đức,Cảnh Thống đến triều Đoan Khánh, tái tôn lập vua Hồng Thuận.
Ông sinh giờ dần, tháng 9 năm bính ngọ 1426,mất ngày 6 tháng 10 năm giáp tuất 1514.
Bà là Vũ Thị Ngọc Hoàn,hiệu Ôn thục, Thái trường Trường quốc Phu nhân, người xã Chân Trị huyện Chí Linh, mất ngày 6 tháng 10, mộ táng tại thôn Châu Trường xã Ngọc Trường tổng Hải Quật huyện Chí Linh.
Ông có 11 con trai,trở thành Thủy tổ của 11 dòng họ Ngô:
-Ngô Bá Dị, tự Hải Sơn,xã Tam Sơn huyện Đông Ngạn trấn Kinh
Bắc,nay là huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh;
-Ngô Sử Toàn, đổi là Ngô Nguyên, xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong trấn Kinh Bắc,nay thuộc xã Tam Giang,huyện Yên Phong,tỉnh Bắc Giang;-Ngô Sử Hậu, đổi Ngô Phúc Cơ, xã Tả Thanh Oai nay thuộc huyện Thanh Trì,Hà Nội;
-Ngô Công Tín, Tây Quận công, xã Bách Tính huyện Nam Chân Sơn Nam hạ,nay là xã Nam Hồng,huyện Nam Ninh,tỉnh Nam Định;
-Ngô Ngữ, xã Địch Lễ , nay là thôn Địch Lễ xã Nam Vân huyện Nam Ninh,Nam Định;
-Ngô Lợi, đổi tên Ngô Nước, xã Trảo Nha huyện Thạch Hà trấn Nghệ An,nay thuộc xã Đại Lộc và Thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh;
-Ngô Khắc Cung, Thái phó Nam Quận công ở nguyên quán Đồng Phang,nay là xã Định Hòa,huyện Thiệu Yên,tỉnh Thanh Hóa;
-Ngô Văn Bính, Thái bảo Thuỵ Quận công ở nguyên quán Đồng Phang;
-Ngô Thế Bang,Thái bảo Dực Quốc công ở nguyên quán Đồng Phang;
-Ngô Thế Thái, tức Ngô Hữu Phái,còn có tên là Ngô Độ và Ngô Quốc Trinh,Tùng khê Hầu,tước phong Quận công, thiên cư vào An Mô (đi theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa năm 1558);
-Ngô Ngọc Phác,Đốc dự Bá Đốc thiêm Hầu, đổi họ Hoa lấy tên Hoa Phúc Quảng, thuỷ tổ họ Ngô xã La Phù huyện Từ Liêm Hà Nội;
-Sáu người con gái trong đó có Kim hoa Nữ sỹ Ngô Chi Lan vợ Tiến sỹ Phù Thúc Hòanh ở Phù Gia Trang thuộc Phù Lỗ,còn lại đều cư biệt quán.

Lý Thường Kiệt (1019-1105)
Thái úy Việt Quốc công,
Tức Ngô Tuấn, con Ngô An Ngữ,cháu nội Ngô Xương Xý Sứ quân Bình Kiều, anh Lý Thường Hiến (Ngô Chương), thuỵ Quang Châu, sinh ở phường Thái Hòa (quận Ba Đình ngày nay) .Giúp trải 3 triều nhà Lý,làm đến chức Thái Uý đứng đầu trăm quan, nhiều công lao an dân, bình Chiêm Thành, ngự Tống.
Suy thành hiệp mưu thủ chính tá lý dực đới Công thần,Thủ Thượng thư lệnh,Khai thủ Nghị đồng Tam ty,Nhập nội Nội Thị tỉnh đô Đô tri Kiểm hiệu,Thái uý kiêm Ngự sử Đại phu,Giao thụ Chư trấn Tiết độ sứ,đồng tráng thủ môn hạ,Bình chương Thượng trụ quốc,Thiên tử nghĩa đệ, Phụ quốc Thượng tướng quân, Việt Quốc công.
Thực ấp 10.000 hộ,thực phong 4000 hộ.
Hiện nay từ đường hương khói ở thôn Bắc Biên xã Ngọc Thuỵ huyện Gia Lâm Hà Nội, chi họ Ngô ở đó phụng tự. Nhân dân nhớ công ơn lập đền thờ ở nhiều nơi. (Xem nhân vật đột xuất ở phần trên).
Được suy tôn Anh hùng dân tộc.

Ngô Kinh (1350-1437)
Thái phó, Thượng Trí tự ,Hưng Quốc công,
Bảo chính Công thần Nhập nội Kiểm điểm Thượng tướng quân Kiến tường Hầu,thăng thụ Thái phó Thượng Trí tự Hưng Quốc công,thụy Dụ Khê Thượng sỹ,lại được ban thụy Trung Hiền Thượng sỹ,Công thần khai quốc triều Hậu Lê, con Ngô Tây và bà Trịnh Thị Kim hiệu Từ Đức Á Quận chúa phu nhân, người xã Đồng Phang huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên tỉnh Thanh Hóa,vị Tiên tổ khai phục dòng họ Ngô ở Thanh Hóa sau nhiều đời luân lạc (xem Nhân vật đột xuất).
Ông mất ngày 27 tháng 7 năm đinh tỵ 1437(Có bản chép 1433),gia phong Quang liệt Đại vương,mộ táng tại làng Thung Thượng,gần lăng Tổ,đông cận mộ Dụ Vương,tây cận đường lớn,nam cận xứ Hối Thị ,bắc cận ruộng dân.
Bà Lê Thị Mợi,húy Mười,còn có tên Quỳnh Hòan,hiệu Du Tâm Quý nương Thắng thiện,là cháu họ Lê Khóang,mất ngày 7 tháng 7 năm thìn,mộ táng ở xứ ngõ Miếu,xã Lâm Hạ huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc.
Ông bà sinh:
-Chương khánh Công Ngô Từ ,Thái úy Diên ý Dụ vương;
-Tả Tướng quân, Diên mỹ Công Ngô Đức ;
-Thận Quận công Ngô Khiêm;
-Đô đốc Thượng Tướng quân Ngô Đam
-và Ngô Thị Ngọc San là vợ Lương Quận công Nguyễn Tín(Thủy tổ dòng họ La Sơn Phu tử).

Ngô Phúc Kỳ
Trạc võ Hầu,
Con thứ Hàn Quận công Ngô Phúc Đang ,cháu Thái bảo Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, đời 29
dòng Ngô Nước Trảo Nha Hà Tĩnh.
Tự Diên Khánh,Điện tiền Đô kiểm điểm ty Hữu Kiểm điểm,Đại tiến vụ Huân tướng quân Thự vệ sự.
Hai bà, sinh: -Ngô Phúc ở Trảo Nha,
-Dự võ Hầu (không rõ tên) ở Bảo Sơn

Ngô Lượng Lang
Trâm ngọc Hầu,
Con trưởng Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn, cháu Cảnh Quận công, chi 5 họ Ngô Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Ngô Cảnh Hoàn tử trận ở bến Thúy Ái, bà Phan Thị Thuấn tuẫn tiết, ông phân tán vợ con về Sơn Tây, đến Sơn Nam hạ cùng bạn hữu tổ chức lực lượng đánh Tây Sơn báo thù nhà trả nợ nước. Trong một trận đánh không ngang sức, ông bị quân Ngô Văn Sở tiêu diệt trên sông Hồng, ông cũng chết trên dòng sông .Triều Nguyễn ban biển vàng đề bốn chữ ” Trung liệt nhất gia”. Con cháu có nhiều vị phải đi ẩn náu, nên mất liên lạc.

Ngô Phúc Lâm (1722-1784)
Tiến sỹ,Khiêm Quận công,
Tự Hồng Tích, hiệu Thuần Trai,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước, cháu Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị, con Dật võ Hầu Ngô Phúc Bình.
45 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa bính tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27 triều Lê Hiển Tôn 1766, làm Giám sát Ngự sử Lạng Sơn, Đốc đồng Sơn Tây, Hiến sát sứ Thanh Hóa, về làm Tri tả Bình phiên chức Thị lang, rồi lại đi Tham chính Sơn Nam, Trưởng phái bộ đi Lạng Sơn giao thiệp với phái bộ Trung Quốc về việc biên giới, về bị ốm nhưng vẫn phải đi công cán Thanh Hóa. Ở Thanh Hóa được cử đi Thuận Hóa giữ chứcTham trấn, bệnh nặng phải về kinh điều trị, năm 1784 mất ở Thăng Long. Lý Trần Quán chọn đất táng ở cồn Thịnh Quang. Tặng Gia hành Đại phu, Công bộ Hữu Thị lang Khiêm Quận công.
Có hai bà sinh: -Phúc Lương ( lúc còn trẻ cầm quân đi đánh ở Rú Bầng tử trận chưa vợ ),
-Phúc Trường, sinh Ngô Phúc Chinh, Ngô Phùng.
Ông là người viết “Tân kỷ Hoan châu Ngô Thị truyền gia tập lục” vào năm Bính Dần 1746.
Ngô Phúc Lâm theo học Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm ở Tiên Điền (là thân sinh của Nguyễn Khản Tiến sĩ 1760,Nguyễn Du Đại thi hào),cùng học có La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Khi Ông thi đỗ Tiến sỹ, Nguyễn Thiếp làm bài thơ mừng, nguyên văn:

Hạ Thạch Hà Trảo Nha Ngô Tiến sỹ
Kỷ độ Hồng ngư lập tuyết đình
Kim bích lan khứu kiến giao tình
Kỉnh cuồng trợ ngã Kỳ lâm tịch
Tiên thủ vinh quân giáp đệ danh
Tây phủ luỵ truyền quang vũ phục
Nam phương bán bích lạng văn tinh
Giang hồ vị ngãi tiên ưu chí
Hảo tế thương sinh uỷ hưu sinh.
Tạm dịch:
Hồng ngư mấy độ mái tuyết đình
Thềm lan vách quế kết giao tình
Kinh cuồng giúp đệ rừng cài ẩn
Tiến thủ đưa huynh giáp đệ vinh
Tây môn vốn dĩ dòng võ tướng
Trời nam nửa bức rạng văn tinh
Giang hồ chưa thoả lòng ưu ái
Cứu khổn an dân cậy bạn hiền.

Ngô Huệ Liên (1840-1912)
Tham tri Lễ Bộ
Đỗ Cử nhân khoa quý dậu 1873 triều Tự Đức, làm Đốc học Quảng Ngãi, về làm Toản tu Quốc sử quán, 1895 Phó chủ khảo trường thi Hội khoa Ất Mùi Thành Thái 7 , 1900 thăng Quang Lộc tự Khanh,sau thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ , về hưu. Con Ngô Phùng, tằng tôn Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm, thân sinh Tiến sĩ Ngô Đức Kế, Ngô Đức Diễn.Khi Ngô Đức Kế bị thực dân Pháp bắt, ông đang làm quan ở Huế, sợ con mình không chịu nỗi đòn tra tấn, biên thơ khuyên nếu không đủ nghị lực chịu đựng, thì nên tự xử trước, đừng để ô danh tiên tổ. Ngô Đức Kế không nghe theo, cố sức chiu đựng đến cùng, cho đến khi thành án bị đày đi Côn Đảo.

Ngô Phúc Liêu
Hào mỹ Hầu,
Con trai thứ bảy Tào Quận công Ngô Phúc Vạn dòng Ngô Nước Trảo Nha,
Sinh hai con trai: trưởng Ngô Văn Cang thiên cư Quảng Nam, thành Thuỷ tổ họ Ngô Kế Xuyên huyện Thăng Bình ,
con thứ Ngô Phúc Cẩm, làm quan triều Lê, vài đời sau con cháu có người làm chức Thiên kỵ Thị vệ của Lê Chiêu Thống, về ở làng Quan Thổ xã Thổ Quan (nay là phường Thổ Quan quận Đống Đa, Hà Nội) thành thuỷ tổ dòng họ Ngô ở đó.

Ngô Pháp Lượng
Hạo Quận công,
Con thứ Vinh Quận công, cháu Phượng Quận công, chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha,vô tự. Dân hai thôn Nha Kỳ và Gia Lạc thờ ở đền Linh Nha trên núi Nghèn (hiện nay thuộc Thị trấn Can Lộc Hà Tĩnh) làm Phúc thần.

Ngô Phúc Lý
Lý Quận công,
Con Vỵ Quận công ,em Diên Quận công, dòng Ngô Nước Trảo Nha, thất truyền.

Ngô Phúc Mại
Một tên khác của Ngô Phúc Vạn ,Tào Quận công.( Xem Ngô Phúc Vạn).

Ngô Phúc Mại
Khang trạch Hầu,
Con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, dòng Ngô Nước Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô làng Cổ Bái xã Thạch Ngọc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Đình Mân
Tiên Tổ họ Ngô Việt Nam,
Thân sinh Ngô Vương Quyền, hậu duệ Triệu tổ Ngô Nhật Đại, con Hào trưởng Ngô Đình Thực, sinh quán châu Ái (nay là tỉnh Thanh Hóa), chưa rõ ở huyện xã nào.(Có thuyết nói ở Làng Mía tức Thịnh Mỹ huyện Thọ Xuân, nhưng không đủ cứ liệu.) Ông theo Nho học trở thành Đại nho gia, du học vào Cửa Sót, rồi đến quận Đường Lâm, Tiết độ sứ Khúc Thừa Hạo trao cho chức Mục Phong châu. Bà là Phùng Thị Tịnh Phong, con Phùng Hải ,cháu Bố cái Đại vương Phùng Hưng ,ở thôn Cam Lâm quận Đường Lâm, nay là thôn Cam Lâm xã Đường Lâm Thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây.
Sinh hai con trai : Ngô Quyền ( tức Lý Thường Kiệt),
Ngô Tịnh (tức Lý Thường Hiến).

Ngô Mậu
Con ông Ngô Lợi, em ông Ngô Soạn, họ Ngô xã Thạch Mỹ huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh,dòng Ngô Nước Trảo Nha.Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 20 vùng chợ Cồn đói kém, sưu cao thuế nặng , có trên 50 gia đình phải bỏ đất bỏ làng tha phương cầu thực. Gia đình ông Ngô Lợi lưu lạc qua các vùng chợ Chế Đức Thọ, định cư ở xóm Hưng Xá xã Phú Xá huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Ngô Mậu tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Phú Xá, năm 1931 gia nhập Đảng CSĐD. Năm 1941 bị thực dân Pháp bắt kết án 15 năm tù khổ sai đày đi Ban Mê Thuột. Sau Nhật đảo chính Pháp, trở về quê Hưng Nguyên hoạt động, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện, làm Chủ tịch Uỷ ban huyện Hưng Nguyên, Tỉnh uỷ viên Tỉnh đảng bộ Nghệ An. Năm 1951 làm Chủ tịch Uỷ ban tỉnh Hà Tĩnh, rồi đi công tác khác. Năm 1955 làm Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1960 về Bộ Ngoại giao, đi làm Đại sứ tại Mông Cổ, rồi Đại sứ tại Cu Ba, sau về làm Thường vụ Ban cán sự Đảng ngoài nước. Tuổi cao về hưu,mất ở Hà Nội. Bà họ Mạc là cán bộ phụ nữ, sinh Ngô Hoài Lam,Ngô Hồng Hạnh,Ngô Đức Hùng, Ngô Đức Cường đều là Kỹ sư hoặc Tiến sỹ.

Ngô Đức Mậu (1908-1987)
Đích Tằng tôn Hoàng giáp Ngô Đức Bình, con trai Ngô Đức Chánh, đời 36 chi 5 dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tỉnh.Năm 1925 tốt nghiệp Tiểu học (Primảie), làm thầy giáo ở các huyện Thạch Thành, Hà Trung tỉnh Thanh Hóa, tham gia Tân Việt cách mệnh Đảng(1927) ,vào Đông dương Cộng sản Đảng năm 1930, làm Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa.
Năm 1931 bị thực dân Pháp bắt ở Thanh Hóa, kết án khổ sai chung thân đày đi nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị). Năm 1936 giảm án được trả tự do, về giúp việc các trường tư thục ở Vinh (trường Phan Kiêm Huy, trường Thăng Long). Gặp vụ đình công của công nhân nhà máy Trường Thi, bị Mật thám Pháp bắt lần thứ hai, nhưng không có đủ chứng cớ nên được thả.
Năm 1945 tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Can Lộc, làm Uỷ viên quân sự Uỷ ban lâm thời huyện. Tiếp đó liên tục làm công tác tuyên truyền báo chí ở Hà Tĩnh, ở Liên khu IV.
Sau ngày giải phóng, về Bộ Văn hoá làm Chủ nhiệm Báo ảnh, là Phó Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam.
Bà họ Hà thôn Vịnh Phong cùng xã, sinh Ngô Đức Bào Tiến sỹ, Ngô Đức Trà PGS Tiến sỹ, Ngô Đức Danh Kỹ sư, Ngô Thị Hồng Hà Kỹ sư.

Ngô Công Mênh
Thuỷ tổ chi họ Ngô Công giáo Thổ Hoàng. Lâu ngày thất truyền không biết rõ gốc, đến nay trên 10 đời.
Vốn biết hai anh em Ngô Mông, Ngô Mênh cùng nhau đến Thổ Hoàng thuộc huyện Hương Khê lập nghiệp phát triển dòng họ, ngày nay có phái ở Vũng Tàu Bà Rịa, đều theo công giáo.
Theo gia phả họ Thượng Bồng huyện Hương Sơn, vốn là một dòng con cháu Nghĩa võ Hầu, dòng Ngô Nước Trảo Nha thiên cư vào đời 28-29. Đến đời thứ 30 có bốn anh em trai sống chung với nhau, gặp lúc anh em bất hoà, người anh cả cõng người em út bỏ nhà ra đi cách đó vài xã làm ăn sinh sống ở đất Thổ Hoàng, về sau gia nhập đạo Thiên chúa cho đến nay nên ít đi lại về gốc tổ.
( Xem thế thứ họ Thượng Bồng và họ Thổ Hoàng .)

Ngô Đăng Minh
Án trung Hầu,
Thái giám, con Ngô Đăng Khản họ Hà Linh, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu ở Trảo Nha dòng Ngô Nước, vào đời 27. Năm Chính Hoà thứ 24(1685) có công đi đánh Bồn Man, phong Án trung Hầu. Sau khi chết dân làng Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh lập đền thờ làm Phúc thần, sắc phong Dực Bảo trung hưng Trung đẳng tôn thần. Năm 1995 đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.

Dương Văn Nga
Con gái Dương Tam Kha,cháu Dương Diên Nghệ, lấy Nam Tấn vương Ngô Xương Văn con Ngô Vương Quyền sinh Ngô Nhật Khánh Sứ quân Đường Lâm và một con gái lấy Đinh Liễn. Đinh Bộ Lĩnh bức hàng Nhật Khánh,lấy bà làm vợ phong làm Hoàng Hậu(một trong năm Hòang hậu của Đinh Tiên Hòang), sinh con trai Đinh Toàn(Vệ Vương Tòan).Sau khi Đinh Bộ Lĩnh và con là Đinh Liễn bị đầu độc chết,Đinh đế Toàn lên ngôi, bà là Hòang Thái hậu nhiếp chính,Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn làm Phó vương.Nhân một phiên chầu,Đại tướng quân Phạm Cự Lượng thay mặt ba quân suy tôn Lê Hoàn làm vua, Dương Văn Nga khoác áo Long Cổn vào vai Lê Hoàn, nhường ngôi vua. Lê Hoàn lên làm vua năm 980 lại lấy bà làm vợ, phong làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu ở Kinh đô Hoa Lư (một trong năm Hòang hậu của Lê Hòan-Đại Thắng Minh là tên hiệu trước đây của Đinh Tiên Hòang).Ngày nay còn có đền thờ chung Bà với Đinh Tiên Hoàng ở khu Di tích lịch sử Hoa Lư. Tương truyền cũng đã có thời người ta đưa tượng Bà sang thờ ở đền thờ Lê Đại Hành.

Ngô Phúc Ngạn
Ngạn trung Hầu,
Con thứ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương, thuộc chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng Ngô Nước.Tháng 11 năm 1786 Án Đô Vương Trịnh Bồng (triều vua Lê Chiêu Thống ) chống nhau với quân Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra,Ngạn trung Hầu và em là Thuần trung Hầu (con rế Trịnh Bồng) cùng tham chiến và tử trận,cả hai đều chưa có con.

Ngô Nước
Tên trước là Ngô Lợi, con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, một trong sáu người cư biệt quán đi lánh nạn sau vụ án Lệ Chi Viên. Ông lánh về xã Chỉ Châu, một thời gian sau dời ra ở thôn Thổ Sơn xã Đan Liên huyện Thạch Hà trấn Nghệ An, sau đổi là xã Trảo Nha, nay là xã Đại Lộc và thị trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Thuỷ tổ họ Ngô Trảo Nha, sinh Ngô Phúc Hải làm Tổng binh trấn thủ Thái Nguyên .Được phong tặng Nghệ An Quản lĩnh. Mộ hai ông bà táng ở Dăm nhà quan, thôn Thổ Sơn , ngày nay vẫn còn.
Dòng họ đến nay phát triển đến hàng vạn con cháu, trên 20 đời, Từ đường chính ở Thổ Sơn , nguyên là vườn cũ của ông bà ở nuôi lợn nấu rượu, đến nay đã trên 500 năm, vừa được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá năm 1993.

Ngô Phúc Phái
Phái trung Hầu,
Con Thuyên phái Hầu, sinh Nhiệm phái Hầu, Diễn phái Bá. Là 2 dòng chi 5 phái 4 họ Ngô Trảo Nha, 1 dòng ở Chương Mỹ Hà Tây ( xưa là xã Lang Điền huyện Yên Sơn ) có Lê Ngô Cát, một dòng ở Trảo Nha có cử nhân Ngô Hồng, Hoàng giáp Ngô Đức Bình ( Chú thích: Nhiệm phái Hầu hoặc Vỵ phái Hầu có thể lẫn lộn vì 2 chữ gần giống nhau, hơn nữa chữ Nhiệm kỵ huý viết bỏ nét sổ đứng nên càng giống chữ Vỵ ). Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép Vỵ phái Hầu, phả chi 5 Trảo Nha chép Nhiệm phái Hầu .

Ngô Phúc Phổ
Vân lĩnh Hầu,
Lúc nhỏ tên là Ngô Phúc Bạc, con trai thứ 8 Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, dòng Ngô Nước Trảo Nha, vào đời thứ 28, thất truyền trong chiến tranh Trịnh -Nguyễn.Có phả ghi là Nghĩa võ Hầu ,có dòng dõi ngày nay ở huyện Hương Sơn Hà Tĩnh, Thanh Chương Nghệ An, tức là họ Ngô Thượng Bồng và họ Ngô chợ Rạng .
Gần đây lại có họ Ngô Văn ở huyện Tuy Hòa tỉnh Phú Yên nhận là dòng Ngô Phúc Phổ.
(Còn là tồn nghi ).

Ngô Phúc Phổ
Phổ Quận công,
Vào đời 30 dòng Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ họ Ngô Trảo Nha. Con thứ Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, anh Cảnh Quận công, bác Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn. Bà vợ người làng Canh Hoạch, chị ruột bà Dương Thị Hoan mẹ đẻ Trịnh Tông. Khi có người tố giác, vụ án Canh tý 1780 nổ ra, Trịnh Tông bị hạ ngục, hàng chục đại thần bị hại, ông cũng là một trong số đó. Sau ngày Trịnh Tông được Quân Tam phủ lập làm Chúa ( Đoan nam Vương Trịnh Khải 1782), ông được truy tặng tước Đại Vương. Ông chỉ có con gái.

Ngô Phùng(1805-1863)
Tự Nguyên Trọng, tường gọi cụ Thiếu,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha, con Ngô Phúc Trường, cháu Tiến sỹ Ngô Phúc Lâm, em Cử nhân Ngô Phúc Chinh, thân phụ Cử nhân Tham tri Ngô Huệ Liên, ông nội Chí sỹ Tiến sỹ Ngô Đức Kế.
Học giỏi nhưng đến năm 37 tuổi mới đậu Cử nhân khoa Thiệu Trị 1 (1841). Sau khi thi đỗ được ra làm Hậu bổ ở Hà Nội, lĩnh chức Đốc học Bắc Ninh rồi lại điều về Hà Nội. Năm Tự Đức 4 (1851) vua mở cuộc khảo hạch để chọn người sung chức Kinh diên giảng quan, Ngô Phùng được vua phê là “ sảo thông” (khá thông) được điều về kinh bổ chức nói trên. Năm 1853 thăng hàm Trước tác, lĩnh chức Thị độc ở Viện Tập Hiền, chuyên đọc duyệt các bài thơ vịnh sử của vua. Năm Tự Đức 9 (1856) vì hay đau ốm, lại ở quê còn có mẹ già, vua chuẩn cho về làm Giáo thụ ở đạo Hà Tĩnh.Năm thứ 15 (1862) lại có chiếu chỉ triệu về kinh bổ chức Thị độc, thăng hàm Quang lộc tự Thiếu khanh, sung Quốc sử quán Toản tu. Không bao lâu lại đau ốm phải xin nghỉ, rồi qua đời, thọ 59 tuổi .

Ngô Phúc Phương (1710-1804)
Đại tư đồ Hoành Quận công
Huý Túc, Đại tư đồ Hoành Quận công, con Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh, cháu Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Điền, tằng tôn Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, là trưởng chi 5 họ Ngô Trảo Nha, dòng dõi sau này truởng là Nhà thơ Ngô Xuân Diệu. Là con rể Chúa Trịnh Cương, lấy Quận chúa Phương Huệ, tặng Ôn dung Công chúa, sinh ra có dị tướng có 36 cái răng, miệng rộng đút lọt nắm tay, 20 tuổi ra Quản quân , 30 tuổi thi võ đỗ Tạo sỹ, là một tướng có tài, nhưng cũng gặp không ít trở lực, bị các nhà Chúa thành kiến.Suốt cả cuộc đời tận tuỵ phụng sự Chúa Trịnh, Chúa chạy chạy với Chúa, Chúa này chết tôn lập Chúa khác, đem cả nhà ra chống Nguyễn Hữu Chỉnh, để mưu bảo vệ ngôi của Chúa,hai con trai là Tướng mang tước Hầu bỏ mình trên chiến trận.
Ngô Văn Sở, Tổng trấn Bắc Thành sai người bảo ông đem gia phả ra đối chiếu nhận họ, ông nói :” Ta với vua tôi người ấy là không đội trời chung “, thoái thác là phả đã bị cháy trong cơn binh lửa. Ngô Văn Sở đành chịu, phải đối chiếu với phả ở Trảo Nha.
Sau khi Trịnh Tông (tức Trịnh Khải )được lập làm Đoan Nam Vương năm 1782,ông được trọng dụng giữ chức Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự,quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội ,năm sau (1783)nhận thêm chức Mật điện Nội sát kiêm Phụ dực Nội điện,con trai là Ngô Phúc Trọng ra quản Tiên ưu đội.
Chiêu Thống triệu,ông không ra giúp chỉ phò một Chúa Trịnh. Ông có năm con trai, hai trai tử trận vô tự, nay còn ba dòng lớn, ở Hà Nội hai và ở quê Trảo Nha một .Mộ táng ở Dăm cửa làng Tôn Tổ ( nay là Tuân ) thuộc huyện Thanh Oai,nay thuộc huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây,hiện đang được tôn tạo thêm sau gần một trăm năm hoang phế.

Ngô Vương Quyền ( 897-944 )
Tiền Ngô Vương
Sinh ở Đường Lâm ngày 12 tháng 3 năm đinh tỵ 897, mất ở Cổ Loa ngày 18 tháng 1 năm giáp thìn 944. Mộ táng trên đồi thôn Cam Lâm quận Đường Lâm nay là xã Đường Lâm Thị xã Sơn Tây, tiền lăng hậu miếu.
Hai cụ thân sinh là Phong châu Mục Ngô Đình Mân và Phùng Thị Tịnh Phong con Phùng Hải, cháu Bố cái Đại vương Phùng Hưng , ông nội là Hào trưởng Ngô Đình Thực ở Ái Châu .
Ngô Quyền là vị Tổ dựng nước Trung đại, mở nền độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam mãi muôn đời về sau, được suy tôn Anh hùng dân tộc. Là một vị tướng tài được chủ tướng Dương Diên Nghệ nhận làm con nuôi, rồi gả con gái Dương Thị Như Ngọc.Đã cùng Dương Diên Nghệ đánh bại quân Nam Hán xâm lược lần thứ nhất (930-931),được bố vợ uỷ quyền trông coi châu Ái.
Năm đinh dậu (937), Kiều Công Tiễn phản bội ,đầu độc chết Dương Diên Nghệ, rồi cấu kết với Nam Hán. Ông dấy binh từ châu Ái ,giết Công Tiễn,đánh bại quân xâm lược Nam Hán do Thái Tử Hoằng Tháo thống lĩnh sang xâm lược lần thứ 2, trên sông Bạch Đằng.
Năm Kỷ Hợi (939) ông xưng Vương, đặt nền móng độc lập tự chủ cho đất nước, định đô ở Cổ Loa , ở ngôi được 6 năm , bị bệnh từ trần, truyền ngôi cho con trưởng Ngô Xương Ngập có cậu là Dương Tam Kha phụ chính.
Phụ lời uỷ thác, Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu, tiếm xưng Bình Vương ( 945-950 ).Năm 950, Ngô Xương Văn lật đổ Bình Vương ,phế làm Trương dương Công, đón anh Xương Ngập về cùng coi việc nước. Các nhà sử học xưa chia kỷ nhà Ngô thành triều đại Tiền Ngô Vương và Hậu Ngô Vương (Thiên sách Vương ,Nam tấn Vương ).
Theo sử và phả ghi chép thì vợ Ông là bà Dương Thị Như Ngọc .Theo thần tích ở đền làngỴên Nhân huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, thờ Bà Dương Phương Lan, nói rằng:Năm 20 tuổi Ngô Quyền kết thành vợ chồng với người con gái huyện Thượng phúc ( nay là Thường Tín ) tên là Dương Phương Lan. Đền làng Ninh xá xã Lệ ninh huyện Kinh môn nay thuộc thành phố Hải Phòng, thờ Vua Bà Càn Lương phu nhân , nói rằng ở đây bà đã đóng trại quân thời tham gia trận đánh Bạch Đằng Giang.
Ngô Vương Quyền có bốn con trai,Ngô Xương Ngập,Ngô Xương Văn do bà Dương Thị Như Ngọc sinh ra, Càn Hưng , Nam Hưng ( thất truyền ) chưa rõ con bà nào.
Tất cả các chi họ Ngô Việt Nam ngày nay đã liên lạc với nhau ( ngoài số chi họ Ngô từ Trung Quốc sang gọi là gốc Trung Quốc, và một số họ Ngô từ họ khác lấy họ Ngô , cải làm họ Ngô vì hoàn cảnh nào đó ) đều là cùng chung huyết thống thuộc dòng dõi Ngô Vương Quyền. Đến nay (1996) đã liên lạc được trên 200 chi họ cư trú trên tất cả các tỉnh thành từ Bắc đến Nam. Phần lớn đã được đưa vào ” Hệ Phả ” họ Ngô Việt Nam, nhân khẩu hàng triệu
người nam và nữ.

Ngô Văn Sở
Đại Tư mã Chấn Quận công,
Danh tướng nhà Tây Sơn, người gốc Trảo Nha, con cháu Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, cha ông thiên cư vào Bình Định, trong phả ông có tên là Ngô Văn Tàng,khi ký giấy tờ bang giao lấy tên là Ngô Hồng Chấn.Ông nội là Ngô Mãnh,Đô Thống chế thời Chúa Nguyễn. Ông theo giúp Tây Sơn lập rất nhiều chiến công,lừng danh trong trận đánh đuổi quân Thanh năm Kỷ dậu 1789.
Năm 1787 được cử làm Tham tán Quân vụ cùng Tiết chế Vũ Văn Nhậm ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, đánh chiếm Thăng Long.Khi Vũ Văn Nhậm sinh lòng phản trắc bị Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ giết, Ngô Văn Sở được cử làm Đại tư mã Tổng trấn Bắc thành.
Tháng 11 năm mậu thân 1788, trước sức tấn công của 20 vạn quân Thanh do Tôn Sỹ Nghị thống lãnh tràn sang xâm lược nước ta dưới chiêu bài giúp Lê chiêu Thống, ông nghe theo kế sách của Ngô Thì Nhiệm rút quân về trấn giữ ở núi Tam Điệp, cấp cáo về Phú Xuân. Bắc Bình Vương làm lễ đăng quang lấy niên hiệu Quang Trung năm thứ 1, giao cho ông và Phan Văn Lân đi tiên phong đạo quân chủ lực dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Quang Trung tiến đánh quân Thanh,thắng trận Hạ Hồi, Ngọc Hồi,tiến vào Thăng Long, sau đó tiếp tục trấn thủ Bắc Hà.
Năm canh tuất 1790 phụng mạng cầm đầu phái đoàn 100 người đưa Vua Quang Trung (giả) sang Yên kinh dự lễ Bát tuần Đại thọ vua Thanh Càn Long, khi về được phong Thuỷ sư Đô đốc. Năm 1792 vua Cảnh Thị nh lên ngôi tấn phong chức Đại Đổng lý, tước Chấn Quận công, coi sóc cả việc quân và dân ở Bắc thành ( Tổng trấn Bắc thành kiêm Quản binh dân tài phú).
Lúc bấy giờ ở Phú Xuân Thái sư Bùi Đắc Tuyên lộng quyền,nội chính nHà Tây Sơn rối loạn.Vũ Văn Dũng nghe theo lời Trần Văn Kỷ, phối hợp với Đô đốc Hoà bắt cha con Bùi Đắc Tuyên giam vào ngục,sợ Ngô Văn Sở đem quân về hỏi tội, sai Đô đốc Hải giả chiếu Quang Toản ra Thăng Long sai Bắc thành Hoàng Đệ Nguyễn Quang Thuỳ lừa bắt Ngô Văn Sở đưa về Phú Xuân,thêu dệt thành tội trạng làm phản, bỏ vào cũi dìm xuống sông Hương cho chết (1795).Từ đó con cháu thất tán đổi họ tên, nay chưa liên lạc được.

Ngô Văn Sự
Thuỷ tổ họ Ngô Tây vịnh xã Thạch vịnh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh, dòng Hoành Quận công Ngô Phúc Phương chi 5 họ Ngô Trảo Nha, đến nay 7,8 đời.

Ngô Phúc Tại
Diên Quận công,
Tại bá Hầu, Diên Quận công, cháu Tứ Quận công, con Vy Quận công, sinh ba con trai:Ngô Phúc Cẩm Đô Chỉ huy sứ dòng họ Tam Đa,Ngô Phúc Thuận Phó trung uý Chân Lộc Hầu thất truyền,Ngô Phúc Tại Chánh Đội trưởng Tại bá Hầu cũng thất truyền, chưa rõ con cháu ở đâu, vào đời thứ 29, cuối thế kỷ 17.

Ngô Thụân Tâm
Quê làng Cổ Bái huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh, con Thế Quận công ,em Khang trạch Hầu, sinh Ngô Tất Thắng ra ở thừa tự hai bà cô là Quỳnh Hoa và Quế Hoa Công chúa ở hai thái ấp Vị Xuyên, Cầu Gia huyện Mỹ Lộc Nam Định, nay đã cải làm họ Trần.Hai ông bà sống ở Cổ Bái, mộ táng tại Cổ Bái .Họ Vỵ Xuyên thờ làm Thuỷ tổ.

Ngô Phúc Tân
Đáng Quận công
Con thứ tư Tào Quận côngNgô Phúc Vạn.
Đang tước Khiêm cung Hầu,mới tuổi trên 20,ông cầm quân vào đánh Điện bàn thuộc
trấn Quảng Nam. Bị sa cơ trong chiến đấu,không trở về được,phải ở lại huyện Phù ly,sau chia
thành hai huyện là Phù Mỹ và Phù cáT.Trở thành Thủy tổ chi 4 Bình Định.
Tước Quận công là tước phong tặng sau này.

Ngô Thanh (1911-1969)
Người họ Ngô xã Hà Linh huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh dòng Ngô Nước Trảo Nha, Đảng viên ĐDCSĐ 1930-1931, bị thực dân Pháp bắt đày đi Kon tum với bản án khổ sai chung thân. Sau Nhật đảo chính Pháp,về Hương Khê tham gia lãnh đaọ Tổng khởi nghĩa ở Hương Khê, sau đó vào quân đội.Sau hòa bình chuyển ngành làm Giám đốc Sở lương thực Hà Nội, Thành uỷ viên Đảng bộ Hà Nội.Mất ở Hà Nội năm 1969.

Ngô Phúc Thanh
Thái bảo Vĩnh lộc Hầu ,
Thuỵ Trung Túc phủ quân.Con Thuần trung HầuNgô Phúc Hà , cháu Tổng binhNgô Phúc Hải, tằng tôn Quản Lĩnh công Ngô Nước ,thân sinh Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, vào đời thứ 24 họ Ngô Trảo Nha. Ông làm Trấn thủ trấn Nghệ An 10 năm được mệnh danh “Nam diện Trường thành”
Nghệ An xứ Đô Tổng binh sứ ty Đô tổng binh sứ, tặng phong Thái Bảo.
Mất trước ngày họ Mạc cướp ngôi vua Lê. Mộ táng trên núi Ngũ lão huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Ông sinh Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu.

Ngô Phúc Thạnh
Dự võ Hầu,
Con thứ Trạc võ HầuNgô Phúc Kỳ, cháu nội Hàn Quận côngNgô Phúc Đang, vào đời thứ 29 dòng Ngô Nước Trảo Nha, thuỷ tổ hai chi Bảo Sơn và Tiên lương huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Trung Thận (Tên tự)
Cảnh Quận công,
Con Vinh Quận công, thân sinh Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn vàNgô Phúc Thiện, chi 5 họ Trảo Nha dòng Ngô Nước.

Ngô Bá Thi
Thuỷ tổ họ Ngô Mông lãnh huyện Quế sơn tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, con Khuông lễ BáNgô Phúc Thiện, cháu nội Cảnh Quận công ,thuộc chi 5 Trảo Nha dòng Ngô Nước thiên cư vào thời Tây Sơn ra Bắc.

Ngô Phúc Thiêm (1628-1662)
Nhuận Quận công,
Con trưởng Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, vào đời 28 dòng Ngô Nước Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, tự Chân Thể, thuỵ Thận Ý phủ quân.
Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tham đốc thần vũ Tứ vệ, tặng Nam quân Đô
đốc phủ Đô đốc Thiểm sự Nhuận Quận công, Thượng Trụ quốc.
Ông là một tướng kiêu dũng, đã đánh là thắng, không thua trận nào.Năm 13 tuổi được phong tước Nham Quận công,15 tuổi thi trận pháp đỗ đầu thí sinh cả nước, 17 tuổi cầm quân đánh Mạc ở Cao Bằng, 18 tuổi tham gia dẹp nội biến Trịnh Lạc, Trịnh Khâm được phong Đô đốc Phủ Đề đốc.Chúa Trịnh Tráng cho đổi họ Trịnh, thành Trịnh Phúc Thiêm và gả Quận chúa cho.Năm 22 tuổi ly dị Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Mai ,bị biếm, lại bị vu oan tư thông cung phi nên bị hạ ngục,đổi sang họ Phạm, thành Phạm Phúc Thiêm, tước quyền thừa kế hương hoả họ Ngô.
Gặp khi quân Chúa Nguyễn ra đánh và chiếm đóng từ bờ nam sông Lam trở vào sáu bảy năm, Chúa Trịnh Tạc phải xoá tội, điều vào Nghệ An cầm quân dưới trướng Tô Quốc doanh Trịnh Căn.
Ông đem hết mọi hùng tài thao lược ra thi thố, chỉ qua vài trận kịch chiến, đánh tan Quận Hùng, Quận Nhuệ ở núi Ngưu sơn (Nghi xuân), tiến đánh phá quân Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đóng ở Mai sơn (Can Lộc), truy kich quân Chúa Nguyễn đến tận bờ sông Nhật Lễ,thu phục toàn bộ đất đai bị chiếm đóng gần 7 năm.
Sau khi chiến thắng, triều đình luận công,ông được công đầu ,phong Nhuận Quận công ,chức Đề đốc, đóng quân ở huyện nhà, trấn giữ phía nam, lại cho phục hồi họ Ngô, trả lại quyền thừa kế hương hoả.Chưa đầy một năm ông bị bệnh từ trần.
Bà cả là Quận chúa Ngọc Mai,ông ly dị khi chưa có con,bà thứ Lê Thị Điều,tục gọi là
Bà Thượng cũng không có con.
Trong thời kỳ bị biếm ở Thăng Long,ông có bà thiếp họ Nguyễn sinh một con trai.
Bà đã đem con trai về Hải Dương, sinh con đẻ cháu thành chi họ Ngô ở xã Chi Lăng Bắc,
huyện Ninh thanh Hải Hưng (thuộc trấn Hải Dương cũ).
Sau ngày chiến thắng ở bờ nam sông Lam được phục hồi chức tước đóng quân tại huyện
nhà,ông có lấy thêm bà thiếp họ Mai,người làng Hàm Anh (nay thuộc xã Tân Lộc huyện Can Lộc).
Vừa lúc ông từ trần,bà sinh một con trai,sinh sống tại quê Hàm Anh.
Người con trai ấy trở thành Thủy tổ chi họ Ngô Tân Lộc ngày nay.
Dân làng Nghiện hùng, xã Trảo Nha, huyện Can Lộc Hà Tĩnh trọng tài của ông thờ làm Phúc thần.Sắc phong Dực bảo Trung hưng Trung đẳng Tôn thần.

Ngô Phúc Thiện
Khuông lễ Bá
Con trai thứ Cảnh Quận công ,em Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn, chi 5 họ Ngô Trảo Nha. Sa cơ trong khi đánh quân Tây Sơn, rút vào Phú Xuân, cha con bị bắt đưa vào Quảng Nam. Sau con ở lại Mông lãnh Quế sơn, cha trở về quê Trảo Nha.

Ngô Phúc Thụ (1650-1724)
Vinh Quận công,
Con trưởng Phượng Quận côngNgô Phúc Hộ chi 5 họ Ngô Trảo Nha, sinh Nhuệ võ Hầu, Phổ Quận công,Hạo Quận công, Cảnh Quận công, có cháu tằng tôn là Đại tư đồ Hoành Quận công, con cháu ngày nay vào đời thứ 40.

Ngô Phúc Thuần
Thuần trung Hầu,
Con trai Đại tư đồ Hoành Quận công, con rể Án đô Vương Trịnh Bồng, tử trận khi đánh chặn quân Nguyễn Hữu Chỉnh, không có con.

Phan Thị Thuấn
Tiết liệt Phu nhân,
Người làng Nha Kỳ xã Trảo Nha huyện Can Lộc,vợ thứ ba Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn ,tử tiết theo chồng năm 1786.Khỏang năm Chiêu Thống truy xét đến những người tiết nghĩa Bà và Thu lĩnh Hầu đều được dự phong,Triều đình còn hạ lệnh cho dân sở tại lập đền thờ Bà tại thôn Thúy Lĩnh,xã Lĩnh Nam,huyện Thanh Trì Hà Nội.
Năm Tự Đức thứ 12 (1859) được ban cho chữ:”Lê triều tiết liệt phu nhân Phan Thị chi từ”(Đền thờ Phan Thị ,người đàn bà tiết liệt triều nhà Lê),dựng bia ở phía đông đền.Sắc phong Thượng đẳng Tôn thần.(Xem nhân vật đột xuất ở phần trên).

Ngô Phúc Thuận
Chân Lộc Hầu,
Con Diên Quận công, em Đô Chỉ huy sứNgô Phúc Cẩm, anh Tại bá Hầu, vào đời 29 dòng Vỵ Quận công họ Ngô Trảo Nha. Bà Nguyễn Thị Hành (phả cũ khôn ghi con cháu).
Tại bá Hầu và Chân Lộc Hầu đều thất truyền.Ngô Phúc Cẩm là Thuỷ tổ họ Ngô Tam Đa.

Ngô Phúc Thước
Thước võ Bá,
Tiên tổ chi họ Ngô ở phường Thổ Quan quận Đống Đa Hà Nội,chức Thiên kỵ Thị vệ thời Lê Chiêu Thống.Vốn dòng dõiNgô Phúc Liêu ở Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,khi Lê Trịnh sụp đổ, Bắc thành thuộc vế Tây Sơn, ông lánh về làng Quan Thổ xã Thổ Quan, con cháu ngày càng Đông Thành chi họ. Ông sinh con traiNgô Phúc Hiển.

Ngô Phúc Thuyên
Thuyên phái Hầu,
Con thứ tư Phượng Quận côngNgô Phúc Hộ,không rõ tên huý, cháu nội Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, là tiên tổ phái 4 chi 5 họ Ngô Trảo Nha ở Thị trấn Can Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,phân chi đi Đông thôn huyện Hưng Nguyên Nghệ An, huyện Bình Chánh tỉnh Quảng Bình.

Ngô Phúc Tịnh
Thái bảo Tứ Quận công,
Tự Minh Triết, thuỵ Đức Long phủ quân.Con trưởng Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, cháu Vĩnh lộc HầuNgô Phúc Thanh, dòng Ngô Nước Trảo Nha.Giúp Lê Trịnh có nhiều chiến công đánh Mạc,Trấn thủ Nghệ An, tham dự Nghị sự đường.
Hiệp mưu dương võ Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,
Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Tứ Quận công,gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc.
Thời còn trẻ ở Thanh Hóa, lấy bà Lê Thị Đệ con gái Lê Tướng công người huyện Đông Sơn, có hai con trai là Tào Quận côngNgô Phúc Vạn,Vỵ Quận công và ba con gái.
Sau ngày Lê Trịnh thắng Mạc về Thăng Long,Triết Vương Trịnh Tùng gả Quận chúa Ngọc Mai cho ông.Quận chúa không có con,là con Chúa nên làm Chánh thất

Ngô Phúc Trạch
Con trai Hoành phố Hầu Ngô Hoành, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, dòng Ngô Nước Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô xã Thái Hà Vạn lộc Hà Tĩnh.

Ngô Phúc Trị
Toản võ Hầu,
Tiên tổ chi 9 họ Ngô Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, con trai Tào Quận côngNgô Phúc Vạn, đời 28 dòng Ngô Nước. Là chi họ có Ngô Đức Kế, Ngô Đức Diễn.
Thị võ ở phủ, trúng cách ra làm Quản quân, dòng dõi Quân thần được phong tước Hầu,
làm Lực sĩ Ty lực sỹ Hiệu uý, sau được thăng Đô chỉ huy sứ ty Chỉ huy Đồng tri,
Thượng Trụ quốc,
sinh Dật võ Hầu Ngô Phúc Bình.

Ngô Phúc Triều
Khanh tương Hầu,
Con trai thứ mười Tào Quận côngNgô Phúc Vạn ở Trảo Nha, Trấn thủ đồn Bến Trọng (Đồng hới),vợ con ở lại đó không về, nay thành thuỷ tổ họ Ngô ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình,một chi ở Phổ Trạch,một dòng theo công giáo vào ở xã Đại Phong ,tức là dòng có Ngô Đình Diệm.Con trưởng ông Ngô Phúc Triều sau trở về Trảo Nha ,qua bốn đời độc đinh đến Ngô Viến đời thứ 34, sinh con trai vô tự.

Ngô Phúc Trinh
Con Hoành phố HầuNgô Phúc Hoành, xã Chi châu huyện Thạch Hà, dòng Ngô Nước họ Trảo Nha, Thuỷ tổ họ Ngô Cẩm Tiến huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh. Phân một chi ra Yên Hồ huyện Đức Thọ.

Ngô Phúc Trọng
Trọng võ Hầu,
Con trưởng Đại tư đồ Hòanh Quận côngNgô Phúc Phương, chi 5 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước, đỗ Tạo sỹ, làm Quân tả bộ hiệu thời Lê Trịnh. Sau ngày Lê Chiêu Thống chạy(1788), về ở Ninh Sơn, nay là xã Ninh hiệp huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, con cháu về quê Trảo Nha. Ông lấy con gái Trung Quốc công Vũ Tất rất giàu có. Nhà thơ Ngô Xuân Diệu là trưởng chi sau này.

Ngô Truân
Ông bố người họ Ngô xã Mông lãnh huyện Quế sơn, gốc Trảo Nha Hà Tĩnh.Nổi tiếng thần đồng từ nhỏ.
Ông sinh năm quý dậu 1873, thi đỗ Cử nhân năm giáp ngọ 1894,đỗ Phó bảng khoa mậu tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1898). Khoa thi này tỉnh Quảng Nam năm người trúng Đại khoa là Phạm Liệu, Phạm Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân, Dương hiến Tiên. Tổng đốc Quảng Nam thêu lá cờ có năm con chim phượng đón Tân khoa,đương thời gọi là “Ngũ phượng
tổ phi “.
Ông ra làm Tri huyện Hương Sơn, được vài năm bị bệnh từ trần.

Ngô Từ (1370-1453)
Diên ý Dụ vương,
Thái úy ,Thái bảo Chương khánh Công,
Con trưởng Hưng Quốc công Ngô Kinh, phong Bình Ngô Khai quốc Đệ nhất Công thần, Thái úy Bàng khê Hầu,thăng thụ Thái bảo Chương khánh Công, gia phong Bảo chính Công thần, Tả Kim ngô Vệ tướng quân, Chỉ nội Đại Hành khiển Thượng tướng quân, phụ quốc chính, gia Thượng Trí tự, ban thuỵ Bàng Khê Thượng sỹ, gia tặng Dụ vương. Triều Lê Thánh Tông gia tặng Diên ý Dụ vương. Qua các triều đại đều được phong Thượng đẳng Phúc thần.
Triều Gia Long nhà Nguyễn lựa chọn các công thần khai quốc triều Lê được 15 người, trong đó có Dụ Vương Ngô Từ, cho mỗi họ một người được miễn tất cả mọi sai dịch, lo việc phụng sự hương khói.
Ông sinh giờ dần ngày 2 tháng 2 năm canh tuất 1370,mất ngày 8 tháng 3 (nhuận) năm quý dậu 1453, mộ táng ở xứ Lò đó, làng Thung Thượng, gần mộ Tổ Ngô Rô.
Ông có hai bà:
Đinh Thị Ngọc Kế, sinh năm giáp thìn 1364,Kiêm bảo Từ cung Đại Hòang Kiền,hiệu Diệu Thiện phu nhân ,tặng Chính quốc phi Quốc Phu nhân,người xã Đô kha huyện An lão,em Đinh vĩnh Thái,con gái Đinh thế Biểu và bà Trần Thị Ngọc Huy con Trần Tướng công người xã Yên lão huyện Thư trì,mộ táng sau miếu làng Yên lão huyện Thư trì,do Vua Thánh Tông nhà Lê sai thầy chọn đất táng tại đó và lệnh cho dân địa phương phụ tử.
Đinh Thị Ngọc Son,phong Túc Huệ Chiêu cảm Hòang Kiền,hiệu Từ Nhan, Á Quận Phu nhân,con gái Tướng quân Đinh vĩnh Thái,người xã Đô kha huyện An lão.Bà mất ngày 18 tháng 8.Sau này Vua Lê Thánh Tông sai thầy địa lý chọn huyệt tốt táng tại xứ Bạch long sa xã Kỳ La huyện Kỳ Hoa,đền thờ gọi là Điện Hòang kiền.
Ông sinh 11 con trai và 8 con gái:
Ngô Việt Thái bảo Nghĩa Vương ,Chiêu nghĩa Hầu,
Ngô Lộc Mỹ Quận công,
Ngô Hồng Điện bàn Hầu,
Ngô Ký Thái uý Nghĩa Quận công,
Ngô Khế Thái úy Thanh Quốc công,
Ngô Lan Thái bảo Hán Quốc công,
Ngô Nạp Huệ Quốc công ,
Ngô Hộ Đức Quận công,
Ngô Lương Tả Kiểm điểm,
Ngô Hữu Tề Quận công ,
Ngô Nhạn Thái bảo Từ Quốc công,
Ngô Thị Ngọc Liêu Hoa dung Công chúa,lấy Lương Quận công Nguyễn Lương ,
Ngô Thị Ngọc Phúc Á Quận quân,lấy Trịnh Khả, Thái phó Đình thượng Hầu Liệt
Quốc công ,
Ngô Thị Ngọc Đức Á Quận quân,lấy Bùi Ban, Minh Quận công,
Ngô Thị Ngọc Thung Cung phi, vợ Lê Thái Tôn,
Ngô Thị Ngọc Dao Tiệp dư,vợ Lê Thái Tôn,mẹ Lê Thánh Tông,
phong Quang Thục Hòang Thái hậu ,
Ngô Thị Ngọc Lũy Á Quận quân,lấy Tuấn vũ Hầu Lê Ngọc Kiệt,
Ngô Thị Ngọc Vỹ Á Quận quân,lấy Bình giang Hầu Lê Trung,
Ngô Thị Ngọc Hạ Á Quận quân,lấy Lương Quốc công Lê Thụ.

Ngô Phúc Vạn (1577-1652)
Phó tướng,Thái bảo Tào Quận công,
Con Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh, cháu Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu, anh Vỵ Quận công.Ông có tên khác là Phúc Mại,tự Tử Hán, hiệu Huân Dương chân nhân,sinh giờ dần ngày 20 tháng 5 năm Đinh Sửu, mất 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn(1577-1652).
Là một danh tướng, một trọng thần thời Lê trung hưng, phía bắc dẹp Mạc bắt Mạc Kính Cung, phía nam chống Nguyễn,10 năm Trấn thủ trấn Nghệ An,quân Nguyễn không dám xâm phạm bờ cõi, năm con trai đều trọng trấn mỗi người một nơi. Được mở “Trung nhuệ Quân doanh”, tham gia Nghị sự đường, cuối đời được Chúa Trịnh Tráng uỷ thác cầm Kim sách lên Long trì nhận trăm quan lạy mừng.
Đền và mộ ở Thị trấn Can Lộc Hà Tĩnh, ngày nay đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.
Ông có bảy bà vợ, sinh 25 con trai gái .Chính thất là Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Uyên con gái Trịnh Tùng,em Thanh Đô Vương Trịnh Tráng.Mười con trai, năm người tước Quận công, ba người phong tước cùng một ngày là Ngô Phúc Đang,Ngô Phúc Hạp,Ngô Phúc Hộ (ngày 19 tháng 4 năm Vĩnh Trị thứ 3 -1678) và năm tước Hầu. 15 con gái có hai người vào cung làm vợ Chúa: Ngô Thị Ngọc Phương phong Khắc Noãn, Ngô Thị Ngọc Tôn phong Hoa Dung.
Mười con trai nay thành mười chi họ:
Ngô Phúc Thiêm Đô đốc Nhuận Quận công,chi trưởng;
Ngô Phúc Đang Thiếu Bảo Hàn Quận công;
Ngô Phúc Hạp Đô đốc Đằng Quận công;
Ngô Phúc Tân Đáng Quận công;
Ngô Phúc Hộ Đô đốc Phượng Quận công;
Ngô Phúc Điền Kiêm lộc Hầu;
Ngô Phúc Liêu Hào mỹ Hầu;
Ngô Phúc Phổ (Bạc)Vân lĩnh Hầu;
Ngô Phúc Trị Toản võ Hầu;
Ngô Phúc Triều Khanh tương Hầu.
Ngô Xương Văn (934-965)
Nam Tấn vương,
Con thứ hai Ngô Vương Quyền.
Năm 945 Dương Tam Kha dành ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập tiếm xưng Bình Vương, khi đó Ngô Xương Văn còn ít tuổi được Dương Tam Kha nhận làm con nuôi trong cung.
Năm 950 ,được Dương Tam Kha cử cùng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi dẫn quân đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở Thái Bình (Sơn Tây ngày nay), nửa đường quay binh về phế Tam Kha làm Trương dương Công, đón anh Xương Ngập về cùng coi việc nước, tôn anh làm Thiên Sách vương,tự mình làm Nam Tấn vương.
Năm 954, Ngô Xương Ngập từ trần,Nam Tấn vương cầm quyền chính.
Năm 965 đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở Thái Bình(thuộc Sơn Tây ngày nay),bị trúng tên độc từ trần.Ngô Xương Xý con trưởng Ngô Xương Ngập kế vị,bị sức ép của các tướng,thế yếu nên rút quân về Bình Kiều tự thủ,trở thành 1 trong 12 Sứ quân.
Ngô Xương Văn có hai bà:
Bà Dương Văn Nga là con gái Dương Tam Kha,cháu Dương Diên Nghệ,sau trở thành Hòang hậu nhà Đinh(vợ Đinh Tiên Hòang sinh Đinh Đế Tòan) và là Hòang hậu nhà Tiền Lê (vợ Lê Hòan), sinh Ngô Nhật Khánh.
Bà Lý Thị Ngọc Dư sinh Ngô Nhật Chung.
Nhật Chung trở thành Đại Điền chủ ở Đỗ động sinh Nhật Minh.
Nhật Khánh sau xưng là An Vương, trở thành một trong 12 Sứ quân.
HỌC VỊ-QUAN TƯỚC
Tổng hợp chung những người họ Ngô ở Việt Nam
(có gốc Trảo Nha)
(Tính đến trước năm 1945)
TƯỚC VƯƠNG

1 Tiền Ngô Vương 5 Ngô Vương Quyền
2 Thiên Sách Vương 6 Ngô Xương Ngập
3 Nam Tấn Vương 6 Ngô Xương Văn
4 Diên ý Dụ Vương 19 Ngô Từ Thái Úy, Chương khánh Công
5 Nghĩa Vương 20 Ngô Việt Thái Bảo,Chiêu nghĩa Hầu
6 Diễn Nghĩa Vương 21 Ngô Tông, Thái Bảo
7 Nhân Nghĩa Vương 21 Ngô Nhân Tổng Thái Bảo,Diễn Quốc công

QUỐC CÔNG

1 Dực Quốc công 21 Ngô Thế Bang Thái Bảo, Tả Đô đốc
2 Diễn Quốc công 21 Ngô Nhân Tổng Thái Bảo,Nhân nghĩa Vương
3 Hán Quốc công 20 Ngô Lan Thái Bảo, Đô Kiểm điểm
4 Hoa Quốc công 20 Ngô Ưng Chưởng Bắc phủ
5 Huệ Quốc công 20 Ngô Nạp Đô Chỉ huy sứ
6 Hưng Quốc công 18 Ngô Kinh Thái Phó
7 Nghị Quốc công 25 Ngô Nhân Trừng (Trầm) Hoàng giáp1580,Thái Úy
8 Sùng Quốc công 20 Ngô Xuyến Họ Ngọc Giả
9 Thanh Quốc công 20 Ngô Khế Thái Úy,Tư đồ,Thái Bảo
đốc
10Từ Quốc công 20 Ngô Nhạn Thái Bảo,Chưởng Bắc phủ
11Uy Quốc công Ngô Liễu Tả Hiệu điểm Dũng lược Hầu
12Vinh Quốc công 21 Ngô Lê Chính Thái Bảo / Họ Phạm Xá
13Vinh Quốc công 29 Ngô Đình Phúc Mậu nghĩa Hầu,
gia phong Thái tể Vinh Quốc công,
tái gia phong Mậu nghĩa Công
14 Việt Quốc công 09 Lý Thường Kiệt Thái Úy,Phụ quốc Thái Phó

TƯỚC CÔNG
Chương khánh Công 19 Ngô Từ Thái Úy
Diên mỹ Công 19 Ngô Đức Tả tướng quân
Mậu nghĩa Công 29 Ngô Đình Phúc Mậu nghĩa Hầu,gia phong Thái tể

QUẬN CÔNG
Cảnh Quận công 30 Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ
Chấn Quận công Ngô Văn Sở Đại tư mã
Diên Quận công 28 Con Vỵ Quận công
Diễn Quận công 21 Ngô Tông Thái Bảo
Đáng Quận công 28 Ngô Phúc Tân Khiêm cung Hầu
Đằng Quận công 28 Ngô Phúc Hạp Đô đốc,Chân kỳ Hầu
Đức Quận công 20 Ngô Hộ Đô đốc
Đức Quận công 20 Ngô Lương Chính thắng Hầu
Hàn Quận công 28 Ngô Phúc Đang Thiếu Bảo
Hạo Quận công 30 Con Vinh Quận công Đô Chỉ huy sứ
Hoành Quận công 32 Ngô Phúc Phương Đại tư đồ,Phương kỳ Hầu,
Tả Đô đốc
Khiêm Quận công 30 Ngô Phúc Lâm Tiến sĩ 1766, Thị lang ,Tham
chính
Lý Quận công 28 Con Vỵ Quận công Đề đốc
Mỹ Quận công 20 Ngô Lộc Tứ vệ Đô đốc,Nhập nội Kiểm
điểm.
Nam Quận công 21 Ngô Khắc Cung Thái Phó,Đông quân Đô đốc phủ
Chưởng Phủ sự
Nghi Quận công 20 Ngô Trầm (Con Ngô Khiêm)
Nghĩa Quận công 22 Ngô Công Tín Thái Bảo,Nghĩa Lộc Vương
Nhuận Quận công 28 Ngô Phúc Thiêm Đô đốc
Phổ Quận công 30 Con Vinh Quận công
Phượng Quận công 28 Ngô Phúc Hộ Đô đốc
Quận công 23 Ngô Phúc Thưởng
Tào Quận công 27 Ngô Phúc Vạn Tả Đô đốc, Trung quân Đô đốc
phủ Thiếu Phó,Phó tướng Thái
bảo,Tào khê Hầu
Tây Quận công 21 Ngô Công Tín
Tề Quận công 20 Ngô Hữu Tham đốc
Thân Quận công 21 Ngô Tây Đô Chỉ huy sứ,Đại Tướng quân
Thận Quận công 19 Ngô Khiêm
Thế Quận công 25 Ngô Cảnh Hựu (Phúc Trừng)Thái Bảo,Thái Phó
Thụy Quận công 21 Ngô Văn Bính Thái Bảo,Tả Đô đốc,Chưởng Phủ
sự
Tứ Quận công 26 Ngô Phúc Tịnh Thái Bảo,Tả Đô đốc
Vinh Quận công 29 Ngô Phúc Thụ
Vỵ Quận công 27 Em Tào Quận công

TƯỚC HẦU

Câu kê Hầu 26 Con Thế Quận công
Chân kỳ Hầu 28 Ngô Phúc Hạp Đằng Quận công
Chân lộc Hầu 29 Ngô Phúc Thuận Phó Trung úy
Chiêu nghĩa Hầu 20 Ngô Việt Thái Bảo,Phong tặng Nghĩa
Vương.
Chính thắng Hầu 20 Ngô Lương Đức Quận công
Dật trung Hầu 31 Ngô Phúc Trường
Dật võ Hầu 29 Ngô Phúc Bình
Dự võ Hầu 30 Con Trạc võ Hầu
Đàm dương Hầu 21 Ngô Tuyên Minh dực Tướng quân
Điện bàn Hầu 20 Ngô Hồng Đô đốc Thân quân,Hữu Hiệu điểm
Đôn mỹ Hầu 20 Ngô Lộc Tứ vệ Đô đốc, Mỹ Quận công
Hào mỹ Hầu 28 Ngô Phúc Liêu
Hoán trung Hầu 24 Ngô Đà Chánh Đội trưởng
Hoành phố Hầu 26 Ngô Phúc Hoành
Huân cơ Hầu 29 Ngô Phúc Huân
Khang trạch Hầu 26 Ngô Phúc Mai (Mai Trai)Đô Chỉ huy sứ
Khanh tương Hầu 28 Ngô Phúc Triều
Khiêm cung Hầu 28 Ngô Phúc Tân Đáng Quận công
Khóat võ Hầu 33 Ngô Phúc Giám
Kiêm lộc Hầu 28 Ngô Phúc Điền Cấm y vệ Thự vệ,Chánh Cai đội
Kiên thọ Hầu 27 Ngô Phúc Tiến Tả Thị lang Bộ lễ, Đô Ngự sử
Kiến tường Hầu 17 Ngô Tây Hổ bôn vệ Thượng Tướng quân
Lãng phương Hầu 31 Ngô Phúc Chánh Quả cảm Tướng quân,Chánh Vệ úy
Ngạn trung Hầu 33 Con Hoành Quận công
Nghĩa tường Hầu 21 Ngô Hóan Bảng nhãn,Tao đàn tướng
Lại bộ Thượng thư
Nhiệm phái Hầu 31 Con Phái trung Hầu
Nhuệ võ Hầu 30 Ngô Phúc Đẩu
Nhưỡng thọ Hầu 27 Ngô Bá Khánh
Phái trung Hầu 30 Con Thuyên phái Hầu
Phú vinh Hầu 30 Phan (Ngô) Chính Đức
Suyền cung Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tại bá Hầu 29 Con Diên Quận công Chánh Đội trưởng
Thanh vân Hầu 31 Con Long võ Hầu
Thu lĩnh Hầu 31 Ngô Cảnh Hoàn
Thuận lộc Hầu 29 Ngô Phúc Cẩm Tham đốc,Câm y vệ Đô Chỉ huy sứ
Thuận trung Hầu 23 Ngô Phúc Hà (tặng phong)
Thuần trung Hầu 33 Con Hoành Quận công
Thuật võ Hầu 29 Con Hàn Quận công
Thụy tường Hầu 17 Ngô Tây Tặng phong
Thuyên phái Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tín vũ Hầu 28 Con Vân lộc Hầu Chánh Đội trưởng
Tỏan võ Hầu 28 Ngô Phúc Trị Chỉ huy Đồng tri
Trà lĩnh Hầu 23 Ngô Đức Trung
Trạc võ Hầu 29 Ngô Phúc Kỳ Hữu Kiểm điểm
Trâm ngọc Hầu 32 Ngô Lượng Lang
Trân định Hầu Ngô Phúc Tiệm
Triều phương Hầu 23 Ngô Bình Đô đốc Đồng tri
Triều thiên Hầu 24 Ngô Phúc Thắng Tả Hiệu điểm
Trọng võ Hầu 33 Ngô Phúc Trọng
Trung dũng Hầu 09 Lý Thường Hiến (Ngô Chương)
Trung tráng Hầu 21 Ngô Thọ Pháp Thái Bảo
Suy trung Dực vận Tán trị Công thần
Tuấn đức Hầu 29 Con Phượng Quận công
Tuấn võ Hầu 33 Con Ngô Phúc Phương
Tư lộc Hầu 30 Ngô Phúc Sùng
Úy vũ Hầu 23 Ngô Hoằng Nghị Đô chỉ huy Đồng tri,
Minh dực Tướng quân
Vân lĩnh Hầu 28 Ngô Phúc Phổ (Bạc)
Vân lộc Hầu 27 Con Khang trạch Hầu Đô Chỉ huy sứ
Vinh thái Hầu 28 Ngô Phúc Khê
Vĩnh Lộc Hầu 24 Ngô Phúc Thanh Thái Bảo,Trấn thủ Nghệ An
Vĩnh sơn Hầu 27 Ngô Vỵ (tự An Sơn) Tả Thị lang
Vỵ phái Hầu 29 Con Phượng Quận công

TƯỚC BÁ

Chuẩn tường Bá 28 Ngô Phương Viên
Diễn phái Bá 31 Con Phái trung Hầu
Diễn võ Bá 33 Ngô Phúc Diễn
Đoan thọ Bá Con Thanh vân Hầu
Khuông lễ Bá 31 Ngô Phúc Thiện
Kiều phong Bá Ngô Thanh Tu Hồng lô Tự Khanh
Phàn thọ Bá 30 Con Thuyên phái Hầu
Thước võ Bá 31 Ngô Phúc Thước Thiên kỵ Thị vệ

TƯỚC NAM

Kiên thọ Nam 27 Ngô Phúc Tiến Lễ bộ Tả Thị lang,Kiên thọ Hầu
QUAN TƯỚC

Hàm Chánh Nhất phẩm

Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Khế 20 Thanh Quốc công ,Thái Úy Tư đồ
2 Ngô Thế Bang 21 Dực Quốc công ,Thái Bảo

3 Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc,Thượng trụ quốc
4 Ngô Tẩy 21 Thân Quận công
5 Ngô Nguyễn(Nghiễm) Xuân lệnh Hầu,Tiến sĩ 1731, Thị lang
6 Ngô Văn Bính 21 Thụy Quận công,Tây Kinh Đô đốc Chưởng Phủ sự,
Thái Bảo
7 Ngô Phúc Thắng 24 Triều thiên Hầu,Tả Hiệu điểm
8 Ngô Phúc Tiến 27 Kiên thọ Hầu,Ngự sử Đài Đô Ngự sử,Lễ bộ Tả Thị lang
9 Ngô Phúc Thứ Lễ bộ Tả Thị lang, gia tặng Ngự sử đài Đô Ngự sử

Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công, Phụ quốc Công thần, Tây quân Đô đốc
phủ Tả Đô đốc ,Thiếu Bảo gia phong Thái Bảo Thượng
Trụ quốc Thượng Tướng quân, Bật nghĩa Doanh
Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Hiệp mưu Dương võ Công thần,Nam quân
Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thái Bảo,Thượng Trụ quốc.
Ngô Phúc Vạn: 27 Tào Quận công, Dương võ Uy dũng Công thần,
Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,
Trung nhuệ Quân doanh, Phó tướng Thiếu Úy
gia phong Thái Bảo Thượng Trụ quốc Vạn Quận công.
Ngô Phúc Thiêm 28 Nhuận Quận công, Tham đốc Thần vũ Tứ vệ, tặng Nam
quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiểm sự Thượng Trụ quố
Hạo Quận công 30 Thượng Trụ quốc,
Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,tước Hạo Quận công.

ThượngTrụ quốc
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1. Lý Thường Kiệt 9 Việt quốc công,Phụ quốc Thái Phó,Lâm Bình Tíet độ sứ,
Phụ quốc Thượng tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử Nghĩa đệ,Thái Úy đồng Trung thư môn hạ,
Đông Bình chương quân quốc trọng sự.
2. Ngô Khế 20 Thái Úy Thanh Quốc công
3. Ngô Thế Bang 21 Thái Bảo Dực Quốc công,Đặc tiến Kim tử Vinh lộc
Đại phu,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc,Chưởng Phủ sự Phụ quốc,Đông Bình chương Quân quốc trọng sự
4. Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc
5. Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Phụ quốc Công thần,Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thiếu Bảo,gia phong Thái Bảo,
Thượng Tướng quân Bật Nghĩa doanh
6. Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Hiệp mưu Dương võ Công thần,Đặc tiến
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Nam quân Đô đốc phủ
Tả Đô đốc,Thái Bảo
7. Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Dương võ Uy dũng Công thần,Đặc tiến
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự,Trung nhuệ Quân doanh,
Phó tướng Thiếu Úy gia phong Thái Bảo
8. Ngô Phúc Trị 28 Toản võ Hầu,Lực sĩ Ty Lực sĩ Hiệu úy,
Đô Chỉ huy sứ ty Chỉ huy Đồng tri
9. Ngô Phúc Thiêm 28 Nhuận Quận công,Đặ tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân
Tham đốc Thần vũ tứ vệ,tặng Nam quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiêm sự
10. Hạo Quận công 30 Con Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,
Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân,Cai cơ Đô Chỉ huy sứ,tước Hạo Quận công

Thái Sư
Ngô Chân Lưu 7 Khuông Việt Thái Sư,Tăng thống

Thái Úy
Lý Thường Kiệt 9 Việt Quốc công,
Phụ quốc Thái Phó Lâm Bình Tiết Độ sứ,
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử Nghĩa đệ, Đồng Trung thư môn hạ,
Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự,Thượng Trụ
quốc.
Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Diên ý Dụ Vương.
Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Tư đồ,Thái Bảo.
Ngô Ký 20 Nghĩa Quận công.

Thái Phó
Ngô Kinh 18 Hưng Quốc công.
Ngô Nhân Duyên 21 Đoan Quận công,Tây khê Hầu.
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc Chưởng Phủ sự.
Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Thái Bảo,Phó tướng.

Thái Bảo
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Thái Úy, Diên ý Dụ Vương .
2 Ngô Tuy Tiến sĩ 1499,Hàn lâm Viện Hiệu thảo.
3 Ngô Nhạn 20 Hán Quốc công.
5 Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Đức Quận công,Tư Đồ.
6 Ngô Phúc Thanh 24 Vĩnh lộc Hầu,Đô Tổng binh
7 Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Tây quân Tả Đô đốc,Thái Phó.
8 Ngô Phúc Tịnh 26 Tứ Quận công,Tả Đô đốc.
9 Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Phó tướng,Tả Đô đốc Tào khê Hầu.
Đông Bình chương Quân quốc Trọng sự
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Lý Thường Kiệt 9 Thái Úy Việt Quốc công,Thượng Trụ quốc,
Phụ quốc Thái Phó, Lâm Bình Tiết Độ sứ
Phụ quốc Thượng Tướng quân,Khai quốc Công thần,
Thiên tử nghĩa đệ, Đồng Trung thư môn hạ .
Ngô Khế 20 Thái Úy Thanh Quốc công,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn Công
thần,ĐTKTVLĐP.
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Tả Đô đốc,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn
Công thần,ĐTKTVLĐP.
Ngô Thế Bang 21 Dực Quốc công,Tả Đô đốc,Thượng Trụ quốc,
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn
Công thần,Suy trung Tuyên lực Dực bảo Trung hưng
Công thần,ĐTKTVLĐP.

Tư Đồ
Ngô Khế 20 Thanh Quốc công,Thái Úy.

Chánh Nhị phẩm

Thiếu Phó

Ngô Phúc Vạn 27 Tào Quận công,Thái Bảo,Phó tướng.

Thiếu Bảo
Ngô Cảnh Hựu 25 Thế Quận công,Thái Bảo, Tả Đô đốc.
Ngô Phúc Đang 28 Hàn Quận công.

Tùng Nhị phẩm

Thái tử Thiếu Bảo
Ngô Từ 19 Chương khánh Công,Diên ý Dụ Vương.
Ngô Lan 20 Hán Quốc công,Thượng Tướng quân,Đô Kiểm điểm.

Tả Hữu Kiểm điểm/Tả Hữu Hiệu điểm

Ngô Phúc Thắng 24 Triều thiên Hầu
Tả hổ vệ
Ngô Lương 20 Tả Hiệu điểm

Tham đốc
Khang trạch Hầu 26 thụy Mai Trai,Phụ quốc Thượng Tướng quân,
Đô Chỉ huy sứ ty
Ngô Phúc Cẩm 29 Thuận lộc Hầu ,Cấm y vệ Đô Chỉ huy sứ ty,

Đô đốc phủ Chưởng Phủ sự
Ngô Khắc Cung 21 Nam Quận công,Đông quân Đô đốc phủ,Thượng trụ
quốc
Ngô Văn Bính 21 Thụy Quận công,Tây Kinh,Phụ quốc Thượng Tướng
Quân

Đô đốc
Ngô Đam 19 Thượng Tướng quân
Ngô Phúc Vạn 27 Tả Đô đốc Trung nhuệ Quân doanh,Phó tướng
Chưởng phủ sự,Thái Bảo Tào Quận công

Chánh Tam phẩm

Đô Ngự sử
Ngô Phúc Tiến 27 Kiên thọ Hầu,Lễ bộ Tả Thị lang
Ngô Phúc Thứ Lễ bộ Tả Thị lang

Thị lang
Tên họ Đời thứ Hàm vị chức tước khác
Ngô Vỵ tự An Sơn 27 Hiển cung Đại phu,Vĩnh sơn Hầu
Ngô Phúc Tiến Kiên thọ Hầu,Ngự sử Đài Đô Ngự sử
Ngô Phúc Lâm 30 Tiến sĩ 1766,Khiêm Quận công,Tham chính
Sơn Tây,Tham trấn Thuận Hóa
Ngô Phúc Thứ Ngự sử đài Đô Ngự sử

Tổng binh Đồng tri
Ngô Phúc Hải 22 Trấn thủ Thái Nguyên
Tùng Tứ phẩm

Tế tửu Quốc Tử Giám

Ngô Trí Hòa 27 1592 Thượng thư Bộ hộ,Tế tửu Quốc Tử Giám,
Phú Xuân Hầu,truy phong Xuân Quận
công
Ngô Hải 1664 Phó Đô Ngự sử,Tế tửu
Ngô Đức Bình 33 1865 Án sát Quảng Bình
Triều liệt Đại phu
Ngô Huyền Sơn 26 Thông chính sứ

Hàn lâm viện Thị giảng

Ngô Soa 37
Ngô Thuần Cẩm 29 (Thổ Quan) Kiệt trung hiệu lực Tướng quân
Thước võ Bá 31 (Thổ Quan)

Cấm y vệ Thự vệ
Ngô Phúc Điền 28 Kiêm lộc Hầu Chánh Cai đội

Chánh Lục phẩm

Quang Lộc tự Thiếu khanh
Ngô Phùng 32
Tùng Lục phẩm

Quả cảm Tướng quân
Ngô Phúc Chánh 31 Lãng phương Hầu,Chánh Vệ úy

Tao đàn Nhị thập Bát tú
(Tháng 11 năm 1495 niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông)

Lê Thánh Tông Tao đàn Nguyên soái

Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung (TS 1469) và Đỗ Nhuận (TS 1466): Phó Nguyên soái;
Đông các Hiệu thư Ngô Luân (TS 1475) và Ngô Hoán (BN 1490),
Hàn lâm viện Thị độc: Nguyễn Trùng Xác và Lưu Hưng Hiếu (BN 1481),
Hàn lâm viện Thị thư :Nguyễn Quang Bật (TN 1484), Nguyễn Đức Huấn (BN 1487), Vũ Dương (TN 1493) và Ngô Thầm (BN 1493);
Hàn lâm viện Thị chế: Ngô Văn Cảnh (HG 1481), Phạm Trí Khiêm (HG 1484), Lưu Thị Mậu (Lưu Thư Ngạn-TH 1490);
Hàn lâm viện Hiệu lý: Nguyễn Nhân Bị (TS 1481),Nguyễn Tôn Miệt (TS 1481), Ngô Quyền ( Ngô Hoan-HG 1487), Nguyễn Bảo Khuê (HG 1487), Bùi Phổ (HG 1487), Dương Trực Nguyên (HG 1490) và Chu Hãn(Nguyễn Hoản-HG 1493),
Hàn lâm viện Kiểm thảo:
Phạm Cẩn Trực (TS 1484), Nguyễn Ích Tốn (TS 1484), Đỗ Thuần Thứ (Đỗ Thuần Nhân TS 1472), Phạm Như Huệ, Lưu Dịch (TS 1490), Đàm Thận Huy (TS 1490), Phạm Đạo Phú (TS 1490) và Chu Huân(TS 1493)

Họ Ngô có: Đời Năm thi đỗ Tước vị
Ngô Luân 23 1475 Tiến sĩ,Lễ bộ Thượng thư,Đông các Hiệu thư
Ngô Văn Cảnh(Ngô Trầm) 21 1481 Hoàng giáp,Tham đốc,Hán lâm viện Thị thư
Ngô Hoan (Ngô Quyền) 21 1487 Hoàng giáp,Đô Ngự sử,Hán lâm viện Hiệu lý
Ngô Hóan 21 1490 Bảng nhãn,Lại bộ Thượng thư, Nghĩa tường Hầu,Đông các Hiệu thư
Ngô Thầm 23 1493 Bảng nhãn,Thái Bảo, Hàn lâm viện Thị thư
HỌC VỊ
Tổng số Tiến sĩ từ đời Lý, Trần, (đời Trần gọi Tiến sĩ là Thái Học Sinh), đến triều
Thành Thái nhà Nguyễn(từ 1075 đến 1919)khoảng:
3277 Bảng nhãn,Thám hoa,Hoàng giáp,Tiến sĩ ,
56 Trạng Nguyên
Lý 41
Trần 376
Hồ 45
Lê Sơ: 1008 26 khoa thi
Triều Mạc 490 22
Lê trung hưng 759 73
Nguyễn 558/263 Chánh bảng

Tổng số 3277

HỌ NGÔ:
Trạng Nguyên 1
Bảng Nhãn 4
Thám Hoa 4
Hoàng Giáp 26
Tiến Sĩ 84
= 119
Hệ thống bia Tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội:
Từ năm Đại Bảo 3,1442- đến năm Cảnh Hưng 40,1779: Tổng số 82 bia

Tổng số Họ Ngô
Đệ Nhất giáp:
Trạng nguyên,Bảng nhãn,Thám hoa 85 7
Đệ Nhị giáp: Chánh Tiến sĩ,tức Hoàng Giáp 283 20
Đệ Tam giáp: Đồng Tiến sĩ xuất thân 939 19
Cộng chung 1307 46

Họ Ngô Việt Nam
1.Trạng nguyên Đệ Nhất giáp Đệ Nhất danh
Ngô Miễn Thiệu 24 1518 Lễ bộ Thượng thư,Đô Ngự sử,
Trình khê Hầu,Lý khê Bá

2.Bảng nhãn Đệ Nhất giáp Đệ Nhị danh
1 Ngô Hóan 21 1490 Tao đàn tướng,Lại bộ Thượng thư
Nghĩa tường Hầu,Thượng đẳng thần
2 Ngô Thầm 23 1493 Thái Bảo, Tao đàn tướng
Hàn lâm Viện Thị thư
3 Ngô Nhân (Ngô Ứng) 21 Đốc dự Bá
4 Ngô Bảo Thái Họ Ngô Bách Tính

3.Thám hoa Đệ Nhất giáp Đệ Tam danh

1. Ngô Sơn Khoái (Ngô Khôi) 1532 Tả Thị lang Hình bộ
2.Ngô Khiêm 1562 Tả Thị lang
3.Ngô Khuê 1661 Hộ bộ Thị lang, Bồi tụng
4.Ngô Sách Tố (Ngô Sách Hân) 1721 Thiếu Bảo,Hộ bộ Thị lang,
Hàn lâm Viện Thị thư
4.Hoàng giáp Đệ Nhị giáp/Chánh Tiến sĩ
Tên họ Đời thứ Năm thi đỗ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Khắc 1239 Đệ Nhị Giáp khoa Thái học sinh
2 Ngô Tần 1247 Đỗ Giáp khoa
3 Ngô Sở Ngọc 1478
4 Ngô Văn Cảnh 21 1481 Tao đàn tướng,Tham đốc,Hiến sát sứ
5 Ngô Văn Phòng 1484 Tả Thị lang
6 Ngô Hoan 1487 Đô Ngự sử,Tao đàn tướng
7 Ngô Ngọc 22 1487 Đô Cấp sự trung
8 Ngô Đạt Nho 1490 Tham chính
9 Ngô Kính Thần 1493 Phó Đô Ngự sử
10 Ngô Thái Đoan 1493 Tự khanh,Đô Chỉ huy sứ
11 Ngô Văn Huy 1502
12 Ngô Nhân Hải 23 1508 Giám sát Ngự sử
13 Ngô Tòng Củ 1514 Lễ bộ Tả Thị lang
14 Nguyễn Chính Tuân 1514 Ngọc Quận công,Đoan sứ,Thượng thụ
15 Ngô Ước 22 1526 Hàn lâm Đại Học sĩ
16 Ngô Quang 1541 Hàn lâm Viện Kiểm thảo
17 Ngô Thái Cẩn 1550 Giám sát Ngự sử
18 Ngô Nhân Trừng 25 1580 Thái Úy,Nghị Quốc công,
Đốc đồng nam bắc 13 Đạo
19 Ngô Cung 1583 Đông các Đại Học sĩ
20 Ngô Trí Hòa 27 1592 Thượng thư Bộ hộ,Tế tửu Quốc Tử Giám,
Phú Xuân Hầu,truy phong Xuân Quận công
21 Ngô Vi Thực 1691 Lễ khoa Đô Cấp sự trung/Tả Thanh Oai
22 Ngô Thì Sỹ 32 1766 Đông các Hiệu thư,Tham chính
23 Ngô Điền 1841 Tri phủ
24 Ngô Chấn 1841 Tri phủ
25 Ngô Đức Bình 33 1865 Án sát Quảng Bình,Tế tửu Quốc Tử Giám
26 Ngô Quang Bích 29 1869 Án sát Sơn Tây,Tuần phủ Hưng Hóa
5.Tiến sĩ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân
Tên họ Đời thứ Năm thi đỗ Hàm vị chức tước khác
1 Ngô Thế Dụ 1442 Tả Thị lang Hộ bộ
2 Ngô Sĩ Liên 1442 Ngự sử, Hữu Thị lang,Triều liệt Đại phu ,QTG Tư nghiệp,Sử quán Tu sọan
3 Ngô Nhân Tuấn(Duệ) 1460 Thượng thư (Công,Hộ)
4 Ngô Lôi 1466 Tổng binh Thiểm sự
5 Ngô Anh (Gián) 23 1472 Đông các Đại Học sĩ
6 Ngô Luân 23 1475 Tao đàn tướng ,Lễ bộ Thượng thư
7 Ngô Trinh Chấp 1478 Tả Thị lang Công bộ
8 Ngô Kim Húc 1478 Đô Cấp sự trung
9 Ngô Khắc Tuấn 1481 Hiến sát sứ
10 Ngô Quyền 21 1487 Tao đàn tướng (Con Ngô Nhạn)
11 Ngô Tuy 1499 Thái Bảo,Hàn lâm hiệu thảo
12 Ngô Tháo 1505 Tham chính
13 Ngô Quang Tổ 1508 Hiến sát sứ
14 Ngô Văn Thông 1508 Thượng thư
15 Nguyễn Xuân 1508 Họ Ngô Lâm Thao,đổi họ Nguyễn
16 Ngô Đình Thực 1511 Hàn lâm viện Kiểm thảo,Thị lang
17 Ngô Sĩ Kiện 1511 Hiến sát sứ
18 Ngô Mậu Đôn 1523 Thượng thư
19 Ngô Hoành 1526 Hiến sát sứ
20 Ngô Úc 1532 Đề hình Giám sát Ngự sử
21 Ngô Phúc Tinh 1535 Thừa Chính sứ
22 Ngô Trang 1538 Thị lang,Thụy xuyên Bá
23 Ngô Tĩnh 1544 Tham Chính,Nho lâm Nam
24 Ngô Khắc Khoan 1547 Hiến sát sứ,Tổng binh Thiêm sự
25 Ngô Thuật Khổng 1547 Hiến sát sứ
26 Ngô Bật Lãng 22 1550 Thống lĩnh Hữu Đề đốc,Tả Thị langlại ,tặng Binh bộ Thượng thư,
27 Ngô Diễn 25 1550 Lễ bộThượng thư,Hàn lâm Viện Thị giảng Gia hành Đại phu,Nhân sơn Bá,KTVLĐP
28 Ngô Chấp Trung 1553 Hiến sát sứ
29 Ngô Uông 1553 Binh khoa Đô Cấp sự trung
30 Ngô Đức Cơ 1553 Thượng thư,Thừa chính sứ
31 Ngô Dịch (Trạch) 25 1556 Thượng thư,Lễ bộ Tả Thị lang
ĐTKTVLĐP,Lĩnh hải Nam
32 Ngô Khánh Nùng 1556 Đô Ngự sử
33 Ngô Gia Mưu 25 1559 Tham chính
34 Ngô Mậu Du 1565 Giám sát Ngự sử
35 Ngô Tháo 1571 Tả Thị lang
36 Ngô Vỹ 1571 Đạt lê Hầu,Tả Thị lang
37 Ngô Trí Tri 26 1592 Hiến sát sứ,Khánh diễn Bá
38 Ngô Nhân Triệt 26 1607 Thái Bảo,Lễ phái Bá,Thái thường tự Khanh
39 Ngô Triệt 1637 Tả Thị lang,Thượng thư,Quận công
40 Ngô Văn Chính 1637 Phủ dõan Phủ Phụng Thiên
41 Ngô Nhân Tuấn (Duệ) 27 1640 Tả Thị lang Bộ lễ,tặng Thượng thư Hộ bộ, Phong Lộc Hầu
42 Ngô Sĩ Vinh 28 1646 Lý hải Hầu,Công bộ Hữu Thị lang
43 Ngô Sách Thúy 1657
44 Ngô Sách Thí 1659
45 Ngô Sách Dụ 1664 Thiếu dõan Phủ Phụng Thiên
46 Ngô Hải 1664 Phó Đô Ngự sử,Tế tửu
47 Ngô Cầu 1670 Tham chính
48 Ngô Sách Tuân 1676 Lại bộ Hữu Thị lang
49 Ngô Tuấn Dị 28 1688 Hàn lâm Viện Hiệu thảo,Thị lang
50 Ngô Công Trạc 30 1694 Hiến sát sứ
51 Ngô Vi Nho 1694 Giám sát Ngự sử/Tả Thanh Oai
52 Ngô Đình Thạc(Oanh) 29 1700 Thiếu Bảo,Công bộ Thượng thư,Tham tụng,Huy Quận công
53 Ngô Hưng Giáo 30 1710
54 Ngô Nhân Hân 1715 Đô Cấp sự trung
55 Ngô Đình Chất(Oánh) 29 1721 Binh bộ Thương thư,Xuyên Quận công
56 Ngô Nguyễn (Nghiễm) 1731 Xuân lệnh Hầu,Thị lang
57 Ngô Trần Thực 29 1760 Đông các Đại học sĩ,Thiêm Đô Ngự sử
58 Ngô Phúc Lâm 30 1766 Khiêm Quận công
59 Ngô Duy Viên 1769 Giám sát Ngự sử / Bồi tụng,Thị lang,Cảo
phong Bá Họ La Khê
60 Ngô Duy Trưng 1775 Thiêm Đô Ngự sử/ /Họ La Khê
61 Ngô Thì Nhậm 33 1775 Thượng thư,Phương Quận công
62 Ngô Thế Trị (Dụng) 1775 Hàn lâm Viện Thị chế
63 Ngô Tiêm 1779 Nghĩa phái Hầu,Mỹ phái Hầu,Đốc trấn Lạng Sơn,Thái Hòa điện Học sĩ
64 Ngô Nho 1785 Đô Cấp sự trung ,Hàn lâm Viện Hiệu thảo
65 Ngô Thế Vinh 29 1829 Họ Bái Dương
66 Ngô Đình Điền 1841
67 Ngô Khắc Kiệm 1842 Án sát
68 Ngô Tòng Nho 1849 Thị giảng Học sĩ
69 Ngô Văn Độ 1856 Quang Lộc tự Khanh
70 Ngô Đức Kế 34 1901 Việt Nam Chí sĩ
71 Ngô Bích Giang 1903
72 Ngô Tòan Thượng thư Theo gia phả Tôc họ
73 Ngô Bửu Tế trị Hầu Ghi trong Bảng liệt kê Danh nhân
74 Ngô Chân Đại Học sĩ –nt-
75 Ngô Cửu Lễ bộ Thượng thư –nt-
76 Ngô Diệu Hiến sứ –nt-
77 Ngô Được Hiến sát sứ –nt-
78 Ngô Kiến Văn thành Bá –nt-
79 Ngô Lân Đại tư Đồ –nt-
80 Ngô Nghiêm Đại Học sĩ –nt-
81 Ngô Cách Thành Quận công –nt-
82 Ngô Thức Tấn Quốc công –nt-
83 Ngô Thiện Thái Sư –nt-
84 Ngô Viêm Đôn hậu Bá –nt-

6.GIẢI NGUYÊN (con số chưa đầy đủ)
1 Ngô Hiệu 24 Ngô Thì Tả Thanh Oai
2Ngô Tùng Hiên 29
3 Ngô Phúc Tòan 25 Dòng Ngô Sử Hậu
4 Ngô Tuấn Lương 28 Ngô Thì Tả Thanh Oai
5 Ngô Tưởng Đạo 32 (31) Dòng Ngô Sử Hậu
6 Ngô Duệ Họ La Khê/Đô Cấp sự trung

7.Giám sinh(con số chưa đầy đủ)
1 Ngô Thời Bá
2 Ngô Văn Cẩm Lương Tài Hầu, Tham đốc,
3 Ngô Trí Cẩn Tham chính sứ (Hàm Tùng Tứ phẩm),
4 Ngô Chấp Thiệu thắng Hầu
5 Ngô Phúc Chung (Phúc Trung)Đồng Dương Hầu,
5 Ngô Thông Chương làm Tri phủ,người họ Bái Dương
6 Ngô Thì Diễn con Ngô Thì Nhậm.
7 Ngô Nhân Do Thiếu khanh Giảng dụ,
8 Ngô Minh Dõan (Thất truyền) Họ Ngô Vi Tả Thanh Oai
9 Ngô Bao Dung làm ở Quốc Tử Giám
10Ngô Đại Trung Quốc Hầu.
11Ngô Đức Phú Vinh Hầu
12Ngô Hạo Họ Ngô Vân Động
13Ngô Hoành Tham đốc(?)
14Ngô Gia Hội Họ Ngô Cự Thôn Hà Trung
15Ngô Trí Kính Họ Ngô Vy Tả Thanh Oai, Hải Dương Đạo Hành quân Thư ký
16Ngô Khuông Đại tư đồ
17Phan Hữu Lập Thao Vũ Hầu
18Ngô Luông Chính thắng Hầu.
19Ngô Trực Lượng (Thất truyền Họ Ngô Vi Tả Thanh Oai
20Ngô Vi Mạch Tự Đạo Diễn,hiệu Thông Hiếu,
21Ngô Mưu Trung nghĩa Hầu ( ? )
22Ngô Thế Nghiêm huý Đỉnh, tự Bột Chính,Giám sinh 1689
23Ngô Phục Trung ái Hầu,
24Ngô Phúc Quảng Họ Ngô Vy Tả Thanh Oai
25Ngô Xuân Thành Đàm Quận công, Thủy Tổ họ Ngô Cự Thôn
26Ngô Thọ Tham Đốc (?)
27Phan Phúc Thọ Cương dũng Hầu
28Ngô Thế Thuộc Huấn Đạo,
29Ngô Thượng Tấn Quận công (?)
30Ngô Tiêu Sùng Đạo Bá (?)
31Ngô Lý Tính Thừa điện Nha doanh
32Ngô Tòng Thuần tín Hầu
33Ngô Lạc Trai
34Ngô Trạc tự Liên Bạt,đỗ Hương cống,Hoành từ,
35Ngô Nhã Trực hai lần Giám sinh, Tri huyện Kim Bảng,họ Nguyễn Ngô Trình Phố
36Ngô Tu Trung dũng Bá ( ? )
37Ngô Đình Tú Đô Hiệu điểm Bình Giang Hầu, Ninh Quận Công,
38Ngô Nhân Tùng (Ngô Văn Tổng), dòng Ngô Nguyên.
39Ngô Nguyên Vinh Ấm sinh, người xã Mỹ tục.
CHÂN DUNG TÁC GIẢ
Sinh tháng 1 năm 1912,tại xã Trảo Nha huyện Can Lộc,nay là xóm Nam Sơn,thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.Cháu nội Hoàng Giáp Tế Tửu Quốc Tử Giám,Án sát Quảng Bình Ngô Đức Bình.
Lúc trẻ học trường Trung học Vinh,tham gia các cuộc vận động chống Pháp,năm 1927 bị đuổi học.
Năm 1930 tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh,là thanh niên Cộng sản,cuối 1930 bị bắt giam tại nhà lao Hà Tĩnh.Năm 1931 được trả tự do,bị quản thúc tại nhà.
Cuối 1944 tham gia phong trào Việt Minh tại Can Lộc Hà Tĩnh,chủ trì việc cứu tế nạn đói đầu 1945 ở huyện Can Lộc Hà Tĩnh.Thường trực Việt Minh huyện Can Lộc.Tháng 8 -1945 được cử làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Can Lộc.Tham gia Ủy viên Ủy ban Lâm thời huyện Can Lộc.
Được điều vào tham gia Giải phóng quân Trung đoàn Phan Đình Phùng .
Trải qua các đơn vị:Trung đoàn 103,Sư đoàn 304,Bộ Tổng Tham mưu.
Tham dự các trận và các Chiến dịch:Chiến dịch Mộ Dạ 1947, Chiến dịch Nape (Chỉ huy trưởng),Chiến dịch Hoàng Hoa Thám,Chiến dịch Quang Trung,Chiến dịch Trần Hưng Đạo,Chiến dịch Hà Nam Ninh,Chiến dịch Điện Biên Phủ, và Giải phóng tiếp quản Hà Nội 1955.
1955-1960 công tác tại Bộ Tổng Tham mưu.
Từ 1961 là Cục phó và sau đó là Quyền Cục trưởng Cục quy hoạch Bộ nông trường,
Nghỉ hưu tháng 9 năm 1970.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ,cán bộ Cách mạng Tiền khỡi nghĩa.
Huân chương Kháng chiến hạng 3,
Huân chương Chiến thắng hạng 2,
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 3,
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Bà Lê Thị Tam(còn gọi là Lê Thị Liệu),sinh năm 1911,mất ngày 02 tháng 9 năm 1966 tức ngày 18 tháng 7 năm Bính Ngọ,con gái đầu Hồng Lô tự Thiếu Khanh Lê Hữu Duy,Quan Ngự y thuộc triều đình nhà Nguyễn,người xã Đồng Bàn huyện Thạch Hà,nay là xã Thạch Liên huyện Thạch Hà ,Hà Tĩnh.
Sinh Ngô Thị Liệu,Ngô Đức Bằng, Ngô Song Bổng (1936-1992),Ngô Đức Uy(mất sớm), Ngô Đức Hàm, Ngô Đức Lợi.
Mất hồi 7 giờ 15 phút ngày 2 tháng 5 năm 1998,tức ngày Bảy tháng Tư năm Mậu Dần tại Hà Nội,hưởng thọ 87 tuổi.
Mộ táng tại nghĩa trang xóm Nam Sơn thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Hà Nội,ngày mồng Bảy tháng Tư năm Mậu Tý 2008

Biên tập,sửa chữa,bổ sung và hiệu đính cho lần in thứ 6

Thứ nam NGÔ ĐỨC LỢI

Đăng bởi: nghienson | Tháng Mười Một 4, 2015

VỀ GIA PHẢ HỌ NGÔ VIỆT NAM(Tiếp theo)

VỀ GIA PHẢ HỌ NGÔ VIỆT NAM

(Tiếp theo)

DÒNG HỌ NGÔ TRẢO NHA HÀ TĨNH

Truyền thống Thạch Hà Tướng Phiệt

Nguồn gốc

Ngô Nước, tên trước là Ngô Lợi, một trong sáu con trai cư biệt quán của Thanh Quốc công Ngô Khế .Ngô Nước đi lánh nạn vào đến xã Chỉ châu huyện Thạch hà trấn Nghệ an ở lại đó khai phá đất hoang làm ruộng, sinh sống nhiều năm,sau dời ra thôn Trung thuỷ rồi đến thôn Thổ sơn xã Đan liên(sau đổi xã Trảo nha, nay là Thị trấn huyện Can lộc Hà tĩnh) xin dân làng một khoảnh đất hoang khai phá làm vườn ở (Vườn ấy nay là vườn Từ đường họ Ngô Trảo nha,cùng với từ đường vừa được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá năm 1994). Hai ông bà lấy nghề nấu rượu nuôi lợn làm kế độ thân. Trong “Tân kỷ Hoan châu Ngô thị truyền gia tập lục”, Ngô phúc Lâm viết:”Ông bà thường hay giúp người nghèo khó,cứu người lỡ bước gặp hoạn nạn,lại có biết chữ nên được dân làng bầu làm Lý chính (như Lý trưởng sau này)”.

Trong những năm sinh sống ở Chỉ châu, có lần khai hoang cuốc đất bắt được ba vò vàng, có người Trung quốc theo nham cảo lần sang tìm của, xem xét đối chiếu thấy là đúng,ông bèn trao trả nguyên cả ba vò vàng,người Trung quốc báo ân cho một huyệt đất quý, để nham cảo lại, có câu“Tha hương võ tướng,luỹ thế nguyên huân”( Chuyển cư xa quê hương sẽ phát võ tướng, nối đời là nguyên huân của quốc gia).

Ông bà sinh con trai Ngô phúc Hải.Mới tuổi 13, Ngô phúc Hải đã có sức khoẻ hơn người. Có lần ông cụ vắng nhà, đêm đến trộm khoét vách vào nhà, ông lập mưu bắt được ba tên, hai tên chạy thoát.Sáng ngày dẫn ra điếm làng, dân làng đều phục tài,nhân đó bầu làm Đoàn trưởng, đêm đêm dẫn dân đinh đi tuần bắt được nhiều trộm cướp. Bọn gian kết oán,tụ tập nhau mưu hại ông.Ông xin phép cha mẹ tạm lánh ra Trấn lỵ,chờ thời gian yên ổn sẽ trở về thần hôn phụng dưỡng. Năm 16 tuổi Tổng binh trấn Nghệ thấy có tài, có sưc khoẻ, học giỏi, lấy vào giúp việc trong Trấn nha.

Thời bấy giờ trộm cướp tứ tung,ông đi theo đánh dẹp lập được nhiều công.Có lần có toán cướp mạnh,đánh chiếm Trấn dinh,Tổng binh xuất trận bị giết,Tổng binh Đồng tri một mình một ngựa chạy dài.Ngô phúc Hải đang đi dẹp trộm cướp vùng Thanh giang, Nam đường được tin vội vàng quay về trong tay chỉ có vài mươi tuỳ tùng. Ông tổ chức tuần đinh các thôn lân cận, trước hết phục trên các ngả đường đánh bắt được nhiều tốp nhỏ, quân giặc cướp bị yếu dần,sau đó đánh vào trấn lỵ thu phục lại Trấn dinh.Trấn nha đem việc tâu lên, triều đinh phong chức Tổng binh,nhưng chỉ giữ việc Đô ty sự. Năm sau ông được thăng Tổng binh Đồng tri đi lãnh chức Trấn thủ trấn Thái nguyên.Ông mất sớm ở nhà ở Phú điền, con trai còn nhỏ,người làng định đưa táng trên núi Mã yên sơn (Rú Rum), linh cữu vừa đến gần chân núi, trời nổi cơn giông mưa gió dữ dội, giây thừng bị đứt, người làng phải mai táng luôn tại đó.Ngày sau khi Thuần trung Hầu đã khôn lớn đón thầy địa lý về phúc mộ,thì mới hay huyệt đất này đúng với huyệt đất mà ngày trước mấy người khách buôn đã báo ân vì được cứu sống ở bãi biển Chỉ châu.Ngôi mộ đến nay vẫn còn nguyên vẹn, tục gọi là “Mộ thiên táng”.Ngô phúc Hải có hai bà,bà cả người Trảo nha sinh Ngô phúc Hà làm Chủ bộ phủ Yên Vương,tặng phong Thuần trung Hầu.

Ngô Phúc Hà có hai bà,bà cả người Trảo nha sinh Ngô phúc Thanh,bà thứ người làng Hoa viên sinh Ngô phúc Điền nay là thuỷ tổ họ Ngô xã Phú điền huyện Hưng nguyên .

Vĩnh lộc Hầu Ngô phúc Thanh là một tướng có tài,10 năm làm Trấn thủ Trấn Nghệ an giữ vững an ninh trong trấn,giặc ngoài không dám xâm phạm biên cương,được mệnh danh“Nam diện truờng thành”.

Ông Ngô phúc Lâm chép: “Nhà Lê chia cả nước làm 13 đạo Thừa tuyên, có chức Tổng binh thống lĩnh quân ở biên giới,phẩm trật thì phỏng theo chức Đô đốc bên Trung quốc,đi đâu thì thẻ vàng,biển bạc,cờ vuông,tiền hô hậu ủng,lại được tiện nghi hành sự. Hàng năm theo lệ định thu thuế trong hạt nộp lên, mỗi năm ngày xuân thu, ngày khánh tiết, về triều được nhà vua ban yến, uý lạo rồi trở về trấn…”

Ông từ trần trước ngày Mạc cướp ngôi,mộ táng trên núi Ngư lão(thuộc Can lộc) .

Bật Nghĩa quân doanh Thế Quận công Ngô cảnh Hữu (1520-1596)

Ngô cảnh Hữu là con trai Vĩnh lộc Hầu Ngô phúc Thanh (vào đời thứ 25). Khi Mạc cướp ngôi nhà Lê,ông cụ đã từ trần,ông còn nhỏ tuổi.Lớn lên vùng quê nhiều trộm cướp, ông tập hợp gia thuộc chiếm cứ huyện nhà (huyện Thiên lộc trấn Nghệ an),người theo ngày một đông.Ông đem quân vào núi thiết lập doanh trại luyện quân,bố trí giữ vững cả một vùng từ bờ nam sông Lam trở vào chờ đợi thời cơ.Lại chiêu tập những người lang bạt mở nhiều trại khẩn hoang trồng lương thực nuôi quân, như trại Năng,trại Cụ,trại Đoan miền duyên sơn Thạch hà Thiên lộc.

Năm bính ngọ 1546, được tin vua Lê đặt hành dinh ở Vạn lại (Thọ xuân),Lượng quốc Công Trịnh Kiểm nắm giữ binh quyền,ông dẫn quân ra bái yết xin theo đánh Mạc,đem theo 2000 quân,20 ngựa,bộ tướng hơn 10 người.

Tháng 5 năm 1551, Trịnh Kiểm mở cuộc tiến công ra bắc, cử Lê bá Ly đánh Sơn nam,Nguyễn khải Khang đánh Sơn tây,từ Tuyên quang Vũ văn Mật đánh xuống.Tháng 6, Trịnh Kiểm qua Hưng hoá,vượt sông Thao hợp binh với Vũ văn Mật tiến về Thăng long,Ngô cảnh Hữu dẫn quân bản bộ theo Trịnh Kiểm.Cùng cuộc hành quân này còn có nhiều tướng họ Ngô tham dự.Tiến quân đến Kinh bắc,các tướng Ngô Bạt,(Vũ Quận công con trưởng Ngô thế Bang),Ngô đình Tú (Ninh Quận công,cháu Ngô khắc Cung),Ngô Tùng,Ngô Chi, dẫn 6000 quân đánh thắng một trận lớn tiêu diệt hơn vạn quân Mạc, giết đại tướng Mạc Đinh bạt Sơn.Đại quân của Trịnh Kiểm vào được thành Thăng long,nhưng quân Mạc đắp luỹ đào hào phòng thủ,Trịnh Kiểm sợ bị bao vây mất đường về,nên vội vàng lui quân về Thanh hoá.

Năm 1555, Mạc Kính Điển đem quân vào đánh Thanh hoá, Ngô cảnh Hữu theo Trịnh Kiểm phục quân đánh bại quân Mạc bắt được tướng tiên phong là Quân Thọ,quân Mạc phải rút về bắc.Năm 1556 nhà Mạc tập trung lực lượng mạnh ở Sơn nam,Ngô cảnh Hữu được lệnh dẫn hai vạn quân án ngữ cửa Thần phù,một tháng sau chuyển quân đến Thiên quan, lập 30 đồn, đắp luỹ chống giặc.Đang ở quân thứ được chỉ vua phong: Chinh Tây Đại tướng quân Thế Quận công ( 37 tuổi).

Năm 1581 tân tỵ ,Mạc Đôn Nhượng tập trung lực lượng mạnh chia làm nhiều đạo tiến công Thanh hoá,đạo đi đường biển đổ bộ lên Quảng xương.Ông cùng Hoàng đình Ái được lệnh hợp đồng phá giặc.Điều tra biết chắc quân Mạc tập kết ở núi Đường nang,hai ông chia quân làm hai cánh tập kích vào doanh trại địch, toàn bộ cánh quân Mạc bị đánh tan,quân Mạc phải rút về bắc. Sau trận này Ngô cảnh Hữu được thăng Bắc quân Đô đốc phủ Hữu Đô đốc.

Năm 1584, Trinh Tùng đánh Sơn nam,ông đốc 2 vạn quân đi đoạn hậu.Sau khi đánh chiếm xong các huyện Yên mô, Yên khang, Gia viễn,Trịnh Tùng hạ lệnh rút quân theo đường Thiên quan Phụng hoá,ông biết thế nhưng lại rút quân theo đường cũ(đường tiến quân Tam dđiệp), trái quân lệnh bị giáng hai cấp.

Năm 1587, đại quân hành quân về phía tây,quân chia làm 5 đạo,ông cùng Lân Quận công Hà thọ Lộc đi đạo thứ 5 bảo vệ lương thảo (Theo đường Nho quan Xích thổ Chi nê Chợ bến ngày nay).Nhà Mạc sai Đại tướng Tây đạo Mạc ngọc Luyện đem quân ra Xuân mai Mỹ đức, Đại tướng Nam đạo Nguyễn Quyển đem quân ra Chương đức vượt sông Gio lễ (khúc sông Đáy chảy qua xã Gio lễ,đoạn ở Phủ lý ngày nay),bố trí mai phục bên núi,chờ cho đại quân của Trịnh Tùng đi qua,đánh vào hậu quân để cướp lương.Trịnh Tùng sợ quân Mạc vòng đánh vào Thanh hoá,cử Hoàng đình Ái ngầm rút quân về giữ Thanh hoá,đạo tiền quân tiến đến Miếu môn Chợ bến chặn quân Tây đạo,tăng thêm quân cho Ngô cảnh Hữu chống quân Nguyễn Quyển cướp lương.Trịnh Tùng tự mình dẫn quân tiến hướng Kim bảng.Hậu quân đến đất Mỹ lương, quân phục của Nguyễn Quyển tiến công vào đội hình hành quân để cướp lương,ông đốc quân chống trả đánh tan quân phục của Nguyển Quyển,bảo vệ toàn vẹn lương thảo.Cuộc hành quân thắng lợi,quân Nam đạo của Nguyễn Quyển đại bại,từ đó sợ quân Trịnh thường né tránh ít dám đối đầu.

Tháng 11 năm 1589, Trịnh Tùng lại đánh Yên khang, Gia viễn. Nhà Mạc quyết định mở cuộc phản công lớn, huy động quân cả 4 trấn,cử Mạc đôn Nhượng làm Thồng lĩnh,tấn công vào chính diện quân Trịnh Tùng.Trịnh Tùng bố trí phục binh ở Tam điệp, cử Ngô cảnh Hữu đốc 2 vạn quân thu thập lương thảo khí giới bỏ doanh trại lùi dần,nhử cho quân Mạc đuổi theo.Thấy quân Trịnh rút lui,Mạc đôn Nhượng hạ lênh truy kích,đốt phá hết doanh trại ,tiến sâu vào hiểm địa,lúc đó quân phục bốn bề đổ ra xung sát, quân Mạc biết là trúng kế,vừa chống đỡ vừa lui quân, chết hơn ngàn người, bị bắt làm tù binh 600 người.Sau trận này quân Mạc yếu hẳn.

Năm 1591, Trịnh Tùng hội các tướng bàn và quyết định tháng 12 ra quân đánh Thăng long.Được người nhà Mạc đưa thơ vào,mở xem chỉ có hai chữ “Thanh Thuý”, không ai hiểu ý gì.Trịnh Tùng liền triệu Phùng khắc Khoan vào hỏi.Phùng khắc Khoan phân tích: “Chữ Thanh do ba chữ thập nhị nguyệt hợp lại,chữ Thuý do hai chữ xuất tốt hợp lại,tất cả năm chữ đọc thành Thập nhị nguyệt xuất tốt, nghĩa là: tháng 12 ra quân”.Trịnh Tùng thấy kế hoạch xuất quân đã bị lộ,quyết định xuất quân sớm hơn.

Hành quân chia làm 5 đạo.Thế Quận công đi dạo thứ 5 bảo vệ lương thảo,xuất phát từ Tây đô qua cửa Kim sơn, cửa Thiên quan, leo đèo lội suối xuyên rừng sau mười ngày đến Mã yên sơn,chưa kịp chỉnh đốn doanh trại,lại được lệnh di chuyển đến Hoa mộng sơn thuộc Thanh châu(nay là huyện Tùng thiện tỉnh Sơn tây).Trên đường chuyển quân,quân Mạc tung kỳ binh đánh tạt sườn hòng chia cắt hậu quân ta để cướp lương, lại phóng hoả đốt khu rừng phía trước chặn đường tiến quân.Ông đốc quân đánh tan kỳ binh địch,lại dập tắt được lửa,đưa lương thảo an toàn đến Hoa mộng sơn.Đại quân đánh chiếm được các huyện Yên phong,Phúc lộc, Tân phong, Thạch thất thuộc trấn Sơn tây. Mạc mậu Hợp thấy quân Trịnh tiến quá nhanh,bức bách đến nơi,vội vàng đem toàn lực đại đội binh mã quyết một trận hơn thua,điều động binh mã 4 vệ, 4 trấn cộng tất cả trên 10 vạn quân,hạ lệnh ngày 10 tất cả phải tề tựu ở Hiệp thượng Hiệp hạ, sai Mạc ngọc Luyện chỉ huy Tây đạo,Phù Quận công, Xuân Quận công chỉ huy Bắc đạo,Khuông Quận công, Xuyên Quận công chỉ huy binh mã 4 vệ,các Thân vương và các tướng Túc vệ chỉ huy hậu đội,tự mình chỉ huy Trung quân,các đạo chia đường cùng tiến.Ngày 27 đến đất Phấn thượng huyện Từ liêm,dàn thành trận thế đối diện với quân Trịnh Tùng.

Trịnh Tùng phân phó các tướng lĩnh,Hữu khu doanh tướng Nguyễn hữu Liêu dẫn quân bản bộ tăng cường 400 thiết kỵ tiến lên trước khiêu chiến.Trên đà thắng liên tiếp, quân Trịnh hăng hái xung trận,chém được Khuông Quận công và Tân Quận công tại trận,lại giết luôn được tướng Hoàng nghĩa Cước.Mạc mậu Hợp thấy thế trận bất lợi đánh chiêng thu quân,án binh bất động.Đến giữa trưa, Trịnh Tùng thấy tình hình quân Mạc uể oải,liền hạ lệnh cho tất cả các đạo quân tấn công vào trận tuyến Mạc,tung ra gần 100 thớt voi trợ chiến.Ba tiếng pháo hiệu nổ vang, tất cả các mũi nhất tề xông lên,quân Mạc hốt hoảng lùi dần,tả hữu không phối hợp được với nhau, cờ trận sai lạc,trước sau hỗn loạn, xô nhau mà chạy, dày xéo lên nhau mà chết. Quân Trịnh đuổi đến Giang cao,giết hơn vạn người, thây chất thành núi.Chổ này ngày nay còn các gò đống chôn xác chết, tục gọi “Đống nhà Mạc”.

Mạc mậu Hợp rút quân vào thành cố thủ,Trịnh Tùng tiến quân đến làng Nhân mục,uy hiếp Thăng long,Ngô cảnh Hữu đang ở hậu quân được gọi lên tham chiến, chỉ huy mũi tiến công cầu Mọc.

Quân Trịnh đánh vào cửa ô Cầu dền bắt được Đại tướng Mạc Nguyễn Quyển đã bị trọng thương.Trịnh Tùng hỏi Nguyễn Quyển làm cách nào hạ được Thăng long .

Có ý muốn kéo dài thời gian để Mạc mậu Hợp có đủ thì giờ củng cố lực lượng phòng giữ,Nguyễn Quyển bảo Trịnh Tùng:”Muốn hạ Thăng Long, trước hết phải phá hết La Thành”. Trịnh Tùng mắc mưu, sai quân san phẳng các luỹ thành Đại la ,kéo dài thời gian, không hạ được Thăng Long phải rút quân.

Trong lúc nguy nan này nội bộ nhà Mạc càng sinh lắm chuyện,đại thần thì né tránh, họ ngoại chuyên quyền, vua thì hoang dâm vô độ, hoạ từ trong ra .

Nguyễn Quyển có hai cô con gai, cô chị Nguyễn thị Liên, là người đẹp, hiện là Hoàng hậu của Mạc mậu Hợp, cô em là Nguyễn thị Năm,lại đẹp hơn cô chị nhiều,đã lấy chồng là Bùi văn Khuê Sơn Quận công Đại tướng Nam đạo.Nguyễn thị Năm vào cung thăm chị, Mạc mậu Hợp trông thấy say mê sinh lòng tà dâm muốn cướp lấy làm vợ mình,ngầm mưu hại Bùi văn Khuê,bèn triệu Khuê về triều để tìm cách ngầm giết đi.

Bùi văn Khuê biết chuyện,đem quân bản bộ chiếm cứ huyện Gia viễn,sai con là Bùi văn Nguyên đến doanh trại Trịnh Tùng xin đầu hàng và cứu viện.

Trịnh Tùng mừng rỡ nói:”Quân Mạc đồn binh ở Gia viễn chặn đường tiến của quân ta,ta đánh mấy lần không xong,mỗi lần xuất quân phải theo đường Thiên quan Mỹ lương, Thạch thất mà đánh Đông kinh,thường phải kéo quân về ngay,sợ thuỷ quân đông nam của nhà Mạc thừa sơ hở kéo theo đường biển vào đánh Thanh hoá, hoặc ngược dòng sông theo sau lưng mà đánh tập hậu quân ta. Nay tướng biên thuỳ này quy hàng,thật là trời giúp ta !”

Đầu xuân năm sau,ngày mồng 3 tháng giêng âm lịch (dương lịch 1592),Trịnh Tùng lập đàn tế cáo trời đất,ngày mồng 5 tiến quân đến làng Nhân mục, đánh quân Mạc ở ô Cầu dền. Mạc mậu Hợp bố trí các tướng ở lại giữ thành, tự mình ra chỉ huy thuỷ quân trên sông Hồng.Ngày mồng 6, Trịnh Tùng hạ lệnh nhất tề công thành,Ngô cảnh Hữu chỉ huy tấn công mũi cầu Mọc.Giữa lúc đang tấn công, Ngô cảnh Hữu được lệnh cấp tốc hành quân đến cửa sông Hát đánh đạo quân của Đại tướng Mạc ngọc Luyện đang phòng ngự ở đó.Quân đến nơi trời gần tối,điều tra biết Mạc ngọc Luyện đóng quân bên kia sông,đắp luỹ phòng thủ, dưới mặt sông dàn chiến thuyền,cắm cọc gỗ phòng thủ.

Ông tức tốc sai tập trung thuyền chài,chuẩn bị nhiều bè cỏ khô,thêm các khí cụ phóng hoả.Sai Dương nghĩa Hầu đang đêm dẫn 300 quân vượt sông,tìm nơi hiểm yếu phục binh chặn viện. Sang trống canh tư, nhân con voi ông thường cưỡi lồng lên, quản tượng không kiềm chế được,ông lên voi ra lệnh vượt sông tiến công. Ra đến giữa dòng bắc loa kêu gọi binh sỹ“Trước địch sau sông,ba quân không ra sức diệt địch thì không còn sinh lộ”. Một cánh đốt bè cỏ khô tung vào thuỷ trận Mạc,thuyền bắt lửa cháy,một cánh nhảy lên bộ xông vào chiến luỹ, quân Mạc sau luỹ thấy thuỷ quân đã tan vở,hoang mang hàng ngũ rối loạn chống đỡ không nổi tháo chạy,ông xua quân đuổi đánh đến sáng, Mạc ngọc Luyện dùng thuyền nhỏ chạy lên Tam Đảo.Quân ông thu được chiến thuyền khí giới nhiều không kể xiết.Tuổi già xung trận quá sức, khi xuống voi ông bị hôn mê ,cấp cứu mãi mới tỉnh.Ngày hôm sau Trịnh Tùng triệu ông đến hành dinh khen ngợi, ông nói :Trận này thắng lớn là nhờ hồng phúc của quốc gia, đang đêm voi lồng lên làm tôi bị hôn mê, lại được tướng sỹ hết lòng giết giặc,đâu phải tài cán của tôi .(Về sau con voi này cũng được phong tước Quận công).

Năm sau (1593) Trịnh Tùng cùng bách quan rước vua Lê về Thăng long,luận công khen thưởng,chọn được 11 người Nguyên công(công đầu) ông đứng hàng thứ 6,phong tước Thái bảo. Luận công khen thưởng xong, ông xin về trí sỹ (1594).

Ngày sau dưới triều Lê Dụ Tôn năm nhâm dần 1722,niên hiệu Bảo Thái thời chúa Trịnh Cương,triều đình lục xét lại các trung hưng công thần,chọn thêm được 13 người cộng lại thành 24 người ,đều được phong tặng “Luỹ đại công thần, dữ quốc đồng hưu”.Quê nhà ông ở Trảo nha, trong những năm 1655-1663 quân chúa Nguyễn lấn chiếm đến bờ nam sông Lam, nhà cửa bị tàn phá, sắc chỉ không còn để đem trình,triều đình chỉ bằng vào quốc sử và văn bia mà xét, nên ông bị xếp vào hàng thứ 20 trong số 24 Nguyên công.

Ông có ba Bà:Bà Từ Quang,Bà Trịnh thị Diệu Minh ,Bà Diệu Hằng họ Phạm người Nghệ an.

Ông sinh:Tứ Quận công Ngô phúc Tịnh,Hòanh phố Hầu Ngô phúc Hòanh,Khang trạch Hầu Ngô phúc Mai,Câu kê Hầu Thủy tổ họ Ngô Thạch mỹ Thạch hà,Ngô đăng Khản Thủy tổ họ Ngô Hà linh huyện Hương khê,Ngô thuận Tâm (sau đổi họ Trần)Thủy tổ họ Trần Vỵ xuyên Nam định và Ngô thị Ngọc Nguyên Thứ phi Bình an Vương Trịnh Tùng.

Ông mất ngày 25 tháng 5 năm bính thân 1596, hưởng thọ 77 tuổi,mộ táng ở làng Chi lễ xã Thái hà,đến nay vẫn còn.

Trung Nhuệ Quân Doanh Phó Tướng Thái Bảo Tào Quận công Ngô phúc Vạn(1577-1652)

Ông có tên khác là Phúc Mại,tự Tử Hán, hiệu Huân Dương  chân nhân,sinh giờ dần ngày 20 tháng 5 năm đinh sửu, mất 15 tháng 8 năm nhâm thìn,mộ táng trên đồi Nghèn (huyệt sâu 17m, đáy huyệt bằng bình độ ruộng sâu nhất trước mặt).Từ đường và mộ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá năm 1993.

Là con trai trưởng Tứ Quận công Ngô phúc Tịnh do bà Lê thị Đệ sinh ra.

Tứ quận công Ngô phúc Tịnh là con trưởng Thế Quận công Ngô cảnh Hữu,thời Nam Bắc triều ở với bố ở Thanh hoá ,ở huyện Đông sơn .Có nhà Lê Tướng công,ông cụ đã qua đời,bà cụ ở với hai cô con gái.Một buổi sáng sớm hai chị em ra vườn,cô chị trông thấy bông hoa đang nở màu hồng tươi thắm chỉ cho cô em,cô em hái cho luôn vào miệng nuốt chững,từ đó càng thêm minh mẫn.Ngô phúc Tịnh thường qua lại làm thân, bà cụ hứa gả cô chị cho làm vợ.Đến ngày đón dâu thì lại là cô em,ông hỏi tại sao hứa gả chị,nay lại là em.Cô dâu thưa: “Nhà thiếp neo đơn,thiếp sức yếu,chị thiếp khoẻ tháo vát,phải ở lại nuôi mẹ,cho thiếp thay chị nâng khăn sửa túi”.Ông nói tất cả do tiền định.Vợ chồng càng đằm thắm,đã cùng nhau sinh ba trai hai gái.

Sau ngày Trịnh Tùng xưng Vương lập phủ Chúa,ông thường vào phủ vui chơi, được Quận chúa Ngọc Mai ưng ý, ở luôn trong phủ cả tuần không về nhà. Bà ở nhà sốt ruột bói toán cầu cúng khắp nơi,không kết quả gì.Trong xóm có người hát hay,thưòng được vào phủ hát,bà bèn chọn người giả vai cầm trống theo vào phủ dò la,thấy ông ngồi kề vai Quận chúa xem hát như cặp vợ chồng,về nói lại với bà.

Khi ông về nhà chưa dám nói ra,bà nói trước rằng : “Tôi với ông lấy nhau nay đã có năm mặt con. Tôi tuổi đã cao, xin nhường ngôi chính thất cho Quận chúa.Quận chúa còn trẻ ông hãy thương yêu lấy.Ông lấy Quận chúa bước đường công danh sẽ có nhiều thuận lơị”.Ông còn phân vân chưa nỡ dứt tình,Chúa gọi gả Quận chúa, bà lập tức đưa con ra ở nhà riêng. Sau khi đã cưới Quận chúa,ông bỏ hẳn không đành, thường lén đi lại thăm bà. Bà nói:”Tôi với ông kết tóc từ hồi còn trẻ, nay đã trên 30 tuổi sinh năm mặt con. Không phải tôi không muốn cùng ông chung chăn chung gối chung hưởng hạnh phúc.Nhưng nay phòng khuê đã có chủ trương, tôi không dám vì tình cũ làm điếm nhục gia phong. Quận chúa còn trẻ ông hãy thương yêu lấy, đừng suy nghĩ gì về tôi nữa”. Cùng năm ấy sau ngày trùng ngọ, bà sai hai con trai quảy dưa sang nhà biếu Quận chúa và ông. Đến bậc thềm cao anh lên được, em còn nhỏ không lên được, anh leo lên trước rồi kéo em lên.Trước quang cảnh ấy ông bùi ngùi lộ ra nét mặt. Quận chúa nói: ”Thường ngày tôi biết ông suy nghĩ nhiều về các con, chi bằng cho mấy lính hầu sang bên ấy giúp việc, hàng tháng cấp thêm gạo dầu, việc gì lại phải bùi ngùi”. Ông bèn cấp gạo dầu hàng tháng và cho 6 lính hầu sang giúp, từ đó quan hệ giữa hai nhà càng thêm thân mật.

Quận chúa không sinh con trai. Bà Lê thị Đệ có hai trai :Ngô phúc Vạn và Ngô Phúc Vỵ Quận công, cũng đều lấy Quận chúa họ Trịnh.

Hai họ quan hệ sui gia đời này qua đời khác.Hai con gái vào cung,hai con trai lấy Quận chúa.Hai con trai Vỵ Quận công cũng lấy Quận chúa, Ngô thị Ngoc Nguyên thứ phi Trịnh Tùng sinh Trịnh Diêu,con gái Trịnh Diêu lấy Ngô phúc Hộ, con gái Ngô phúc Hộ lấy cháu nội Trịnh Diêu là Trung Quận công Trịnh Bính, con gái Trịnh Bính lấy cháu nội Ngô phúc Hộ là Cảnh Quận công sinh Ngô cảnh Hoàn, con gái Cảnh Quận công lấy cháu nội Trịnh Bính là Lai thọ Hầu. Ngô phúc Vạn có hai con gái vào cung, mười con trai thì tám người lấy Quận chúa và Á Quận chúa họ Trịnh.

Ngô phúc Vạn mặt mũi khôi ngô,dáng người thanh nhã, dong dõng cao, đứng trong triều cao hơn mọi người một cái mũ bình đính, mắt sáng tiếng nói trong, về già có dáng tiên phong đạo cốt,lại là đạo gia nên được mọi người tôn xưng là Phật Thái Bảo.

Xuất thân cửa tướng,văn võ toàn tài,ông không chỉ có sức khoẻ,võ nghệ cao cường, thông hiểu binh thư trận pháp,mà thánh kinh hiền truyện thiên văn địa lý,toán học không có gì là không hiểu sâu, về già lại được một đạo sỹ truyền thụ đạo lý.Là một danh tướng, một trọng thần của nhà Lê, phía bắc đánh Mạc bắt sống Mạc Kính Cung, phía nam chống Nguyễn giữ vững biên cương,nhân dân được yên ổn làm ăn trong một thời gian dài.Chỉ vì lúc thiếu thời tính khí cương cường không chịu khuất phục quyền thần, nên 20 năm công lao không được ghi vào sử sách.

Năm canh tý 1600, ông theo Trịnh Tùng đi đánh Mạc lập nhiều chiến công, phong Tường khê Hầu (23 tuổi)

Năm quý hợi 1623, Trịnh Tùng ốm nặng,con thứ Vạn Quận công Trịnh Thung gây biến (nhiều sách phiên là Trịnh Xuân),ngày 18 kéo quân chiếm Hoàng Đình ,tháng 6 vua chúa phải chạy ra Hoàng mai, theo đường tắt chạy vào Thanh hoá. Đến Thanh oai bệnh Chúa chuyển trầm trọng,ngày 20 thì mất,trong ngoài náo động.Trịnh Đổ có ý muốn dành ngôi chúa cho con mình là Trịnh Cường, bèn đưa thi hài Chúa về phủ riêng của mình gần đó,Ngô phúc Vạn nắm Cấm binh cùng Trịnh Tráng đưa vua Lê về Thanh hoá,lo việc chống với Trịnh Thung.

Trịnh Đổ lập mưu,sai Trịnh Cường đi dụ Trịnh Thung,bảo đến chịu tang rồi sẽ tôn lên ngôi Chúa.Trịnh Thung ngỡ tình thực, chỉ đem theo mấy hộ vệ đến phủ Trịnh Đổ nhận thi hài Chúa đưa về phát tang. Thung vừa bước vào cửa ,võ sỹ phục sẳn chém đứt làm hai đoạn.

Được tin Thăng long có biến, từ Cao bằng Mạc kính Khoan đem vài vạn quân về Gia lâm uy hiếp Thăng long.Trịnh Đổ thấy một mình khó đương đầu với phía ngoài quân Mạc,phía trong quân Trịnh Tráng, bèn bỏ Thăng long đưa thi hài Chúa vào Thanh hoá trao cho Trịnh Tráng và nhận tội. Trịnh Tráng lờ đi không hỏi tội, vẫn cho giữ chức cũ.Thăng long bỏ trống, quân Mạc kính Cung vào thành.

Sau vài tháng chuẩn bị củng cố lực lượng,Trịnh Tráng kéo quân ra Thăng long,đánh đuổi được quân Mạc kính Cung,thu phục kinh thành Triều đình luận công, Ngô phúc Vạn được cả hai công”Truy tuỳ và Tấn phát”(hộ giá chạy vào Thanh hoá và tiến quân thu phục kinh thành,lần này Ngô trí Hoà cũng được cả hai công).

Trịnh Tráng lên ngôi Chúa. Mấy năm liền Mạc kính Cung vua Càn Thống nhà Mạc đem dư đảng người Hải dương và quân Long châu (Trung quốc) sang đánh phá hai trấn Thái nguyên ,Lạng sơn, khí thế khá mạnh. Tháng 12 năm ất sửu (1625) Trịnh Tráng sai con trai Thái bảo Hùng Quận công Trịnh Kiều làm Thống lĩnh,em là Thái phó Trịnh Đồng làm phó tướng, cùng các tướng Tào Quận công Ngô phúc Vạn,Nhạc Quận công, Cảnh Quận công, Thắng Quận công, Hoành Quận công đem đại binh đi đánh Mạc kính Cung. Gặp quân Mạc ở núi Ly đà (cách Cao bằng 20 km) đánh nhau vài trận, quân Mạc thua, Mạc kính Khoan, Mạc kính Cung đều rút quân trốn vào rừng sau,các đạo quân truy tìm mất hút. Ngô phúc Vạn dẫn một toán khinh binh vào rừng lùng xục, sau nhiều ngày tìm kiếm, đến một toà cổ miếu bắt được một nhà tăng tra hỏi,nhà tăng nói không biết gì về quân Mạc, hàng ngày chỉ thấy một người mặc áo chẽn xanh,leo lên chổ cao quan sát, tướng quân bắt người ấy mà hỏi.Ông bố trí đón bắt được người mặc áo chẽn xanh,hỏi ra đúng là thám tử của Mạc kính Cung, Ông buộc người đó dẫn đường đến sào huyệt.Đi không xa đến một nơi có luỹ đá kiên cố vài tầng, có cửa vững vàng, ngoài cửa có vài khẩu đại pháo, ông bố trí phục sẵn kỳ binh, sai người dẫn đường gọi cửa. Cửa hé mở, kỳ binh xông vào, Mạc kính Cung đang cùng cung phi đàn hát, quân ông đã vào sát không kịp trở tay đồ đảng tháo chạy, Mạc kính Cung bị bắt đóng cũi giải về kinh đô.Triều đình luận công ông được thăng Đô đốc Thiểm sự.

Trước đây năm 1620, phía chúa Nguyễn ở Đàng trong,Chưởng Cơ Hiệp và Chưởng Cơ Trạch, con trai thứ 7 và thứ 8 của Nguyễn Hoàng âm mưu làm nội biến cướp ngôi của anh,mật gửi thơ cho Trịnh Tùng yêu cầu đưa quân vào giúp,hẹn xong việc sẽ chia đất đai.Trịnh Tráng sai Đô đốc Nguyễn Khải đem 5000 quân vào đóng ở Nhật lễ,Tường khê Hầu Ngô phúc Vạn có tham dự đạo quân này.Hiệp và Trạch còn e dè Chưởng cơ Tôn thất Tuyên nên chưa dám hành động.Chúa Sãi Vương sai Tuyên đi đánh quân Trịnh,Tuyên không đi, sai Chưởng Doanh Tôn thất Vệ đi thay.Hiệp và Trạch đem quân chiếm giữ Ái tử, Tuyên dẫn quân đi dẹp, bắt được cả hai người đem về giết chết. Nguyễn Khải được tin, không đánh nhau với Vệ nữa, rút quân về. Năm 1627 lấy cớ thiếu thuế cống,Trịnh Tráng lại kéo quân vào đánh chúa Nguyễn,Ngô phúc Vạn đi tiên phong, lập được nhiều công, năm 1630 được thăng Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, lại có nhiều khả năng về chính sự được dự vào Nghị sự đường bàn việc nước.

Năm quý dậu 1633,mặt bắc đã ổn định,Trịnh Tráng cất đại quân đi đánh phía nam.Tháng chạp rước vua Lê theo,chia hai đường thuỷ bộ tiến quân.Ngô phúc Vạn lĩnh ấn tiên phong, qua châu Bố chính không gặp cản trở gì lớn, đến Trường sa cương (tục gọi Bãi dài) đụng độ lực lượng lớn của quân Nguyễn,ông bèn hạ trại đóng quân, bố trí canh phòng cẩn mật.Đêm ấy quân Nguyễn cướp trại, ông đốc quân chống giữ, rạng ngày quân Nguyễn lui.Ông bèn huy động lực lượng đắp luỹ tại chổ, chống nhau với địch,giao chiến 7 ngày đêm,hai bên bắn nhau dữ dội, quân Nguyễn núng thế, rút lui. Ông xua quân đuổi theo đến bờ sông Nhật lệ thu phục lại toàn bộ đất đai bị lấn chiếm, quân Nguyễn rút vào sau luỹ cố thủ.Xem thế luỹ không thể đánh vào được, quân Trịnh lui binh,bình công ông được thăng Thái Bảo (58 tuổi).

Năm 1637 bà cụ Lê thị Đệ từ trần,ông ở quê cư tang.Trong vùng có Tả Đô đốc Nguyễn khắc Tôn Hiền Quận công, con trai Đại tư đồ Nguyễn khắc Khoan người châu Bố chính,liên kết với Bồn Man Ai lao âm mưu chống lại triều đình Lê Trịnh.Nguyễn khắc Tôn giao thiệp với chúa Nguyễn yêu cầu giúp sức, lúc này nội bộ chúa Nguyễn đang lục đục nên không nhận lời. Nguyễn khắc Tôn có sức khoẻ địch trăm người,khi cưỡi ngựa thì hai bên nổi gió, sử dụng đại đao không ai có thể đương nổi.

Ngô phúc Vạn biết rõ âm mưu và thực lực, bèn dùng “Công tâm kế”, sai tướng tâm phúc là Vinh khánh Hầu (người làng Nha kỳ xã Trảo nha) dẫn khinh binh vào vùng Khắc Tôn kiểm soát, tìm gặp thủ hạ Khắc Tôn,thuyết phục phân tích rõ điều hơn lẽ thiệt tỉa dần vây cánh của Khắc Tôn. Tiếp theo là biên thơ cho Khắc Tuân phân tích lẽ phải trái, tương quan lực lượng, điều lợi hại về sau khuyên về hàng, cuối cùng Nguyễn khắc Tôn nghe theo, xin về với triều đình.Ông sai con trai Ngô phúc Thiêm dẫn ra Thăng long. Nhân vụ này Ngô phúc Thiêm được phong tước Quận công,lúc này mới 13 tuổi.

Liền sau đó, chưa mãn tang mẹ nhận được chỉ triệu về kinh,trao chức Trấn thủ trấn Nghệ an, kiêm chức Thống lĩnh các đạo quân phía nam.Trên mười năm Trấn thủ Nghệ An (từ lúc đó đến ngày từ trần năm 1652) quân chúa Nguyễn không dám ra quấy phá biên giới phía nam,nhân dân được yên ổn làm ăn.

Trong thời kỳ trấn thủ Nghệ An có lần về triều Chúa hỏi Ông về tình hình biên cương, Ông nói: “Xin Chúa bình tâm, cha con tôi còn ở đó, địch không dám làm gì, một mai thế sự biến thiên, tôi không thể biết trước được”. Chúa Trịnh nói:” Cha con ông thực xứng đáng là Xã tắc chi trảo nha (Nanh vuốt của nước nhà).Về sau hai chữ Trảo nha được lấy làm tên xã thay hai chữ Đan liên cũ.

Trịnh Khâm âm mưu gây nội biến dành ngôi Chúa, dự định ngày mồng 5 tháng 5 thì khởi sự.Ngô phúc Vạn biết được âm mưu đó, hiến kế cho Chúa, ngày mồng 1 bao vây bắt gọn, chặn được cuộc nội biến, ông được thăng Thái Uý, sau đó được thăng Phó Tướng Chưởng phủ sự, đuợc mở “Trung nhuệ quân Doanh”.

Ông là một huân thần danh tướng được chúa Trịnh Tráng trọng vọng. Ngày 12 thaáng 8 (1652) Chuá trọng bậc lão thành, uỷ thác ông cầm Kim sách lên Long trì thay mặt Chúa chịu trăm quan lạy mừng,Công hầu khanh tướng xưa nay chưa từng có.

Ngày 15 cùng tháng, ông không bệnh mà mất ở chính tẩm.

Ông lắm vợ nhiều con, có tất cả bảy bà, 25 con trai gái, Chính thất là Quận chúa Ngọc Uyên con gái Trịnh Tùng, em Trịnh Tráng.Mười con trai , năm tước Quận công, ba người phong tước cùng một ngày là Ngô phúc Đang, Ngô phúc Hạp, Ngô phúc Hộ (ngày 19 tháng 4 năm Vĩnh Trị thứ 3 -1678) và năm tước Hầu. 15 con gái có hai người vào cung làm vợ Chúa: Ngô thị Ngọc Phương phong Khắc Noãn, Ngô thị Ngọc Tôn phong Hoa Dung.

Em trai là Vỵ Quận công,sinh hai con trai Diên Quận công và Lý Quận công, cả ba cha con đều lấy vợ là Quận chúa họ Trịnh.

Từ Đường Ký

( Khắc vào bia đá, hiện còn ở Từ đường ở Thổ Sơn,xã Đại lộc huyện Can lộc Hà tĩnh)

Năm năm sau khi Thái bảo Tào Quận công từ trần Lễ bộ giao cho ông Nguyễn công Khanh Tiến sỹ khoa đinh sửu (1637) đương chức Bồi tụng Kim tử Vinh lộc đại phu Phương lộc Hầu,người xã Phù lưu huyện Đông sơn tỉnh Thanh hoá viết bài ký khắc vào bia đá.

(Dịch từ nguyên văn chữ Hán)

Thường nghe,

Đại thần phải có đức với dân, dốc lòng vàng đá soi sáng về sau, đâu phải chỉ vinh hiển một thời rạng vẻ một xóm.

Ông họ Ngô tên Vạn người xã Trảo nha huyện Thạch hà trấn Nghệ an, Cao cao tổ là Hải Tổng binh Đồng tri, Trấn thủ Thái nguyên,Cao tổ là Hà Chủ bộ phủ Yên vương được tặng thưởng Thuần trung Hầu,Tằng tổ là Thanh Đô tổng binh sứ Trấn thủ trấn Nghệ an tước Vĩnh lộc Hầu, Hiển tổ là Trừng Phụ quốc công thần Bật nghĩa quân doanh Tây quân Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Thế Quận công gia phong Thái phó, Hiển khảo là Tịnh, Hiệp mưu dương võ Công thần Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Tứ Quận công gia phong Thái bảo.

Ông sinh năm sửu, tài kiêm văn võ, năm canh tý thụ phong Dương võ uy dũng Công thần Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Tường khê Hầu, năm nhâm ngọ lấy Quận chúa Ngọc Uyên được phong thực ấp,năm bính dần bắt được vua Càn Thống thăng Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, chức ngồi chính đường bàn việc nước, năm quý dậu cầm quân đánh giặc, từ đó tiếng tăm lừng lẫy, năm giáp tuất được phong Thiếu bảo. Năm giáp thân (1644) dẹp phản tặc Hiền Quận công vinh thăng Thiếu phó,Trấn thủ châu Hoan trong ngoài yên ổn triều đình trọng vọng. Năm ất dậu (1645) được thăng Thái bảo, năm canh dần (1650) được mệnh vua dựng Trung nhuệ quân Doanh

Khi ra ngoài cầm cờ mao tiết giữ vững biên cương, khi về kinh thi hành nhân chính bảo vệ miếu đường, làm cho một thời công đức đối với dân như núi Thái sơn, thế nước vững như bàn thạch, phúc lộc đỉnh chung thêm rạng rỡ, để đức cho con cháu mãi mãi về sau.

Con trai đầu Phúc Thiêm cầm quân nghiêm minh, 13 tuổi đã lĩnh binh bắt giặc Khắc Tôn phong Nham Quận công, 18 tuổi có công dẹp yên nội biến đánh dẹp quân Mạc, thăng Hiệu lực Tứ vệ Đô đốc, con gái đều lấy bậc hào hoa, cửa nhà cao rộng nguy nga,ngựa xe ra vào tấp nập. 70 tuổi trên đầu tóc chưa bạc, tưởng còn sống lâu về nơi núi non nhàn hạ, đọc sách ngâm thơ. Những khi nhàn rỗi ông thường đọc sách đạo, sách tiên, dựng am Phúc quy Bửu các thờ Tam tài thủ quân. Để cho xã Thái hà 70 mẫu ruộng tốt để phụng thờ hương khói, lại để cho Hoa sũng 5 mẫu dưỡng điền để báo thập ân từ mẫu, để cho làng Thổ sơn 40 mẫu kính điền để phụng thờ hương khói,để cho Kỳ, Lạc, Chúc, Lý 4 thông 40 mẫu tự điền để lo phụng sự về sau,nghĩ rằng người có phúc lớn sẽ được trời báo. Là con nhà võ tướng văn võ toàn tài, gặp buổi trời mây u ám, khuông phò nhật nguyệt, chỉnh đốn càn khôn, uy danh vang dội, chức kiêm tướng tướng,làm Nguyên lão quốc gia, công nhiều đức thịnh, ít người sánh kịp. Kính điền tự điền để lại cho thôn xóm thừa hưởng lâu dài, ý đồ ấy biết ông lấy trung hậu làm gốc,để răn dạy con cháu trong nhà, thừa hưởng phúc lộc của cha ông, công đức truyền dài lâu cho con cháu,dòng giống đời đời trung thực, cùng quốc gia chung hưởng phú quý,cùng trời đất chung chữ cửu trường, tôi rất hâm mộ cái chí ấy của ông .

 Nhuận Quận công Ngô Phúc Thiêm–Ngô gia Danh tướng

Ngô Phúc Thiêm là con trai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, tuy sinh sau nhưng do bà Quận chúa Ngọc Uyên sinh ra nên làm trưởng, sinh năm Mậu Thìn 1628, mất năm Nhâm Dần 1662, mộ táng trên đồi Nghèn, hiện thuộc thị trấn Can Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,nay vẫn còn. Sau khi mất nhân dân làng Nghiện Hùng xã Trảo Nha thờ làm Phúc thần.

Sắc phong Dực bảo Trung hưng Trung đẳng Tôn thần.

Hai tuổi mẹ là Quận chúa Ngọc Uyên từ trần,năm Mậu Dần 1638 được Thanh Đô Vương Trịnh Tráng đưa về nuôi trong phủ Chúa, nhận làm con, đổi họ Trịnh (Trịnh Phúc Thiêm, Quận chúa Ngọc Uyên là em ruột Chúa Trịnh Tráng).Năm13 tuổi phong Nham Quận công (do vụ chiêu hàng Hiền Quận công Nguyễn Khắc Tôn năm 1642), năm 15 tuổi thi trận pháp đỗ đầu võ sinh cả nước, được thưởng 250 lạng bạc.Có công dẹp nội biến Trịnh Thung, công đi theo đánh Mạc ở Cao Bằng được Thăng Đề đốc phủ Đề đốc(1645).Năm 1646 Chúa gả Quận chúa Ngọc Mầu trở thành Phò mã, cho rất nhiều của hồi môn không Phò mã nào sánh kịp.Được vài năm (1649)vì say mê người thiếp Lê Thị Điều (hơn ông 11 tuổi) nên viết Khải xin trả Quận chúa.Chúa sai quân đến nhà thu hồi của hồi môn, nhà cửa sạch không. Lại thu hồi cả quan tước. Tào Quận công đang ở trấn Nghệ bị triệu về kinh chờ lệnh. Tiếp theo đó bị vu oan tư thông Cung phi, bị thu hồi họ Trịnh,tước bỏ họ Ngô bắt đổi làm họ Phạm,tước quyền thừa hưởng hương hoả họ Ngô.(Vụ án kéo dài hơn 10 năm, phả cũ không nói có bị tù đày hay không, do vụ này cho nên Việt Nam thực lục nhà Nguyễn chép là Phạm Phúc Thiêm).

Từ ngày lấy Quận chúa Ngọc Mầu vợ chồng vốn không hoà hợp,do được Quận chúa hết lòng chiều chuộng nên chưa xẩy ra việc gì có tai tiếng ra ngoài. Không lâu ông yêu bà Lê Thị Điều, nhận làm thiếp, tình vợ chồng với Quận chúa càng phai nhạt, dẫn đến ly hôn.

Lê thị Điều là cháu họ bà cụ Lê thị Đệ,bà cụ đưa về nuôi trong nhà từ khi còn bé, hơn Ngô phúc Thiêm 10 tuổi. Lê thị Điều đã có chồng, sinh một con,ông nhận làm thiếp sau khi người chồng đã chết. Tào Quận công ghét thói yêu kiều,sợ sinh chuyện rắc rối,sai Vinh Khánh Hầu tìm cách giết đi. Ngô Phúc Thiêm biết, sai Thịnh Lộc Hầu đưa xuống thuyền lánh đi xa.Không lâu đang đêm Vinh Khánh Hầu bị hại.Lê Thị Điều sống đến già ở quê ,tục gọi bà Thượng.

Ông bị biếm chưa lâu, dậu đổ bìm leo, trong cung phát hiện bức tranh quê hương, ông bị khép tội “tư thông”, mất họ Ngô, mất quyền thừa hưởng hương hoả .Tào Quận công từ trần, hương hoả trao cho con trai thứ hai là Hàn Quận công Ngô Phúc Đang.

Năm 1655, Nguyễn Phúc Cảnh con Thái uý Đoan Quốc công Nguyễn Phúc Nguyên, cháu Thái uý Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng, thống lĩnh các tướng Hùng Quận công,Nhuệ Quận công, Thuận Nghĩa Hầu, Chiêu Võ Hầu đánh ra trấn Nghệ An, khí thế thực mạnh, tướng Trịnh trấn thủ châu Bố Chính Phạm Thế Dận đầu hàng, Lê Hữu Đức thua ở Hoành Sơn, chạy về xã Hà Trung hợp quân với trấn thủ Nghệ An Lê Hiểu lui cả về Đại Nài (gần thị xã Hà Tĩnh ngày nay). Chúa Trịnh Tráng sai Khê Quận công Trịnh Trượng vào thay Thống lĩnh,rút cả bọn Lê Hiểu về.Trịnh Trượng vào thay,quân chúa Nguyễn rút lui về sông Gianh.Tiến quân đến Kỳ Hoa, Trịnh Trượng sợ quân Nguyễn có mưu kế gì, dừng đóng quân lại ở Lạc Xuyên (Cẩm Xuyên, cũng gọi là Gio Lạc, nay là Cẩm Lạc), cho 500 quân vào đóng chốt ở Hà Trung.Thuỷ quân đóng ở Kỳ La (cửa Nhượng).Thuận Nghĩa Hầu Nguyễn Hữu Dật và Tống Phúc Hoàng đem thuỷ quân ra đánh bại thuỷ quân Trịnh ở Kỳ La, đuổi đến cửa Sót. Chiêu Võ Hầu Nguyẽn Hữu Tiến dẫn bộ binh ra đánh Trịnh Trượng ở Gio Lạc,Trịnh Trượng đại bại, rút quân chạy thẳng về Yên Trường (xã Yên Trường thuộc huyện Chân Lộc,nay là Vinh -Bến Thuỷ).

Trịnh Tráng giáng chức Trịnh Trượng, sai Thế tử Trịnh Tạc vào thay thống lĩnh.Trịnh Tạc đến, quân Nguyễn lui về Hà Trung.

Tháng 10 năm ấy Trịnh Tráng đau nặng,Trịnh Tạc phải về Thăng Long, con út Trịnh Tráng là Vinh Quận công Trịnh Toàn vào thay Thống lĩnh.

Trịnh Toàn thúc quân vào Thạch Hà, thuỷ quân đóng ở cửa Sót, bộ binh đóng ở Hương Bộc và Đại Nài.Nguyễn Hữu Dật đánh bại thuỷ quân Trịnh ở cửa Sót đuổi đến cửa Hội.Thuỷ quân thua chạy,Trịnh Toàn bỏ Đại Nài lui về đóng ở Bến Hoạt (Đò Điệm). Quân Trịnh vừa rút khỏi Đại Nài, quân Nguyễn tổ chức bao vây quân Đào Quang Nhiêu ở Hương Bộc,Trịnh Toàn đem quân vào cứu, gặp quân Nguyễn ở Đại Nài đánh nhau, quân Nguyễn thua chạy vào Hà Trung,Trịnh Toàn đuổi theo đến Tam Lọng, quân Nguyễn phản công,Trịnh Toàn lại thua to phải rút tất cả quân về Yên Trường. Từ đó (1656), quân chúa Nguyễn chiếm đóng phần đất trấn Nghệ An từ bờ nam sông Lam trở vào, đêm ngày khói lửa không tắt, lực lượng quân Nguyễn ngày càng mạnh,uy hiếp bờ bắc sông Lam.

Năm 1657, Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc lên thay ngôi Chúa, sợ rằng để người em có tài ở đất Nghệ An dễ sinh biến, bèn sai con là Thế tử Trịnh Căn vào thay Thống lĩnh, gọi Trịnh Toàn về Thăng Long, khiển trách về tội không về chịu tang cha,Trịnh Toàn bị hạ ngục rồi chết trong ngục. Thời Trịnh Toàn Thống lĩnh các đạo quân chống quân Nguyễn, Lý Hải Hầu Ngô Sỹ Vinh người họ Ngô Lý Trai Đông Thành làm Đốc đồng, vào hàng bạn thân với Trịnh Toàn, cho nên khi Trịnh Toàn bị hại, Ngô Sỹ Vinh cũng bị hiềm nghi.Cũng trong thời kỳ này, quân chúa Nguyễn đánh ra đên bờ nam sông Lam, vùng thương du Nghệ An giặc cướp nổi lên nhiều, đất Bồn Man cũng không yên, Trịnh Toàn đề cử Toàn Nghĩa Hầu Ngô Quang Lộc người họ Ngô Bách Tính Nam Chân, vốn là bạn thân, đem quân đánh dẹp và phủ dụ các cuộc nổi dậy ở biên giới phía tây Nghệ An. Một thời gian ngắn Ngô Quang Lộc trấn an được tây biên,chúa Trịnh tặng 4 chữ “Tây biên thạch thành” –“Thành đá phía tây”.Tuy thế khi Trịnh Toàn bị hại, vì là bạn thân nên vẫn bị Chúa hiềm nghi, Ngô Quang Lộc bèn lấy cớ bệnh tật xin về quê nghỉ dưỡng bệnh.

Vào làm Thống lĩnh, Trịnh Căn chia quân làm ba đạo vượt sông tiến công vào quân chúa Nguyễn. Ba tướng Lê Hiến,Trịnh Thế Long, Hoàng Nghĩa Giao chỉ huy ba đạo ,đều bị đánh lui.Đạo quân của Lê Hiến vượt sông ở bến Lách,vừa đổ bộ xong liền bị quân Nguyễn bao vây,Trịnh Căn đứng trên núi Quyết trông thấy, phải cho quân sang tiếp cứu mới thoát về được.

Đạo quân của Hoàng Nghĩa Giao theo đường ven biển vào đến rú Bầng,đánh nhau với quân Chiêu Võ Hầu Nguyên Hữu Tiến,có lần Trung Phục Hầu,con trai Hoàng Nghĩa Giao 22 tuổi người Kim Động dẫn 500 quân xuất trận. Chiêu Võ Hầu trông thấy tướng trẻ tuổi, lanh lợi, đội ngũ chỉnh tề liền hỏi họ tên. Trung Phục Hầu mạo xưng danh là Nham Quận công Ngô Phúc Thiêm. Quân Nguyễn lúc bấy giờ đa số mới được bổ sung người “thất huyện” (7 huyện thuộc trấn Nghệ An) vốn đã biết uy danh Nham Quận công, mới nghe xưng danh, đã hoảng sợ quẳng gươm giáo mà chạy, hàng ngũ rối loạn, Trung Phục Hầu xua quân đánh giết thắng một trận to.

Từ năm 1657, quân hai bên giữ nhau hai bên bờ sông Lam, thỉnh thoảng đánh nhau vài trận nhỏ.Quân Nguyễn ngày càng mạnh, chúa Nguyễn di chuyển hành dinh ra đất Bố Chính để gần mặt trận hơn làm hậu thuẫn chuẩn bị tiến quân. Chúa Trịnh Tạc ngày đêm lo lắng, chợt nhớ lại câu nói ngày trước của Phó tướng Tào Quận công, nghĩ lại tha tội cho Phạm Phúc Thiêm, điều vào Nghệ An cầm quân dưới trướng Tô Quốc Doanh Trịnh Căn. Trịnh Căn giao cho đem quân đóng ở Chân Lộc đắp luỹ chống giặc. Phạm Phúc Thiêm nhiều lần dẫn khinh binh qua sông đánh thăm dò quân Nguyễn,thắng nhiều trận nhỏ.Khi đã nắm vững địch tình, bèn huy động lực lượng lớn bộ binh voi ngựa,bất thần vượt sông đánh thốc vào hai đạo quân Nguyễn do Hùng Quận công và Nhuệ Quận công chỉ huy đóng ở núi Ngưu Sơn (huyện Nghi Xuân), trận đánh diễn ra ác liệt nửa ngày, cả hai đạo quân Nguyễn bị đanh tan.

Thừa thắng men theo bờ sông, sườn núi,ông cấp tốc tiến quân đánh vào quân thuỷ bộ của Nguyễn Hữu Yến và Nguyễn Hữu Dật đóng ở Mại Sơn (rú Bấn thuộc huyện Thiên Lộc, cách Ngưu Sơn khoảng 12 km dọc bờ sông Lách). Bất ngờ bị tấn công như vũ bão,cả hai đạo quân Nguyễn chống đỡ không nổi, hỗn loạn rút chạy.Thừa thắng, đại quân Trịnh truy đuổi mãi đến bờ sông Nhật Lễ thu phục toàn bộ đất đai đã từng bị chiếm đóng trên 6 năm.Sau chiến thắng, triều đình luận công, Phạm Phúc Thiêm có công đầu, được phục hồi chức tước, thăng Đô đốc Nhuận Quận công.Liền sau đó có chỉ xuống cho phục hồi họ Ngô, trả lại quyền thừa kế hương hoả,đóng quân ở huyện nhà,trấn giữ phía nam, mọi việc trong huyện được tiện nghi hành sự.

Một năm sau ông nhiễm bệnh từ trần. Phả cũ chép ông mặt mũi khôi ngô, có sức khoẻ hơn người, võ nghệ siêu quần, giỏi về binh thư trận pháp, lâm trận biến hoá như thần, đã đánh là thắng, được mệnh danh là “Ngô gia Danh tưóng”.

Một nhà Trung Liệt ,Thu Lĩnh Hầu Ngô cảnh Hoàn(1720-1786)

Tiết Liệt Phu Nhân Phan thị Thuấn

Thu lĩnh Hầu Ngô cảnh Hoàn là con trai Cảnh Quận công, cháu Vinh Quận công Ngô phúc Thụ,dòng Ngô Nước Trảo nha. Bà Phan thị Thuấn là con gái họ Phan làng Nha kỳ xã Trảo nha, là vợ thứ ba Thu lĩnh Hầu. Hai ông bà mất năm 1786 ở sông Thuý ái (đoạn sông Hồng ở địa phận làng Thuý ái,nay là phường Thuý ái quận Hai Bà Trưng Hà nội), bà mất vào độ tuổi 20, chưa có con, không rõ ngày sinh.

Những năm cuối thời Lê trung hưng,anh em họ Trịnh xâu xé nhau tranh dành quyền bính, kiêu binh náo loạn kinh thành, kỷ cương đổ nát. Nguyễn Huệ được Nguyễn hữu Chỉnh gợi ý, dẫn đường kéo quân ra bắc, nhanh chóng tiến chiếm được đến Vỵ hoàng (Nam định) như vào chổ không người, ngược dòng sông Hồng Nguyễn Huệ tiến vào Thăng long. Chúa Trịnh Khải huy động toàn bộ lực lượng bày trận ở bến Tây luông để chống đỡ, Đại tướng Hoàng phùng Cơ cầm Tiền đội bộ binh vài ngàn người đóng ở hồ Vạn xuân, thuỷ quân do Quản Tiền Trạch đội Ngô cảnh Hoàn và Quản Hậu Trạch đội Phan trọng Yêm chỉ huy, dàn chiến thuyền ở bến Thuý ái để ngăn chặn chiến thuyền Nguyên Huệ. Ra quân lần này bạn bè có người khuyên: “Chuyến này không nên đi,đi tất gặp chuyện rủi ro !” Ngô cảnh Hoàn cười nói:”Làm tường có lệnh là đi,giặc đến là đánh, thắng bại sống chết là sự thường” .

Chiến thuyền Tây sơn được gió ào ạt tiến đến, Ngô cảnh Hoàn cầm giáo đứng chỉ huy chiến đấu, chưa được vài khắc bất ngờ trúng đạn súng lớn, ngã xuống sông chết. Chiến thuyền quân Trịnh bị hoả lực mạnh của quân Tây Sơn bắn chìm nhiều, thuyền đội Trung trạch chìm gần hết, Phan trọng Yêm cũng tử trận, thuỷ quân tan. Quân Tây Sơn bỏ thuyền lên bộ đánh thẳng vào đội quân Hoàng phùng Cơ.Bộ tướng Mai thế Pháp phóng ngựa ra chặn đánh, chém được mươi người, bị bức bách quá phải nhảy xuống sông, binh lính sợ, chạy tứ tung ra bốn phía. Hoàng phùng Cơ còn độ 700 quân, dựa vào voi, vừa đánh vừa lùi, 6 trong 8 con trai Hoàng phùng Cơ tham chiến bị tử trận.

Chúa Trịnh Khải chỉ huy ở Tây luông thua to,phải bỏ áo giáp thay khăn chữ “đinh” vào đầu,quay voi chạy ra cửa ô Yên phụ,quân Nguyễn Huệ làm chủ kinh thành Thăng long. Nguyễn Huệ ở lại một thời gian,củng cố triều đình vua Lê, lập Chiêu Thống làm vua,tháng 8 rút quân về Thuận hoá.

Được tin Thu lĩnh Hầu tử trận, cả nhà chịu tang, riêng bà Phan thị Thuấn vẫn mặc đào đỏ phấn son trang điểm như thường ngày, trong họ nhiều người chê trách, bà vẫn thản nhiên.Đến kỳ chung thất,bà đón nhà sư đến ngôi chùa ở Kinh bắc lập đàn làm chay siêu độ cho linh hồn ông 7 ngày đêm.Chay đàn xong bà thông báo trong họ hàng bầu bạn là bà sẽ tuẫn tiết theo chồng,trong họ còn có người hòai nghi chưa tin.Đúng ngày bách nhật,bà ăn mặc chỉnh tề cùng bà con trong họ và bầu bạn từ dinh Cầu mọc đi đến bến Thuý ái,ở đó mọi nghi thức đã chuẩn bị sẵn sàng, lại có ba chiếc thuyền con ở bến. Bà chào từ giã bà con họ hàng, bước lên đàn đốt hương khấn nguyện Thiên địa quỷ thần Diêm vương Hà bá, đọc lời nguyền chép sẵn,có đoạn: “Chàng chết vì nước,thiếp chết theo chàng, để cho thân thiếp được trôi bên thân chàng,…Sau khi thiếp chết, ai mà vớt thi hài thiếp thì thân người ấy cũng sẽ như thân thiếp …”.

Khấn nguyền xong đốt cáo văn, bà một lần nữa vái chào vĩnh biệt bà con bạn bầu, ung dung bước xuống thuyền chèo ra giữa dòng sông, gieo mình xuống nước, thân mình trôi ngược dòng hơn mười trượng mới chết, mọi người thương cảm đều rơi nước mắt.

Trâm ngọc Hầu (con trai đầu Thu lĩnh Hầu) vớt thi hài mai táng trên bờ sông.

Trâm ngọc Hầu về thu xếp cho cả gia quyến về lánh ở trấn Sơn tây, cùng vài người bạn chiến đấu đến Sơn nam hạ tập hợp lực lượng đánh báo thù.

Sau một thời gian,trận đánh không ngang sức diễn ra trên mặt sông Hồng, bị quân Tây sơn tiêu diệt. (Trận đánh báo thù diễn ra vào thời gian Ngô văn Sở làm Tổng trấn Bắc thành, thân cầm quân đi đánh dẹp).Đương thời người ta nói rằng đó là ứng nghiệm của lời nguyền trước đó của bà Phan thị Thuấn.

Khỏang năm Chiêu Thống truy xét đến những người tiết nghĩa, Bà và Thu lĩnh Hầu đều được dự phong, Bà được phong “Liệt nữ Phu nhân”.

Triều đình còn hạ lệnh cho dân sở tại lập đền thờ Bà tại thôn Thúy lĩnh,xã Lĩnh nam,huyện Thanh trì Hà nội. Họ Ngô ở Trảo nha chiêu hồn mai táng hai ông bà trên núi Nghèn, làng Tập phúc cũng lập đền thờ cả hai ông bà và Trâm ngọc Hầu.

Năm Tự Đức thứ 12 (1859) được ban cho chữ:”Lê triều tiết liệt phu nhân Phan thị chi từ”(Đền thờ Phan Thị,người đàn bà tiết liệt triều nhà Lê),dựng bia ở phía đông đền.Sắc phong Thượng đẳng Tôn thần và ban biển vàng đề 4 chữ “Trung liệt nhất gia”,từ đó cả hai đền đều được gọi là “Đền Trung liệt”.

 Đại Tư Đồ Hoành Quận công Ngô phúc Phương ( 1710- 1804)

Tên làm quan là Phương,huý là Túc,thuỵ là Quang Diệu (trong hai đạo sắc phong, một đạo phong tước Phương kỳ Hầu,một đạo phong Tự phu nhân cho bà vợ đã chết Vũ thị Liên, ghi là Trịnh Trinh,như vậy có thể lúc đó ông được nhà chúa cho lấy họ Trịnh, và có tên là Trinh,nhưng phả ký thì không ghi chép tên này).

Ông là con trai Lãng phương Hầu Ngô phúc Chánh, huyền tôn Ngô phúc Vạn (chi 5) .Sinh ra có dị tướng, miệng rộng đút lọt nắm tay, có 36 cái răng, tài kiêm văn võ, 20 tuổi ra quản quân, 30 tuổi đỗ Tạo sỹ (Tiến sỹ võ), làm tướng đến chức Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự Đại tư đồ Hoành Quận công.

Ngô phúc Phương 20 tuổi lấy bà Vũ thị Liên người làng Hà hoàng huyện Thạch hà, sau 9 năm bà chết không có con. Ông lấy bà họ Trương người Gia lâm, đã sinh con trai con gái. Lúc bấy giờ có Phương Huệ Quận chúa con gái thứ 8 chúa Trịnh Cương do bà phi Chiêu Nghi sinh ra. Bà Chiêu Nghi là em gái Phan huy Cẩn cô ruột Phan huy Ích vốn người làng Canh hoạch huyện Thiên lộc. Phương Huệ Quận chúa đã có chồng là Chất vũ Hầu họ Trương ở Gia lâm, đã sinh con trai Trương Yên. Chất vũ Hầu mất, Phương Huệ bị goá bụa vào tuổi 20, còn trẻ đẹp, bà Chiêu Nghi thương con gái còn ít tuổi goá chồng, lấy cớ Ngô phúc Phương là người đồng hương Thiên lộc, xin phép Thái phi (vợ Chánh thất Trịnh Cương người làng Linh đường, thuộc Thanh trì ngày nay) gọi gã cho làm Phò mã. Bà Chiêu Nghi lại xin Chúa cho Cung Ninh sơn làm của hồi môn, ông bà về đó ở (Cung Ninh sơn ở trên núi Ninh huyện Chương mỹ do chúa Trịnh Cương dựng lên làm nơi đi du ngoạn, nay là từ đường họ Ninh sơn ). Quận chúa về làm vợ Chính thất, bà họ Trương ra ở chùa (chùa Thấp cũng trên núi Ninh) 47 tuổi thì từ trần. Khi ông bà về ở Ninh sơn, đất đai còn hoang vu nhiều,bèn chiêu dân lập ấp thành hai xã Ninh sơn và Chúc lý.

Có tài lại là Phò mã, một thời bước công danh thuận lợi, nhiều lần đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy như Lê duy Mật ở Kinh bắc, Ngân Già ở Sơn nam,giặc cướp ở Chương đức, Chương mỹ, Yên trường v.v… Năm 1768 Phương Huệ Quận chúa từ trần được phong Ôn Dung Công chúa. Thái phi triệu ông vào bảo: “Nay Quận chúa đã từ trần, khanh thì phụng sự tại kinh, nhà cửa ở Ninh sơn bỏ không,ta theo nguyên giá hoàn lại khanh nghĩ sao?” .Ông rập đầu nói :”Thần đội ơn Thánh mẫu, xin đem nộp lại”.

Thánh mẫu liền cho chở về Linh đường, dựng lên làm Từ đường họ Thánh mẫu, lại đánh giá lòng trung thành của ông, đem việc kể với chúa.Chúa triệu ông vào khen lòng trung thành và hứa sẽ cho con trai ông ra Quản quân. Ông rập đầu khải:”Thần đội ơn Thái phi, con trai thần còn bé .Trộm nghĩ Quận chúa chết sớm,Trương Yên cô đơn, thần xin nhường”.Chúa càng khen lòng trung thành, cho Trương Yên quản Mã Hậu đội.

Ông có con gái đầu lòng lấy Dương Khuông, Dương Khuông có chị gái lấy Phổ Quận công chú ông, lại có chị gái là Dương thị Hoan lấy Trịnh Sâm sinh ra Trịnh Tông, khi Trịnh Tông ở ngôi Thế tử rất tin dùng ông.Trịnh Sâm rất ghét Trịnh Tông nên ông cũng bị ghét lây.

Lúc bấy giờ trong cung vua, sau khi Thái tử Lê duy Vỹ bị giết,vua Hiển Tôn an phận bù nhìn. Bên phủ chúa,Trịnh Sâm là một chúa có tài kiêm văn võ,thông minh lanh lợi, gặp lúc trong nước có nhiều người tài,khéo tập hợp lại tổ chức thành lực lượng mạnh,đàn áp được các cuộc nổi dậy đã kéo dài nhiều năm, lại đánh thắng quân Nguyễn dành được đất Thuận Quảng. Nhưng Trịnh Sâm cũng rất kiêu căng, xa xỉ, hiếu sắc hay thiên ái, ngày càng kiêu ngạo sa đoạ, lòng người phân tán, nội bộ lục đục. Người tài thì có nhiều,nhưng mỗi người một ý,mỗi người một cách không ai chịu ai, không ai nghe ai,dè dặt không nói không bàn,số đông văn quan tuy bề ngoài thì phải theo Chúa, nhưng trong bụng thì không phục,vì Chúa quá chèn ép vua Lê, đối với việc phế trưởng lập thứ, Chúa muốn làm gì thì làm, không ai quan tâm lắm.

Hoàng ngũ Phúc đang được tin dùng, có con nuôi là Hoàng bỉnh Khiêm,có tên là Hoàng đăng Bảo, cả hai đều tuổi hợi(tuổi lợn), cha con chúa Trịnh thì đều tuổi mùi (tuổi dê), người ta bày ra chuyện sấm ký “Thảo nhất điền bát”(chữ Hoàng), “Lưỡng thỉ trục quần dương “(hai lợn đuổi bầy dê) ,Đăng Bảo”có nghĩa là lên ngôi báu”, rồi qua câu sấm người ta nói cha con họ Hoàng sẽ cướp ngôi Chúa. Lo sợ dư luận, Hoàng ngũ Phúc bảo con nuôi đổi tên là Hoàng tố Lý. Sau ngày đi bình Nam về,Hoàng tố Lý làm Trấn thủ Nghệ an, sắp xếp lại trấn nha, người ta lại đồn ầm lên rằng Tố Lý chuẩn bị tổ chức chống triều đình.Trong phủ chúa, Trịnh Sâm bàn kín với một số cận thần tìm cách trừ sớm Tố Lý .Khi nói Nghệ an thì gọi là Thập thay chữ Nghệ để giữ bí mật,nhưng Hoàng tố Lý cũng biết tin ấy, lo sợ quá dâng khải xin về triều, Trịnh Sâm cho về. Tố Lý ra sức chạy chọt để thoát tai vạ, nhờ người đem mấy mâm châu báu xin ra mắt Thế tử Trịnh Tông.Trịnh Tông nói: “Cái thứ loạn thần ấy nay mai ta sẽ tịch thu toàn bộ gia tài nó, lấy cái thứ này làm gì !”Tố Lý càng sợ ,thông qua vợ mình là Quận chúa, chạy sang nương tựa Đặng thị Huệ lúc này là sủng phi của Trịnh Sâm.Đặng thị Huệ cũng đang cần vây cánh để tranh dành quyền lực, thu nhận Tố Lý và hết sức cất nhắc với Trịnh Sâm.Trịnh Sâm vốn không muốn lập Trịnh Tông(tức Trịnh Khải) làm Thế tử,có ý chờ Đặng thị Huệ sinh con trai.Thị Huệ mãi không đẻ.Khi Trịnh Tông đến tuổi(Theo thể lệ nhà Chúa con trưởng đến 13 tuổi cho ra ở phủ riêng và lập làm Thế tử),Trịnh Sâm phải lập Trịnh Tông làm Thế tử nhưng không cho ra ở phủ riêng. Sau một thời gian, Đặng thị Huệ sinh Trịnh Cán, Tông bị khép tội lười học, giáng làm Quý tử (con út), Cán mới 2 tuổi được lập làm Thế tử.Trịnh Tông bị giam lỏng.

Trịnh Sâm do ăn chơi sa đoạ sinh bệnh mãn tính, thường hay lên cơn, năm Canh tý 1780 lên cơn nặng tưởng chết.Trịnh Tông liên lạc được với một số đại thần trong triều, ngoài trấn như Nguyễn Lễ Trấn thủ Sơn tây, Nguyễn khắc Tuân Trấn thủ Kinh bắc, v.v… bàn mưu khi Trịnh Sâm chết thì kéo quân về phế bỏ Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm Chúa.

Hà như Sơn một tên đầy tớ nhỏ vốn là học trò Ngô thì Nhiệm,hiện làm người giữ sách cho Trịnh Khải,biết được việc này,đem nói với Ngô thì Nhiệm và Nguyễn huy Bá người đang làm Cấp sự trung.Hai người mật báo cho Trịnh Sâm khi đó đã khỏi bệnh mọi chi tiết việc Trịnh Tông âm mưu phế lập.Trịnh Tông bị tống ngục, hơn chục đại thần bị chém đầu hoặc cho uống thuốc độc chết, trong số này có Nguyễn khắc Tuân là cậu Trịnh Sâm, Phổ Quận công (họ Ngô,chú Hoành Quận công Ngô phúc Phương,có bà vợ là chị ruột Dương thị Hoan mẹ Trịnh Tông), Ngô phúc Phương bị khép tội liên quan giáng hai cấp xuống Quản Hậu trạch trụ đội.Vụ này Trịnh Sâm giao cho Ngô thì Nhiệm xử,có bà Bảo mẫu Trịnh Tông đã chạy trốn về Sơn tây với chồng còn bị bắt đưa về Thăng long xử hình phạt “Tứ mã phanh thây”(bốn ngựa xé xác) .Ngô thì Nhiệm được Trịnh Sâm tin cậy,thăng luôn ba cấp,đang từ hàm Lục phẩm lên chức Tả Thị lang hàng Tam phẩm, vào làm việc trong phủ chúa.

Liền mấy năm gần đó Trịnh Sâm đau yếu luôn, sợ gió, sợ ánh sáng phải nằm trong thâm cung,đèn nến suốt ngày đêm, mọi việc triều đình hầu hết do Hoàng tố Lý và Đặng thị Huệ quyết định, các quan đại thần thân quý hàng năm chỉ gặp mặt Chúa một lần, các quan văn võ không được thấy mặt Chúa,Thái phi đến thăm cũng chỉ được đứng ngoài cửa thăm hỏi qua người hầu cận,ngăn cách ngày càng thậm tệ, người ta nói “Việc nhà chúa như việc Thiên Tào”.Những ngày cuối đời Trịnh Sâm phong Đặng thị Huệ làm Tuyên phi, uỷ thác việc lập thế tử Cán cho Hoàng tố Lý và mấy đại thần về phe Thị Huệ. Lúc Chúa sắp chết, Thái phi mới được vào thăm gần giường bệnh,Thái phi muốn bảo Trịnh Sâm không nên bỏ con trưởng lập con thứ, nhưng vướng luôn luôn có mặt Tuyên phi nên không nói được.Trịnh Sâm lạy mẹ, xin nhận tội bất hiếu không phụng dưỡng được đến già.

Năm nhâm dần 1782 Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán lúc đó lên 5 tuổi được lập làm Điện Đô Vương, quyền hành nằm cả trong tay Hoàng tố Lý và Đặng thị Huệ ,hai người lại tư thông với nhau, dư luận trong ngoài xôn xao, nhiều ca dao chỉ trích châm biếm :

Đục cùn thì giữ lấy Tông, Dao đà long Cán còn mong nỗi gì!

Triều thần có mắt như mờ, Để cho Huy Quận vào sờ Chánh cung!

Hoàng tố Lý sai quan Đề lĩnh Thành đem kéo và móc sắt treo ở các chợ trong thành đe doạ nếu ai còn dám bàn tán đến việc trong phủ chúa thì móc lưỡi ra cắt bỏ. Mâu thuẩn ngày càng sâu sắc, các quan trong triều không phục, đang bàn kế phế lập, thì Trịnh Tông đã liên kết với quân Tam phủ khởi sự.

Quân Tam phủ họp nhau ở Khán sơn,ước hẹn với nhau khi nghe ba hồi trống hiệu, thì tất cả kéo nhau vào phủ chúa, phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm chúa. Ngày 20 tháng 10, nhân buổi lễ tuần Trịnh Sâm,có người đánh ba hồi trống hiệu, lính Tam phủ ào vào phủ Chúa đông như kiến, Hoàng tố Lý thét quan Binh bộ ra giải tán quân Tam phủ nhưng vô hiệu, Tố Lý nhảy lên voi ra quát tháo, quân lính xúm lại. Thế quả bất địch chúng,Tố Lý quay đầu voi chạy ra cổng sau, đến gần cổng bị quân lính lôi xuống voi, băm nát người như bùn,em là Hoàng Lương và cả quản tượng cùng bị hại.Quân lính một mặt công kênh Trịnh Tông vào lập làm Đoan nam Vương ,một mặt sục tìm Đặng thị Huệ và phe cánh.Trịnh Cán được một nội giám đưa trốn trong nhà kho, sợ quá khóc to, nội giám lấy tay bịt miệng bảo khóc quân lính nghe sẽ vào giết chết. Đặng thị Huệ ẩn kín trong phủ, cả ngày nhịn đói, đêm đến Thái phi mới đưa cho ít cơm ăn.Cùng trong đêm đó quân lính tìm được Trịnh Cán đưa ra ở nơi khác,về sau bị ốm bệnh rồi chết. Ngày hôm sau thì bắt giữ được Đặng Tuyên phi.Ngô thì Nhiệm thì thoát được, chạy về quê vợ ở xã Bách tính, mấy năm sau đến ngày Lê Chiêu Thống lên ngôi mới trở về làm quan.

Nguyễn Khản (tức Nguyễn Lễ )lên làm Tham tụng,chức Lại bộ Thượng thư. Ngô phúc Phương được trọng dụng,giữ chức Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự, quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội, năm 1783 nhận thêm chức Nội điện mật sát kiêm chức Phụ dực nội điện, con trai là Ngô phúc Trọng ra quản Tiên ưu đội. Năm 1784 Điện nhạc Hầu để thất thủ thành Sơn tây, Ngô phúc Phương làm Thất cơ Chiêu thảo sứ đi Trấn thủ Sơn tây đánh bắt được đầu sỏ Quận Quý thu phục Trấn thành. Năm 1785 đổi Trấn thủ trấn Hải dương, cuối năm ấy về làm Quyền phủ sự trong phủ chúa.

Kiêu binh phá nhà.

Chính quyền họ Trịnh là một chính quyền trọng võ, tổ chức một đội quân mạnh và trung thành.Họ Trịnh dựa vào lính Thanh Nghệ đánh thắng họ Mạc,do đó lính Thanh Nghệ rất được ưu đãi.Được ưu đãi quá sinh kiêu căng,mỗi lúc có điều gì bất mãn thì chống lại quan triều đình, cho nên được người ta gọi là Kiêu binh, từ 6 vạn người khi ở Thanh hoá, lên đến 12 vạn khi ở Thăng long, chủ yếu vẫn là người Thanh Nghệ.Trịnh Cương xác định Thanh hoá là căn cứ địa, Nghệ an là đất ứng nghĩa. Quân lấy ở ba phủ thuộc Thanh hoá là quân tin cậy nhất, gọi là Quân Tam phủ lấy làm quân Túc vệ tức Cấm binh. Lực lượng quân Thanh Nghệ đã đưa họ Trịnh lên đến uy quyền tột đỉnh “Bất đế bất bá quyền khuynh thiên hạ”, thì cũng chính lực luợng quân Thanh Nghệ đã làm lung lay đến gốc rễ và làm sụp đổ luôn cả cái chế độ độc tài của họ Trịnh .Năm 1764 Kiêu binh đã nổi lên giết Bồi tụng Nguyễn quốc Trinh,phá nhà Tham tụng Nguyễn công Trứ chỉ vì hai người này đã khuyên Chúa kìm chế Kiêu binh.Trong mỗi đội quân chọn người có biết chữ làm thư ký ghi chép sổ sách, gọi là Biện lại, quân lính chọn trong đám Biện lại người giỏi hơn cả làm Biện Trưởng cầm đầu.

Khi làm Phụ Dực nội điện Ngô phúc Phương thường khuyên Chúa kiềm chế Kiêu binh,Chúa chưa có chủ định, Kiêu binh biết ,tập họp lực lượng kéo đến phá nhà ông.

Ông biết ý, tìm lời lẽ thuyết phục, Kiêu binh giải tán tạm yên.Năm sau (giáp thìn-1784) Kiêu binh kéo nhau đi phá nhà Thượng lại Nguyễn Khản và nhà Điền nhạc Hầu (em Nguyễn Khản) khi về qua nhà ông,có người hô to :”Đại Tư đồ là bố vợ quốc cậu, của cải của quốc cậu gửi cả ở đây !” Mọi người huởng ứng hè nhau xông vào, phút chốc nhà cửa một viên ngói cũng không còn nguyên.Đang ở trong phủ chúa, được tin, ông hỏi người Biện trưởng:Quân Tam phủ cũng phò Chúa, tôi cũng phò Chúa, không có hiềm khích gì, sao lại có sự việc hôm nay ? Biện trưởng nói : Chúng tôi không có ý định này,không ngăn đoán được bộ ngũ, chúng tôi xin nhận lỗi và sẽ xin bồi thường thoả đáng. Ông nói “Thành sự bất thuyết, ký vãng bất cữu “.

Năm 1786 bính ngọ, quân Tây Sơn vào Thăng long, Trịnh Khải thua chạy.Theo không được Trịnh Khải, Ngô phúc Phương trở về Ninh sơn. Lý trần Quán đưa gửi Chúa vào nhà một người học trò là Nguyễn Trang (ở trấn Sơn tây) nói dối là ông bạn Phan lê Phiên. Qua thái độ đối xử giữa hai người Nguyễn Trang đoán biết là Đoan nam Vương, bèn tra vấn Trịnh Khải. Biết là không dấu nổi tung tích, Trịnh Khải nói, ta là Đoan nam Vương đây, mày làm gì thì làm!Nguyễn Trang đang là Tổng đoàn, đóng cũi giải Chúa đi nạp cho quân Tây Sơn lãnh thưởng,với một câu tự an ủi :”Sợ thầy không bằng sợ giặc”.Đi đường Trịnh Khải xin nước uống, Nguyễn Trang trao cho bát nước, Trịnh Khải đập vỡ bát lấy mảnh rạch cổ tự sát. Trang cướp mảnh bát, vết rạch chưa đủ sâu, Trịnh Khải lấy móng tay móc họng ra chết trong cũi.Trang đưa xác chết đến nộp quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ đem bêu xác ngoài chợ trong thành Thăng long vài ngày cho nhân dân đều biết, rồi cho mai táng theo nghi thức bậc Công. Lý trần Quán ân hận vì mình không nắm được tâm địa học trò, nên phạm vào tội giết Chúa, bèn nhờ chủ nhà mua lễ vật tế lễ Trịnh Khải, lại nhờ mua sắm cổ quan tài, đào huyệt tự chôn sống mình để tự xử cái tội sai lầm đi đến giết Chúa. Chủ nhà can ngăn, Lý trần Quán nói: chí tôi đã quyết, nếu ông không giúp tôi thiếu gì cách tự xử.Trước khi đậy nắp quan tài, Lý trần Quán đọc câu đối sau đây dặn dò chủ nhà nhớ kỹ sau nói lại với cháu con ông:

Tam niên chi hiếu dĩ hoàn,

Thập phần chi trung vị tận.

(Lý trần Quán :1735-1786 văn thân đời Lê mạt,Tiến sỹ khoa bính tuất-1766-Đông các Đại học sỹ Tham chính Thanh hoá , người Vân canh,vốn họ Trần đổi Đặng Trần rồi đổi Lý Trần)

Đoan nam Vương Trịnh Khải chết, Ngô phúc Phương đi tìm được Trịnh Bồng đang ẩn náu trong một ngôi chùa ở trấn Sơn tây, bèn liên lạc với Hoàng phùng Cơ ở Sơn tây, Đinh tích Nhưỡng ở Hải dương mưu đồ khôi phục Thăng long. Ông chia người đi vận động các huyện Yên sơn, Mỹ lương, Chương đức tổ chức nghĩa quân, bỏ tiền của nhà ra cung ứng quân nhu, được hơn 5000 người, giao ước với Sơn tây, Hải dương chờ ngày khởi sự. Tháng 8 quân Tây sơn rút cả về Thuận hoá, từ vùng Quảng trị, ông đưa Trịnh Bồng về Thăng long, cùng các cựu thần lập làm Án Đô Vương. Ông đứng ra thu xếp cung phủ, con cả Trọng võ Hầu quản Tả bộ hiệu, Khoát võ Hầu quản Trung Trạch đội, Ngạn trung Hầu quản Khuông trung đội, Thuần trung Hầu và Diễn võ Bá đều quản người một đội.Cùng lúc Dương trọng Tế ủng hộ Trịnh Lệ từ Kinh bắc về cũng định lập làm Chúa, hai bên xô xát vài trận, Dương trọng Tế chạy sang với Trịnh Bồng, Trịnh Lệ rút lui. Tháng 10 Ngô phúc Phương nhận nhiệm vụ tổ chức bố phòng phía nam, tháng 11 nhận thêm nhiệm vụ chỉ huy cơ Vệ binh phủ Ứng thiên.

Được các tướng và các cựu thần ủng hộ, Án Đô Vương Trịnh Bồng lại chuyên quyền,Vua Chiêu Thống trở lại bù nhìn như xưa, ngày đêm cùng một số cận thần bàn mưu dành lại quyền lực,mâu thuẩn giữa Vua và Chúa ngày thêm sâu sắc. Con thứ Ngô phúc Phương là Thuần trung Hầu (con rể Trịnh Bồng) một sáng cùng vài thủ hạ ra đường gặp Dương trọng Tế, Tế hỏi Phò mã đi đâu sớm thế ? Thuần trung Hầu đáp: Rảnh rỗi không có việc gì,đi săn vài con muông chơi thôi !Tế nói :Cọp ngồi sau lưng không lo, lại đi săn thỏ! Hỏi: Ông nói cọp nào ở đâu? Tế chỉ vào Hoàng cung nói: Đấy, cọp đấy, nếu cọp ấy còn, thì cái ngôi vị của bố vợ Hầu e rằng hỏng đó !

Thuần trung Hầu quay về chọn mấy tay võ sỹ đeo đao tiến thẳng vào cung vua Chiêu Thống. Vừa lúc Thạc Quận công Hoàng phùng Cơ đi tuần bắt gặp,Quận Thạc thét hỏi :Thuần trung Hầu vào đây định làm gì, ai bảo, quay về ngay, không đừng có trách ! Sợ Quận Thạc mọi người vội cùng nhau quay về.

Ngày sau Hoàng phùng Cơ bị Nguyễn hữu Chỉnh bắt đưa ra chém, nhớ công ơn ấy Chiêu Thống can thiệp xin cho đuợc chết toàn thây.

Chiêu Thống gửi mật chỉ triệu Nguyễn hữu Chỉnh từ Nghệ an ra giúp trừ chúa Trịnh,Chỉnh hớn hở ra ngay. Chỉ đánh nhau mấy trận nhỏ,hai con trai Ngô phúc Phương Ngạn trung Hầu và Thuần trung Hầu tử trận, Hoàng phùng Cơ trở về Sơn tây, Ngô phúc Phương về Ninh sơn,Trịnh Bồng bỏ ghế chúa chạy.

Cuối năm mậu thân, Lê Chiêu Thống dẫn quân Thanh vào, triệu ông ra giúp.Ông lấy cớ tuổi già từ chối,chỉ một mình Trọng võ Hầu Ngô phúc Trọng ra giúp, đến ngày Chiêu Thống chạy theo quân Thanh, Phúc Trọng trở về sinh sống ở Ninh sơn.

Ngô phúc Trọng sinh sau mấy người em, nhưng vì là con bà Quận chúa sinh ra,nên được làm con trưởng, bà họ Vũ con gái Quốc cậu Bỉnh trung Công Vũ Tất.

Thời còn trung niên, Hoành Quận công ở kinh đô vùng Ngọc Hà, có Quốc cậu Bỉnh trung Công Vũ Tất, thực lộc ngàn chung, xe vài trăm cỗ, uy thế trong triều có một không hai,người ta tới lui xu phụ dựa dẫm rất nhiều. Gần vưòn nhà ông có người ở trại Ngọc hà trồng và bán hoa, người này cũng là môn hạ Bỉnh trung Công,hàng ngày lấn đất lấn vườn nhiều lần, ông đã nhường nhịn nhiều, càng ngày càng lấn tới. Ghét thói ỷ thế cửa quyền xâm phạm tài sản người khác, ông sai gia nhân can thiệp. Lão hàng hoa kiện với Bỉnh trung Công, Bỉnh trung Công sai người gọi ông tới đối chất.Ông bảo người đến gọi rằng :Anh kia, anh kia là phường ty tiện, sao lại được quan lớn coi trọng hơn tôi, ông không đến. Bỉnh trung Công nổi giận nói :Trong thiên hạ có ai dám chống lại ta, truyền lệnh chỉnh đốn voi đi phá nhà ông , môn hạ can gián mãi mới thôi.

Về sau Bỉnh trung Công biết ông là người có tài thao lược, kết thành bạn, rồi sau thành sui gia, con gái thứ hai của Bỉnh trung Công lấy con trưởng của ông Ngô phúc Trọng .Ngô phúc Trọng cả hai ông bà đều từ trần ở Ninh sơn và mộ phần cũng ở đó.Con cháu thì trở về quê cũ Trảo nha,nay thành phái trưởng của chi 5, tộc trưởng là Ngô xuân Diệu, Xuân Diệu không con kế tự, đến Ngô xuân Huy thay trưởng.

Đại Tư Mã Chấn Quận công Ngô văn Sở

Đại Tư mã Ngô văn Sở danh tướng Tây Sơn là dòng dõi Tào Quận công Ngô phúc Vạn dòng Ngô Nước ở Trảo nha huyện Can lộc tỉnh Hà tĩnh,thiên cư vào nam khoảng ba đời.Vào thời Nguyễn Tây sơn đã nhiều lần đối chiếu gia phả thì đúng thế, nhưng sau vụ tai biến năm 1795 gia quyến thất tán mất liên lạc, nên đến nay chưa rõ con cháu ở đâu, còn tồn nghi, vì một vài dòng họ Ngô đã đổi họ khác.Theo một vài tài liệu chưa đủ tin cậy lắm, ông bố là Ngô phúc Diễn, một võ quan của chúa Nguyễn ở Đàng trong, ông nội là Ngô Mãnh giữ chức Đô Thống chế của chúa Nguyễn,vì một nguyên nhân gì đó về nghỉ hưu sớm, ở nhà dạy võ. Ngô văn Sở được truyền thụ võ nghệ từ nhỏ,ra công luyện tập trở thành một dũng tướng bách chiến bách thắng .

Về việc Ngô văn Sở gia nhập phong trào Tây Sơn, có nhiều thuyết khác nhau, phả ký họ Ngô ở Vỵ xuyên huyện Mỹ lộc Nam định chép: Ngô văn Sở là tướng của chúa Nguyễn, chúa Nguyễn sai ra dụ Tây Sơn,ông không dụ Tây Sơn mà lại theo luôn Tây Sơn, nên sau này họ Ngô ở đó sợ Gia Long trả thù phải đổi thành họ Trần.

Có tài liệu nói Ngô văn Sở về với Tây Sơn sau ngày Nguyễn Nhạc đã đánh chiếm Bình định,năm 1773 được cử làm Chinh nam Đại tướng quân ,sau theo Nguyễn Huệ ra đánh chiếm Phú xuân. Năm 1787 phái bộ Trần công Xán, Ngô Nho từ Thăng long vào Phú xuân giao thiệp đòi lại đất Nghệ an,Ngô văn Sở đề nghị giết cả hai, Nguyễn Huệ không chấp thuận thả cho về bằng đường biển nhưng rồi lại cho người dìm thuyền cho chết đuối cả ở ngoài khơi.

Sau khi đã giải quyết xong việc tranh chấp quyền lực với anh là Nguyễn văn Nhạc, Nguyễn Huệ sai Ngô văn Sở, Phan văn Lân đem quân ra Nghệ an hợp quân với Vũ văn Nhậm đang trấn thủ ở đó, giao cho Vũ văn Nhậm làm Tiết chế, kéo quân ra Bắc diệt Nguyễn hữu Chỉnh.Tháng 12 năm ấy, Ngô văn Sở đánh tan quân Lê Duật Trấn thủ Thanh hoá ở đất Cổ lộng, vượt Tam điệp đánh bại Nguyễn như Thái là viện binh từ Thăng long vào ở bến Nghè ,vượt sông Gián khẩu đánh đuổi quân Nguyễn hữu Du phải chạy về Bình vọng hợp với quân của bố Nguyễn hữu Chỉnh cùng nhau rút chạy về Thăng long. Hoảng hốt quên cả thông báo cho vua Lê Chiêu Thống,cha con mang cả gia quyến vượt sông Hồng chạy đến núi Tam tằng thì quân Ngô văn Sở đuổi kịp,bao vây đánh, giết chết Nguyễn hữu Du.Nguyễn hữu Chỉnh một mình một ngựa chạy đến Yên thế bị bắt sống đưa về Thăng long. Chỉnh xin được gặp Vũ văn Nhậm để cầu xin tha mạng, Nhậm vạch tội Chỉnh rồi sai xé xác,ứng với câu thơ “Vịnh cái pháo” của Chỉnh : “Càng kêu lắm càng tan xác lắm- Cuộc đời chỉ một tiếng mà thôi!’.

Vũ văn Nhậm vốn là tướng của chúa Nguyễn, quân Tây Sơn bắt được trong một trận đánh ở Gia định năm 1786. Nguyễn Nhạc thấy Nhậm có tài, phong chức tước rồi lại gả con gái cho.Nhậm theo quân Tây Sơn đã lập được nhiều chiến công,sau khi chiếm được Thăng long,sinh kiêu căng,tự ý lập Sùng nhượng Công Lê duy Cẩn làm Giám quốc trông coi việc nước.Nguyễn Huệ vốn không tin Vũ văn Nhậm, nên khi trao cờ Tiết chế cho Vũ văn Nhậm có dặn riêng Ngô văn Sở rằng:“Nhậm là tướng có tài, nhưng ta chưa tin hắn, chuyến này ta cho hắn cầm trọng binh, chưa chắc đã không sinh biến, ta chỉ lo có hắn, chứ Bắc hà có gì, các ngươi phải xem xét cẩn thận, có việc gì thì phải báo cho ta ngay”.Ở Thăng long,Ngô văn Sở khuyên Vũ văn Nhậm :”Tôi xem mặt mũi Lê duy Cẩn như vậy, sai khiến được ai, xem có thể lấy được thì lấy luôn đi,việc gì phải mượn một thằng cầu bơ cầu bất làm bù nhìn trông coi việc nước. Xưa nay thiên hạ đâu phải là của một nhà,ta đóng quân lâu trong thành không lẽ vì nó mà trông coi cho nó sao?” Vũ văn Nhậm nói :”Ở Bắc hà nhân dân vẫn nhớ nhà Lê,ta không thể không tạm thời theo nguyện vọng của mọi người.Các ông chỉ biết đánh khoẻ, việc ấy ta đã có chủ định”. Ngô văn Sở lặng lẽ lui ra, nói với Phan văn Lân: “Tiết chế khinh người quá lắm, thử xem từ ngày vào thành đến nay, ông ta đã làm được việc gì? Bắt dân đào hào đắp luỹ phò Lê duy Cẩn, sắp sẵn cái mưu tranh dành với chúng ta. Hắn không lấy bài học Nguyễn hữu Chỉnh làm răn, lại bắt chước Chỉnh,vậy thì cho hắn theo Nguyễn hữu Chỉnh để làm gương cho người khác”. Bèn mật báo cho Nguyễn Huệ mọi hành vi của Nhậm.

Tiếp được mật báo, đã sẵn có mối nghi ngờ, Nguyễn Huệ liền đem binh mã ra Bắc, trong 10 ngày tới Thăng long, đến nơi vào lúc canh tư, đi thẳng vào dinh Nhậm, sai võ sĩ giết ngay Nhậm tại chổ lúc đang ngủ, chỉ định Ngô văn Sở làm Tổng trấn Bắc thành, để Lê duy Cẩn làm Giám quốc trông coi việc tế tự vua Lê, gọi các cựu thần nhà Lê ra làm quan. Ổn định xong tổ chức, Nguyễn Huệ trở về Phú xuân.

Mất Thăng long, vua Chiêu Thống chạy lên Kinh bắc, bị Trấn thủ Kinh bắc Lê cảnh Xước tước đoạt hết vàng bạc mang theo,lột cả áo bào nhà vua đang mặc trong người. Nhà vua chạy lên Bảo lộc, rồi lại chạy về Chí linh dựa vào lực lượng cần vương của Lê Ban và Trần quang Châu. Ngô văn Sở đưa quân đánh dẹp. Lê Ban, Trần quang Châu rút quân ra đảo, nhà vua lại chạy vào Sơn nam hạ dựa vào lực lượng cần vương của Trương đăng Quỹ, Trương đăng Thụ. Ngô văn Sở thân cầm quân vào đánh tan các đạo quân cần vương ở Sơn nam. Chiêu Thống lại chạy vào Biên sơn,đến Thanh hoá kêu gọi cựu thần ứng nghĩa cần vương, các cựu thần nhà Lê ở Thanh hoá nổi lên chống lại quân Tây Sơn đều bị dập tắt (Mấy chi họ Ngô ở Thanh hoá bị tàn sát ,nặng nhất là họ Ngô ở xã Thịnh mỹ huyện Thọ xuân).Các đám cần vương còn lại lần lượt bị dẹp tan, hết chổ cậy trông, Chiêu Thông trở về bắc,ẩn náu ở huyện Phượng nhân, sai người đi cầu cứu với nhà Thanh bên Trung quốc.

Được Lê Chiêu Thông cầu viện là cơ hội tốt cho nhà Thanh thực hiện bành trướng xuống phía Nam,mưu đồ tái chiếm Việt nam.Vua Càn Long nhà Thanh sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn sỹ Nghị thống lĩnh 20 vạn quân,chia làm ba đạo ào ạt tiến sang.Ngô văn Sở được tin cấp báo,một mặt thảo điệp văn ký tên Lê duy Cẩn gửi cho quân Thanh yêu cầu hoãn binh, một mặt họp các quan văn võ bàn kế chống giặc.Chưởng phủ sự Nguyễn văn Dũng bàn:” Quân Thanh từ xa đến mỏi mệt,quân ta nhàn rỗi đang sung sức, bố trí mai phục nơi hiểm yếu, quân Thanh đến đổ ra mà đánh lo gì không thắng”. Ngô thì Nhiệm bàn : “Tình hình hiện nay quân nhà Lê đi trốn tránh khắp nơi,đâu đâu cũng có,nghe tin quân Thanh đến chúng nghển cổ ngóng trông,quân ta mai phục ở đâu , quân số nhiều hay ít, địa thế hiểm hay không, quân Thanh chưa biết,chúng báo cho quân Thanh biết, tương kế tựu kế quân Thanh sẽ bao vây bốn mặt, quân cơ bị lộ là tự mình hãm vào chổ chết, còn đánh được ai. Cho nên khéo mai phục thì thế nào cũng thắng, nhầm mai phục thì thế nào cũng thua. Trong phép dùng binh có đánh có giữ, bây giơ quân Thanh sang đây uy thế rất lớn, những kẻ làm nội ứng cho chúng lại phao tin thêm, làm náo động lòng người, quân ta có việc gì ra khỏi thành là bị chúng bắt giết,vã lại lính Bắc hà được dịp này hay trốn,đưa hạng lính ấy đi đánh khác nào xua dê vào miệng cọp, không thua sao được. Còn muốn đóng cửa thành cố giữ thì lòng người đã không vững rồi,cái lo bên trong có thể xẩy ra, khác nào bắt con chạch bỏ vào giỏ cua vậy.Đánh không được, giữ cũng không xong, bất đắc dĩ có cách này,cho thuỷ quân thuận gió chở lương thực vào Biện sơn mà đóng, cho bộ binh mở cờ gióng trống vào Tam điệp mà giữ,thuỷ bộ thông nhau giữ lấy chổ hiểm cho vững thế thủ,sai người vào cấp báo với Chúa công, thử xem quân Thanh đến đối xử với vua Lê ra sao,sau khi phục quốc quân mưu quốc kế của Lê Chiêu Thống như thế nào, chờ Chúa công ra đánh cũng chưa muộn”.

Ngô văn Sở thấy rằng trước mắt chưa đương được với quân Thanh thế mạnh gấp bội, cựu thần nhà Lê đang nổi dậy khắp nơi, nên chấp nhận kế sách Ngô thì Nhiệm đề xuất, rút lui cố thủ bảo toàn lực lượng. Chỉ có Phan văn Lân không chịu,xin đem 1000 quân đến sông Như nguyệt ngăn chặn quân Thanh, Ngô văn Sở cho đi (tuy nắm chắc phần thất bại, nhưng cũng nghi binh che mắt quân Thanh để việc rút lui được êm thấm).

Quân Phan văn Lân đi suốt đêm đến bờ sông, đang đêm lội qua sông, định tập kích vào đạo tiên phong của quân Thanh vừa đến đóng ở đó. Gặp thời tiết giá lạnh,binh sỹ lội sang sông bị chết cóng nhiều,người nào lên được bờ bắc đều bị quân Thanh giết hết, Phan văn Lân phải chạy trở về Thăng long.

Ngô văn Sở tập trung các đạo quân ở các trấn về Thăng long, giả tiếng đắp luỹ phòng thủ, tổ chức cuộc duyệt binh lớn trên bãi sông Hồng, rút lui về Tam điệp được hoàn hảo. Đêm rút quân,hậu quân đến Thường tín nhân dân trong thành mới biết.

Đô đốc Tuyết về Phú xuân cấp báo. Nguyễn Huệ lên ngôi vua lấy niên hiệu Quang Trung, dẫn đại binh ra Tam điệp tổ chức phản công, đánh tan 20 vạn quân Thanh,Tôn sỹ Nghị thoát chạy về nước, chân không kịp xỏ giày.

Trong cuộc phản công, Ngô văn Sở và Phan văn Lân chỉ huy đạo tiên phong tiêu diệt gọn đồn Hạ hồi, đánh tan đồn Ngọc hồi tiến vào Thăng long. Ngô văn Sở tiếp tục giữ chức Tổng trấn Bắc thành.Năm 1789-1790 ông cầm đầu phái bộ đưa Quang Trung giả sang Yên kinh dự lễ Bát tuần đại thọ vua Càn Long nhà Thanh,được triều đình nhà Thanh trọng vọng.

Năm 1793 quân Nguyễn Ánh bao vây Bình định,Nguyễn Nhạc cầu viện Phú xuân, vua Tây Sơn Nguyễn quang Toản sai Thái uý Phạm công Hưng, Nguyễn văn Huấn, Lê Trung và Ngô văn Sở đem 17 vạn quân, 80 thớt voi vào cứu Quy nhơn, chưa đến nơi Nguyễn Ánh đã lui quân, Phạm công Hưng dẫn quân vào thành đòi giải giáp quân Nguyễn Nhạc, Ngô văn Sở khuyên ngăn nhưng không nghe, Nguyễn Nhạc tức qúa hộc máu ra chết (Vua Thái Đức, anh Quang Trung,bác Quang Toản) .

Năm 1795 Thái sư phụ chính Bùi đắc Tuyên lộng quyền,chém Lê văn Hưng,đày Lê văn Kỷ ra Hoàng giang làm Dịch trạm, điều Vũ văn Dũng ra Bắc.Theo lời khuyên của Trần văn Kỷ,Vũ văn Dũng quay trở về Phú xuân cùng Phạm công Hưng, Nguyễn văn Huấn làm đảo chính, bắt nhốt Bùi đắc Tuyên, sai người vào Quy nhơn bắt Bùi đắc Trụ con Tuyên, đưa về Phú xuân.Lại sai Đô đốc Hải ra Thăng long, giả chiếu Nguyễn quang Toản sai Bắc thành Hoàng đệ Nguyễn quang Thuỳ lừa bắt Ngô văn Sở đưa về Phú xuân,Vũ văn Dũng cùng phe đảng thêu dệt thành tội phản quốc, bỏ vào cũi sắt dìm xuống sông Hương cho chết hết, ấy là vào năm 1795, kết thúc cuộc đời oanh liệt của vị danh tướng nổi tiếng một thời.

Trần quang Diệu đang đánh nhau với Nguyễn Ánh ở Gia định được tin,buông lỏng Nguyễn Ánh, kéo quân về bao vây Phú xuân, đòi bắt Vũ văn Dũng hỏi tội. Nguyễn quang Toản chỉ có khóc, Phan huy Ích viết cho Quang Toản bài Chiếu nôm để dàn hoà, việc mới yên.

Đương thời có người làm bài văn tế Ngô văn Sở như sau :

(Bài văn tế viết bằng chữ nôm chép tay trong tập Minh đô sử, sau phần sự tích Vũ văn Dũng,vì chữ nôm chép không rõ ràng, có thể có chữ đoán sai .)

Tây Sơn Trung nguyên tiết tế Đổng lý Ngô văn Sở

Than rằng:

Ngựa Hồ kêu gió bấc, ngậm ngùi thay mây cuốn lá cờ nheo

Chim Việt đậu cành nam, ngao ngán nhẽ sương mờ chăn cẩm thuý.

Nhớ xưa,

Chức lãnh Quận công, quyền đương Đổng lý

Mũ hồng mao, biều quai bạc, người miền bắc điểm trang

Nón khâu lứ, chóp bịt đồng, cậu đàng trong tử tế

Ba tháng mối diềng cắt đặt, lòng vì nước quản chi

Bảy điều chính lệnh sửa sang, đức vì dân chẳng trễ

Những ước trăm năm mưa móc, dòng trong thanh vị nước sông Ngô

Nào ngờ một phút phân kỳ, nước đục dễ phai màu chè Huế

Hay là vì ân xưa thầy tớ,xuống suối vàng theo dõi gót Thái sư

Hay là nghĩa cũ vua tôi,lên mây bạc để tìm xe Tiên đế

Trước trại rèm hùng sịch mở, phòng thuộc ngẩn ngơ chiều

Trong thành cờ lệnh truyền sai,bà con ngao ngán nhẽ

Nha trù chia của, nỡ nào quên cậu chị tơ già

Gái đẹp thân sang, nỡ lãng quên đàn con non trẻ

Nguồn cơn không bề tính cho xuôi

Cơ sự dễ ai hay đặng nhẽ !

Họ Ngô Lý Trai Đông Thành – Phụ tử đồng khoa

Ngô Định con thứ Ngô Nguyên và bà Chu thị Bột ở Vọng nguyệt huyện Yên phong trấn Kinh bắc,thiên cư vào xã Lý trai huyện Đông thành trấn Nghệ an,có nhiều con trai,có mấy người thất tích,còn lại hai người là Ngô quang Tổ và Ngô quang Tâm.

Ngô quang Tâm ở Lý trai,Ngô quang Tổ vào làm quan ở trấn Quảng nam,sau về ở huyện Hưng nguyên cùng trấn (xem sau).

Ngô quang Tâm sinh Ngô quang Tân.Quang Tân sinh Ngô trí Trạch,Ngô tiên Gián.Ngô tiên Gián sinh Ngô mậu Cử thi trúng Tứ trường làm Tri châu Minh linh (nay là Vĩnh linh tỉnh Quảng trị),gặp lúc chia cắt đàng ngoài đàng trong vợ con ở lại không về,dòng dõi nay là một chi họ ở Vĩnh linh Quảng trị.

Ngô trí Trạch sinh Ngô trí Tri,Ngô trí Tri sinh Ngô trí Trung,Ngô trí Hoà.Ngô sỹ Vinh là con thứ Ngô trí Hoà có 13 con trai và nhiều con gái.

Ngô trí Tri (1537-1628)

Cùng Ngô mậu Cử thi đỗ Tứ trường năm mậu ngọ 1558, Khoa Nhâm thìn 1592 con trai là Ngô trí Hoà thi đỗ Hoàng giáp, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân,ra làm quan Hiến sát sứ đạo Sơn nam,tặng phong Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu Khánh diễn Bá.

Ngô trí Hoà (1565-1625)

Sinh năm ất sửu 1565,thông minh từ nhỏ,13 tuổi đã giỏi văn chương,18 tuổi thi đỗ Tứ trường cùng với anh là Ngô trí Trung (khoa nhâm ngọ 1582),28 tuổi thi đỗ Hòang giáp đồng khoa với bố (khoa nhâm thìn 1592).Khoa thi chỉ lấy có ba người,Trịnh cảnh Thuỵ,Ngô trí Hoà đỗ Nhị giáp,Ngô trí Tri đỗ Tam giáp.Cha đỗ Tiến sỹ con đỗ Hoàng giáp,cha 53 tuổi con 28 tuổi,cùng đi thi một khoa,cùng trúng đại khoa,là một chuyện xưa nay chưa từng có. Khi quan Hồng lô treo bảng,trong ngoài ồn ào,lúc đó có câu ca dao: “Thiên hạ có mấy người ta ,Đã Ngô trí Hoà lại Ngô trí Tri”. Trên cờ vinh quy nhà vua ban 10 chữ: “Khoa danh thiên hạ hữu,Phụ tử thế gian vô.”

Ngô trí Hoà ra làm quan từ chức Hiến sát sứ Sơn tây,vào làm Tham chính đạo Thanh hoa,năm 1606 làm Chánh sứ đi sứ sang nhà Minh.Có công hộ giá trong vụ Trịnh Thung gây biến năm 1623 thăng Phú xuân Hầu, Hiệp mưu tá lý dực vận tán trị Công thần Xuân Quận công.Năm Bảo Thái lục phong công thần được xếp vào hàng “Luỹ đại công thần dữ quốc đồng hưu” trong số 111 công thần khai quốc,công thần trung hưng của triều Lê trong suốt cả 300 năm.Đền thờ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.

Ông có ba bà sinh năm con trai gái,con cháu về sau có thêm ba đại khoa đều vào thời Lê trung hưng.Lăng mộ và đền thờ ở xã Diễn kỷ huyện Diễn châu tỉnh Nghệ an,sắc phong Thượng đẳng Tôn thần,nay đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.

Lưỡng quốc Công thần

Lý hải Hầu Ngô sỹ Vinh

Ngô sỹ Vinh là con trai thứ Ngô trí Hoà,sinh năm tân mão 1591,thi đỗ Cống sinh làm Đô cấp sự trung,tước Lý hải Bá.Năm 1646,55 tuổi thi đỗ Tiến sỹ khoa bính tuất,thăng Lý hải Hầu.

Gặp lúc bên Trung quốc quân Mãn Thanh xâm lược trung nguyên,nhà Minh thất thế,nhân thời cơ đó,Chúa Trịnh Tráng mưu đồ dành dật lại ít đất đai phía bắc nước ta.

Năm 1646,Vua sai Trịnh Lãm làm Thống lĩnh,Ngô sỹ Vinh làm Đốc đồng đem 300 chiến thuyền vượt biển sang Quảng đông ,lại gặp lúc vua Thanh đang bị quân Minh vây khốn,hai tướng giúp giải vây cho vua Thanh. Sau ngày Thanh Thành Tổ lên ngôi Hoàng đế Trung quốc,sai Đốc học Hứa Khải Mông mang ba bức trướng gấm và thơ riêng sang tặng Ngô sỹ Vinh và phong làm “Lưỡng quốc Công thần”.

Nguyên văn bài thơ của Thanh Thành Tổ tặng Ngô sỹ Vinh:

Kỷ thiên lý ngoại tiếp quân thư

Kham diễn Tô công trượng tiết dư

Cô ảnh thượng linh đao vị đoạn

Ngưng nghiêm do hỷ phát như sơ

Mông hưu cường hặng do kinh lộ

Mộc ảnh cô can độc khoái dư

Hải ngoại sâm thương kim tận tảo

Ngô quân hạnh đắc nguyệt đông du.

Dịch nghĩa (Ngô sỹ Phan):

Ngoài mấy dặm ngàn tiếp thơ ông

Mạnh hơn gậy quý của Tô công

Giáo thiêng bị chặn thân còn sống

Mái tóc y nguyên vui chiến công

Quân địch hùng cương đà run sợ

Công ông sáng tựa áng mây hồng

Chông gai ngoài biển đà quét sạch

Hai ta may được dạo trăng trong.

Ngày Vinh Quận công Trịnh Toàn làm Thống lĩnh cầm quân đánh nhau với quân chúa Nguyễn ở phía nam sông Lam,Ngô sỹ Vinh làm Đốc đồng.Trịnh Tráng chết ,Trịnh Tạc lên ngôi Chúa, nghi ngờ Trịnh Toàn gọi về Thăng long tống ngục,chết trong ngục.Mấy người bạn Trịnh Toàn bị vạ lây,Ngô sỹ Vinh nhờ có nhiều công lao nên không việc gì.Sau ngày ông mất triều đình Lê Trịnh giao việc phụng thờ hương khói cho hai huyện Diễn châu và Yên thành thuộc trấn Nghệ an.Năm Thịnh Đức thứ tư, đinh dậu 1657, gia phong Công bộ Hữu Thị lang Lý hải Hầu. Ngày nay đền và mộ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.

Ngô quang Tổ -Thuỷ tổ họ Ngô Hưng cái, huyện Hưng nguyên

Con trai Ngô Định, cháu Ngô Nguyên và bà Chu thị Bột ở Vọng nguyệt,sinh năm 1473, đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa mậu thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ tư 1508 (cùng khoa với Hòang giáp Ngô nhân Hải ), làm Hiến sát sứ đạo Quảng nam.

Vào thời kỳ triều đình vua Lê mục nát,quan lại tham nhũng hà hiếp dân lành,những người có lòng yêu nước thương dân,thấy nhân dân đang bị đắm vào chổ bùn lầy nước đọng,tập hơp lực lượng đứng lên chống lại quan lại địa phương.Ở trấn Quảng nam có cuộc nổi dậy đánh chiếm trấn lỵ ,bắt cả Tổng binh trấn thủ,Thừa chính sứ, Hiến sát sứ.Đô tổng binh sứ, Thừa chính sứ bị giết,Hiến sát sứ Ngô quang Tổ thời thường không tham nhũng,liêm chính biết thương dân nên được buông tha,sau vẫn giữ chức Hiến sát sứ.Gặp lúc Mạc đăng Dung cướp ngôi vua Lê,ông chán nản,bỏ quan,xuống thuyền về đất Hưng nguyên điền viên vui thú.Ông sinh ba con trai,Ngô quang Thông,Ngô trí Cẩn,Ngô quang Tôn.Ngô trí Cẩn về ở huyện Yên thành,con cháu ngày nay đông đúc ,có rất nhiều người đỗ đạt cao.

 Dòng Ngô phúc Cơ Tả Thanh oai – Ngô gia Văn phái

Ngô sử Nậu (Hậu)

Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế, đi lánh nạn đổi tên là Ngô phúc Cơ,một trong sáu người cư biệt quán,về ở xã Tả thanh oai trên bờ sông Nhuệ,con cháu chuyển sang văn nghiệp.Ngô phúc Cơ vào đời thứ 21, truyền đến đời thứ 28 là Ngô chi Thất (1635-1713) thuộc chi ất,đỗ đầu khoa Sỹ vọng rồi tiếp đỗ đầu khoa Hoành từ làm quan đến Hộ bộ Tả thị lang, tước Thê hiển Hầu,sinh ba con trai: Ngô đình Quế thi trúng tam trường,Ngô đình Thạc tức Oanh,và Ngô đình Chất(Đình Óanh) đều đỗ Tiến sỹ làm quan đến Thượng thư tước Quận công.

Ngô chi Thất và Ngô Trân đề xướng và dựng nên Văn phái,về sau được mệnh danh là “Ngô gia Văn phái” gồm 20 Tác gia thuộc 9 thế hệ,trên dưới 200 năm,từ đầu thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 20.

Ngô tuấn Dị (1655-…)

Tiến sỹ,

Tự Minh Tuệ (đời thứ 28 chi ất),con Ngô đức Tuấn,em Ngô tuấn Cung, là người mở đầu Đại khoa họ Ngô thì Tả thanh oai.34 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa mậu thìn niên hiệu Chính Hoà năm thứ 9(1688),làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu thảo,Thị lang.Nhân dân lập đền thờ ông ở xã Xuân dương huyện Xuân thuỷ tỉnh Nam hà.Dân gian vùng này có câu “Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam”(Tuấn Cung là anh Tuấn Dị ,đỗ Cử nhân làm Tri huyện). Là một trong 20 Tác gia thuộc Ngô gia Văn phái.

Ngô Trân (1671-1761)

Tự Đan Nhạc,con Ngô Vân,một trong Thất hổ của đất Thăng long đương thời, đỗ khoa Hoành Từ,Cẩn sự tá lang ,Tri huyện huyện Anh sơn, dạy học, đào tạo được nhiều khoa bảng.Sinh Ngô thì Ức.Cùng Ngô chi Thất đề xướng và dựng nên Ngô gia Văn phái.

Ngô đình Thạc (1678-1740)

Có tên là Ngô đình Oanh,hiệu Nhân Trai,con Ngô chi Thất,đỗ Tiến sỹ khoa canh thìn 1700 chức Tham tụng,Công bộ Thượng thư.Năm 1740 làm Tổng phủ phiên trấn Lạng sơn gặp lúc Toản Cơ,một thủ lĩnh miền thượng nổi lên bao vây Đoàn thành,ông bị bắt và bị giết ngay khi vừa mới đến nhậm sở. Tặng phong tước Huy Quận công,truy tặng hàm Thiếu bảo, là một trong 20 Tác gia.

Ngô đình Chất (Đình Óanh) (1686-…)

Em Ngô đình Thạc, hiệu Thận Trai,đỗ Tiến sỹ khoa tân sửu 1721 ,chức Công bộ Thượng thư ,Đô Ngự sử 1724 ,Chưởng đốc Sơn nam 1741,tước Xuyên Quận công,là một trong 20 Tác gia.Đời thứ 29,chi ất.

Ngô thì Ức (1709-1736 )

Tự Thuần Mỹ,đỗ Hương tiến, thi hội ba lần đều hỏng.Được xếp đầu trong Ngô gia Tùng thư là hai tập sách của ông :Tiêu dao,Nghị vịnh.Thi mãi không đỗ,có người hỏi vì sao,Ông trả lời:”Trường thi đâu phải của riêng nhà mình”. Là một trong số 20 Tác gia.

Ngô thì Sỹ (1726-1780 )

Con Ngô thì Ức, hiệu Ngọ Phong, biệt hiệu Nhị thanh Cư sỹ,tự Thế Lộc,là một Tác gia lớn trong Ngô gia Văn phái,lại là một Sử gia (Quốc sử tục biên,Việt sử tiêu án).Ông học giỏi, thi nhiều khoa chưa đỗ,xin làm một chức nhỏ trong bộ Binh.Khi kinh tế gia đình quẫn bách, Ông làm bài phú “Trách bần quỷ”.

Năm 1743 đỗ Hương tiến,năm 1745 đỗ đầu khoa Sỹ vọng ,được ra làm quan,sau được chọn làm Thị giảng cho Thế tử Trịnh Sâm,năm 1763 được vào hàng Tiến triều (không đỗ đại khoa mà được làm quan chức như đỗ đại khoa).Năm 1764 được bổ làm Giám sát Ngự sử Sơn tây,thăng Đốc đồng Thái nguyên1767 Bắc ninh , năm 1766 đỗ Hoàng giáp thăng Đông các hiệu thư, chuyển đi Hiến sát sứ Thanh hoá,rồi thăng Tham chính Nghệ an (tòng Tứ phẩm)1775. Trong một khoa thi hương ở trường Nghệ an, trong ban Giám khảo ông bị kiện ,nên bị bãi chức về nhà.Năm 1773 được trở lại làm quan chức Hiệu lý trong viện Hàn lâm,ít lâu sau thăng Thiêm đô ngự sử( Ngũ phẩm)Bí thư các Chính tự1775.Năm 1777 làm Đốc trấn Lạng sơn,xây dựng Đoàn thành,tu sửa động Nhị thanh.Năm 1780 đi đánh dẹp Hoàng Đồng ở Tuyên quang (phối hợp với quân Nguyễn Lễ Đốc trấn Sơn tây).Cùng năm có việc đi Mục Nam quan,khi về ghé nghỉ ở động Nhị thanh, về đến nhà thì cảm bệnh không tiếp khách được.Vài ba hôm sau khỏi bệnh,tiếp khách cười nói như thường,tối ngày đó thì mất (tháng 9 năm 1780) (theo phả họ Ngô Thì Tả thanh oai).Dư luận đương thời cho rằng ông uống thuốc độc tự tử vì con ông là Ngô thì Nhiệm có liên quan đến vụ án Trịnh Tông(tức Trịnh Khải).

Bài thơ “Vịnh Tiên sơn tự”trên núi Lộc mã,nơi dời xây dựng Đoàn thành :

Nguyên văn:

Trấn tiết thao lâm vạn lý biên

Doanh quân Lộc mã đắc nham tiên

Kim thang thành tạm bàn cao thủ

Cẩm tú giang sơn tuyến thắng truyền

Yên ái ánh giao không vọng mẫu

Hạc cầm thanh cận lũ tầm tiên

Hồi lai bát cảnh thu tứ động

Tá thạch lưu đề diệc ngẩu nhiên.

Dịch nghĩa:

Mao tíết trên trao trấn ải biên

Doanh quân Lộc mã đỉnh non tiên

Vững chải thành trì trên cao điểm

Vóc gấm giang sơn thắng cảnh truyền

Mờ xa mây khói soi hình mẹ (Mẫu sơn)

Thoáng gần tùng hạc rõ bóng tiên

Tám cảnh thu vào trong một động

Mượn đá đề thơ cũng ngẩu nhiên.

Ngô tưởng Đạo ( 1732-1802)

Ông là con Ngô thì Ức,em Ngô thì Sỹ,chú Ngô thì Nhiệm.

Thừa tự bên ngoại họ Tưởng nên lấy chữ Tưởng làm chữ lót.Là một trong số 20 Tác gia,ông viết Ngôn hoài,Văn túc công thi văn.Năm quý dậu 1775 đỗ đầu khoa Hoành từ,đi làm Tri huyện huyện Thuỵ anh,vừa làm quan vừa dạy học,4 năm sau thuyên chuyển đi làm Tri huyện Anh sơn.Sau đó được cử cùng Thuần trung Hầu đi dẹp giặc biển ở Sơn nam hạ.Là bạn thân,Thuần trung Hầu khuyên ông nên bớt cứng rắn không có lợi gì cho bản thân,ông không nghe,dẹp xong giặc biển, ông xin nghỉ về nhà dạy học.

Lê Chiêu Thống lên ngôi, thấy ông là người có uy tín,mời ra trao chức Hiến sát sứ trấn Kinh bắc.Nguyễn hữu Chỉnh nắm quyền,muốn thu phục thân sỹ Bắc hà để thêm vây cánh,xin nhà vua mở Ân khoa vào năm đầu Chiêu Thống, khi chọn khảo quan lấy Ngô tưởng Đạo vào khoa Hiên lương phương chính (một trong 10 khoa của Ân khoa).

Ông dâng biểu từ chối,nói: “…Hiện nay sau khi sụp đổ, những việc đáng làm,đáng than trong nước nhiều không kể xiết,không chỉ một đau,hai khóc,ba thở dài,mà thôi.Nếu không có tài hơn đời thì làm sao xoay chuyển được tình thế,những bậc kỳ tài kỳ ngộ đâu phải chỉ do khoa cử mà ra, như vua Thang mời Y Doãn ở đất Sằn, vua Văn Vương thăm Lã Vọng ở đất Vỵ,ngõ hầu mới mời được họ đến. Còn như thần đây lạm giữ một chức nhỏ còn sợ chưa làm nổi,dám đâu làm nhơ đến việc long trọng này để thương tổn đến sự sáng suốt trong việc cất nhắc nhân tài của Thánh triều …”.

Đọc bài biểu, Phàn lê Phiên bảo Trần công Xán rằng,ông ta bảo là phải có ngưòi có tài lạ,là muốn nói nước đang có giặc mạnh dòm ngó ở bên ngoài,chắng bao lâu sẽ có nạn binh đao,mình bỏ việc ấy không lo,mà lại lo mở Ân khoa kén chọn học trò,vờ ra vẻ thái bình,sợ khi quân nam trở lại lấy gì chống đỡ,đó mới là cái lo trước mắt.Vì vậy khoa thi ấy chỉ lấy đỗ hai người Trần bá Lâm và Nguyễn gia Cát.

Nguyễn Hụệ ra bắc lần thứ hai,Trần văn Kỷ biết Ngô tưởng Đạo là người có uy tín, nài ép ra làm quan với Tây Sơn.Chối mãi không được,Ông bèn làm bài thơ ngàn chữ nói lên 8 điều không thể ra với Tây Sơn.Xem thơ Trần văn Kỷ thông cảm để cho ông yên thân ở quê dạy học.

Ngày 11 tháng 11, quân Thanh vào Thăng Long,Lê Chiêu Thống mời các quan văn võ cũ ra giúp, Ngô tưởng Đạo lấy cớ già yếu không ra,dâng sớ rằng:”…Trộm nghĩ việc binh cốt ở thần tốc,nếu có cơ hội có thể làm được,hà tất việc gì cũng phải giao phó cho quân nước ngoài, để đến nỗi dềnh dàng ngày tháng.Hiện nay quân cần vương các lộ ai không muốn hết lòng hết sức lập công ít nhiều,nhân khi giặc vừa rút chạy,ta nên đem quân đuổi sát gót như tiếng sét chớp nhoáng không kịp bịt tai,bọn ngông cuồng xảo quyệt ắt không đủ thì giờ để mưu tính,hai xứ Thanh Nghệ nghe tin ắt cũng hưởng ứng,Nguyễn Huệ bị ngăn cách ở nam Hoành sơn,Sở và Lân chơ vơ ở đây,hình thế cách trở không liên lạc được với nhau,không ngoài 10 ngày ta có thể bắt được bọn chúng,vây cánh của chúng đã bị cắt đứt,thì sào huyêt của chúng cũng sẽ bị san bằng.Thần ngu dại cho rằng cái cơ trung hưng là ở lúc này,không nên bỏ qua …”.

Các quan ai cũng cho là phải, riêng Lê Quýnh chống lại ,nói phải xin lệnh Tôn sĩ Nghị.Chiêu Thống sai đi.Tôn sĩ Nghị bảo : “Việc gì phải vội,đánh bắt chúng như thò tay vào túi lấy đồ vật,đại quân cần phải nghỉ ngơi,chỉ cần chia ba nơi đồn quân trong khoảng 60 dặm,đợi chúng đưa thịt đến nạp,sang năm sẽ trẩy quân đánh cũng chưa muộn…”.

Những năm tháng cuối đời Ngô tưởng Đạo ở nhà dạy học.Nhà rất nghèo,đời sống chật vật,bạn bè làm quan với Tây Sơn thường biếu quà cáp,nhất thiết ông không hề nhận của một ai,cam chịu cảnh nghèo “Bất thực cốc Chu gia” .

Ngô thì Nhiệm Phương Quận công (1746-1803)

Hiệu Đạt Hiên,con trưởng Ngô thì Sỹ.Từ nhỏ tư chất thông minh chuyên cần học tập,11 tuổi đọc được kinh sử truyện,năm mậu tý 1768 đỗ Hương tiến,năm sau đỗ khoa Sỹ vọng,được bổ làm Hiến sát sứ Hải dương.Năm 1771 Ngô thì Sỹ bị cách chức,ông xin về nghỉ.Năm ất mùi 1775 thi đỗ Tiến sỹ ra làm Hộ khoa Đô cấp sự trung,rồi đi Đốc đồng Kinh bắc và Thái nguyên (hàm Lục phẩm),năm 1780 về làm Đông các hiệu thư. Năm 1780 sau vụ án Trịnh Tông được thăng ba cấp lên chức Thị lang Tam phẩm,vào phụng thị trong phủ chúa Trịnh.Năm nhâm dần 1782 Trịnh Sâm chết, Kiêu binh phế bỏ Điện đô Vương Trịnh Cán lập Đoan nam Vương Trịnh Tông.Vì có dính líu vào vụ năm canh tý (tức vụ án Trịnh Tông 1780) ông phải chạy lánh về xã Bách tính quê vợ mấy năm liền,cho đến ngày Đoan nam Vương thất bại mất,Nguyễn Huệ đã đưa Lê Chiêu Thống lên ngôi vua,thông qua em là Ngô thì Chí cận thần của Chiêu Thống,Chiêu Thống giao cho chức Hộ khoa Đô cấp sự trung, sau thăng Hiệu thư tu quốc sử. Vũ văn Nhậm ra diệt Nguyễn hữu Chỉnh, Lê Chiêu Thống chạy,Ngô thì Nhiệm lánh về Kim quan Thạch thất.

Nguyễn Huệ ra bắc lần thứ hai giết chết Vũ văn Nhậm,giao Ngô văn Sở lên làm Tổng trấn Bắc thành,triệu tập cựu thần nhà Lê ra trình diện.Vũ văn Ứớc đón mọi người ở bộ Lễ, Ngô thì Nhiệm đến trước chưa có ai,Ứớc tưởng Ngô thì Nhiệm là một Hoàng thân nhà Lê,mời ngồi cùng chiếu.Chốc lát các cựu thần khác như Phan lê Phiên đến,đều quỳ gối lạy chào dưới thềm.Chột dạ,Ngô thì Nhiệm lảng ra ngoài,Ứớc lấy làm lạ hỏi người vừa ngồi đó là ai,có người nói là Ngô thì Nhiệm,Ứớc tức giận cho là vô lễ,sai quân đuổi theo bắt lại. Biết rằng việc đó tất sẽ xẩy ra,Ngô thì Nhiệm đã rảo bước đi xa.Tối đó đến gặp Trần văn Kỷ trình bày rõ sự tình nhờ Kỷ giải cứu. Trần văn Kỷ dẫn vào yết kiến Nguyễn Huệ,Nguyễn Huệ bảo : “Ngươi hãy cố gắng mà lo việc báo đáp,thế là được”. Lại bảo Trần văn Kỷ :Đây là người ta gây dựng lại.Nguyễn Huệ cho thảo ngay tờ Chế phong Tả thị lang Bộ lại, tước Trình phái Hầu, cùng Võ văn Ứớc coi tất cả các quan nhà Lê. Ngô thì Nhiệm được trọng dụng ở lại Bắc thành giúp Ngô văn Sở.Phan huy Ích thì theo Nguyễn Huệ vào Phú xuân.

Lê Chiêu Thống cầu viện,quân Thanh tràn sang, Ngô thì Nhiệm sáng suốt đề xuất chủ trương rút lui chiến lược về Tam điệp,được Ngô văn Sở chấp nhận, tạo điều kiện cho sau đó Quang Trung chiến thắng quân Thanh nhanh chóng trọn vẹn ít hao binh tổn tướng .Ông lại giúp Quang Trung trong việc giấy tờ bang giao với nhà Thanh,năm 1790 được thăng Binh bộ Thượng thư Phương Quận công. Trong những ngày tháng suy sụp của nhà Tây Sơn, ông về ở phường Bích câu nghiên cứu Thiền học.

Năm 1802 vua Gia Long nhà Nguyễn đánh chiếm Thăng long,Ngô thì Nhiệm,Phan huy Ích,Nguyễn danh Phan cùng ra trình diện. Gia Long bảo Ngô thì Nhiệm và Phan huy Ích quen việc ngoại giao với nhà Thanh,để ở ngoài phòng khi có việc cần hỏi đến. Sau đó hạ lệnh đưa cả hai người vào Phú xuân. Gặp ngày sứ Thanh sang phong vương, Gia Long muốn đặt hành trại tại biên giới Lạng sơn làm lễ thụ phong,sai hỏi Ngô thì Nhiệm và Phan huy Ích ,cả hai người đều trả lời rằng việc như thế xưa nay chưa từng thấy,Gia Long bỏ ý định ấy.

Đặng trần Thường ở Bắc thành viết biểu gửi về triều đình Phú xuân nói :”Bọn Nhiệm là tôi vua Lê mà còn dám theo giặc,lấy lời nói dối mà lừa vua Thanh,hãm đồng loại vaò chỗ bất nghĩa, thật là có tội nhất trong danh giáo,xét tội ác chẻ hết tre cũng không biên chép hết, nếu kẻ này mà không giết thì răn bảo người sau sao được…”.Gia Long hạ lệnh cho đưa ra Bắc thành nghị tội. Quan lại ở Bắc thành bàn: Tội của người này đáng chết,nhưng đã có chiếu chỉ nói rõ quan Tây Sơn ra thú thì được miễn tội,vậy tha cho tội chết, chỉ đánh để làm nhục”. Gia Long chuẩn y án,hạ lệnh kể tội ở Văn miếu (lúc bấy giờ là học đường của phủ Phụng thiên) và đánh đau 100 trượng.Cả ba người đều bị đánh,Ngô thì Nhiêm chịu không nổi 100 trượng nên chết,còn hai người kia không việc gì. Kẻ thì nói Gia Long trả thù tàn ác,người thì nói Đặng trần Thường trả thù riêng.

Cuộc đời Ngô thì Nhiệm có nhiều bước thăng trầm, là người có tài,học rộng,sự nghiệp văn chương lớn, để lại cho đời sau trên 20 tác phẩm.

Ngô thì Chí (1753-1788)

Tự Học Tôn,hiệu Uyên Mật,em trai Ngô thì Nhiệm,thi đỗ Á nguyên làm Bình chương Thiêm thư Thiểm sự. Lê Chiêu Thống chạy, ông chạy theo Vua lưu vong,đến Chí linh ông trình lên vua “Trung hưng sách” chủ trương vận động Tù trưởng miền thượng du,dựa vào lực lượng đó,sau lưng dựa vào Trung quốc, lo liệu kế lâu dài. Lê Chiêu Thống chấp nhận, phái ông đi vận động tổ chức lực lượng các miền thượng du.Ngô thì Chí đi đến huyện Phượng nhãn thì nhiễm bệnh nặng phải trở lại,về đến huyện Gia bình thì từ trần.Được tin, Chiêu Thống rất thương tiếc,tự tay viết Sắc phong Dụ trạch Bá,sai quan đến phúng điếu.

Ngô thì Chí viết 7 hồi đầu tập Hoàng Lê nhất thống chí,Học phi thi văn tập,Thi tập.

Tiếp theo còn có các ông (cộng 9 thế hệ,250 năm,20 Tác gia):

Ngô thì Trí (1766-1822) Hữu thị lang, con Ngô thì Sỹ.

Ngô thì Hoàng (1768-1814) Tú tài 1807,con Ngô thì Sỹ.

Ngô thì Hường (1774-1821)Tham tri bộ,Phong khê Hầu, đi sứ Thanh,Hiệp trấn Tuyên

quang,Hiệp trấn Lạng sơn , con Ngô thì Sỹ.

Năm 1820 trên đường đi sứ qua Vũ xương được mời đề thơ lưu niệm Hoàng Hạc lâu,sau đó ông mất trên kiệu trên đường đi,dư luận cho là

bị đầu độc.Vua Thanh cho đưa thi hài về nước.

Ngô thì Du con Ngô tưởng Đạo,tự Trung Phủ,viết 7 hồi trong Hoàng Lê nhất thống chí.

Ngô thì Diễn Giám sinh, con Ngô thì Nhiệm.

Ngô thì Hiệu (1792-1830) dạy học,con Ngô thì Nhiệm.

Ngô thì Giai (1818-1881) dạy học và viết sách,con Ngô thì Hiệu.

Ngô thì Thập tham gia viết Hoàng Lê nhất thống chí .

Ngô thì Lữ Hiệp trấn Hải dương ,con Ngô thì Chí.

Ngô giáp Đậu (1853-1929) con Ngô thì Giai, Cử nhân, Đốc học Nam định,viết Việt nam quốc tuý, sách về Đạo Khổng.

Họ Ngô thời thuộc Pháp

Ngô quang Bích với Văn Thân Bắc Kỳ (1832-1890)

Ngô quang Bích là dòng dõi Bình giang Hầu Ngô đình Tú (tặng phong Ninh Quận công), cháu nội Nam Quận công Ngô khắc Cung, ở xã Đồng phang Thanh hoá,tiên tổ Ngô Lệnh tự Anh Nghị thiên cư ra làng Trình phố huyện Kiến xương tỉnh Thái bình.Cụ tằng tổ thừa tự bên ngoại lấy họ Nguyễn (họ bên ngoại), đến đời ông vẫn giữ họ Nguyễn,sau vài đời con cháu đã lấy lại họ Ngô ,nay là họ Ngô làng Trình phố. Tên tự là Hàm Huy,hiệu Ngư Phong,sinh ngày 8 tháng 4 năm nhâm thìn 1832,mất ngày 15 tháng chạp năm canh dần 1890.

Ngô quang Bích đỗ Cử nhân khoa tân dậu 1861, làm Giáo thụ phủ Trường khánh tỉnh Ninh bình, đỗ Đình nguyên Nhị giáp khoa kỷ tỵ 1869 , ra làm Tri phủ Lâm thao,Tri phủ Diên khánh,Án sát Bình định,Án sát Sơn tây. Năm 1875 làm Chánh sứ Sơn phòng kiêm Tuần phủ Hưng hoá,năm 1884 thành Hưng hoá thất thủ,ông ra cầm đầu Văn thân Bắc kỳ chống Pháp cho đến ngày mất 1890.

Trong khoảng thời gian 15 năm Ngô quang Bích làm quan(1869-1884),tình hình trong nước hết sức rối ren, nhất là Bắc kỳ. Ngoài biển giặc Tàu Ô hoành hành,có khi vào cướp phá trong đất liền, vùng thượng du phía bắc giặc khách cướp phá kéo dài,vùng đồng bằng các cuộc nổi dậy chống triều đình liên tiếp nổ ra.

Năm mậu thìn 1868 ,Ngô Côn dư đảng của Thái bình thiên quốc bên Trung quốc tràn sang chiếm thành Cao bằng (Án sát Lê Ngô Cát bị chúng bắt trong vụ này).Năm canh ngọ 1870 vây thành Bắc ninh, Ngô Côn tử trận,đồ đảng chia làm ba toán,Hoàng sùng Anh cầm đầu toán cờ Vàng,Lưu vĩnh Phúc toán cờ Đen,Bàn Nhị toán cờ Trắng.

Năm 1879 Lý dương Tài lại đem thêm vài vạn tàn quân từ Khâm châu sang, liên lạc với nhau chia nhau chiếm cứ mỗi toán một vùng, xưng hùng xưng vương khắp từ Lạng sơn, Bắc ninh, Hưng hoá, Sơn la, thả quân cướp bóc vơ vét hết thuế khoá vùng thượng du,triều đình Huế đã phái nhiều tướng giỏi ra đánh dẹp, nhưng không kết quả,phải viện quân Trung quốc (nhà Thanh) sang giúp sức. Vua Thanh cho quân sang,bề ngoài là giúp, thâm tâm là chờ cơ hội lấn chiếm vùng bắc sông Hồng,phổng tay trên quân Pháp.Khi quân Pháp đánh chiếm Bắc kỳ, nhà Thanh chia quân Vân Quý đóng ở Hưng hoá, Tuyên quang, quân Lưỡng Quảng đóng ở Lạng sơn ,Bắc ninh, Sơn tây.

Lúc bấy giờ quân Pháp cũng đã chiếm xong lục tỉnh Gia định,đang lấn ra Bắc kỳ. Trên đất Bắc kỳ,quân giặc Khách,quân nhà Thanh Trung quốc,quân Pháp, xen kẽ với quân các quan Khâm sai,quân địa phương,đánh nhau khắp nơi,đâu đâu cũng thành chiến trường. Ngô quang Bích giữ chức Tuần phủ Hưng hoá có nhiệm vụ tiễu trừ quân giặc Khách trong cả vùng,lại phải đối phó với quân Pháp đang lăm le đánh chiếm Bắc kỳ. Ông dụ được Lưu vĩnh Phúc về quy phục triều đình, cho giữ Lào cai.

Năm 1873 Ông lại kéo được Lưu vĩnh Phúc về giúp Tôn thất Thuyết đánh trận Cầu giấy giết được Frâncí Gảniẻ,sau lại phối hợp với Tôn thất Thuyết đánh thành Bắc ninh bắt được Lý dương Tài. Năm 1875 Tôn thất Thuyết giết được Hoàng sùng Anh. Cuối năm ấy Hẻní Rivỉere kéo quân từ Gia định ra đóng ở Đồn thuỷ , ba năm sau đánh chiếm Hà nội lần thứ 2.

Qua diễn biến rối ren ,Ngô quang Bích nhìn được âm mưu xấu xa của nhà Thanh, dâng sớ về triều.Vua Tự Đức không những không nghe mà còn giáng chỉ quở trách,dụ chỉ có câu :” Không nên lấy lòng dạ tiểu nhân mà đo bụng người quân tử, lý nào người Trung quốc lại có hành động bất nghĩa như thế”.

Thành Hà nội thất thủ, triều đình Huế sai Phạm thiện Thuật sang cầu viện nhà Thanh. Tháng 8 năm quý mùi (1883) quân Pháp hạ thành Sơn tây,quân Trung quốc rút lên mạn ngược, quân cờ Đen cũng phải rút theo. Tháng 2 năm giáp thân 1884 quân Pháp hạ thành Bắc ninh,quân Trung quốc rút lên Thái nguyên, mấy ngày sau Thái nguyên cũng thất thủ vào tay quân Pháp,chỉ còn lại Hưng hoá,một vị trí quan trọng,quân Pháp huy động 7000 quân quyết hạ bằng được.

Bảo vệ thành Hưng hoá có quân Trung quốc,quân Hoàng kế Viêm, quân cờ Đen và quân địa phương của Ngô quang Bích.

Quân Pháp chuẩn bị tấn công thì quân Trung quốc rút lên Yên bái,quân Hoàng kế Viêm rút lên mạn ngược rồi theo thượng đạo rút về Huế. Chỉ còn quân Cờ đen và quân địa phương chống đỡ. Liều chết với thành trì,Ngô quang Bích đốc quân mình cùng quân Cờ đen chống trả quyết liệt,khi đã kiệt sức,ông leo lên Khán thiên đài định tử tiết theo gương Hoàng Diệu, được Thân tướng vực ông lên ngựa ,mở đường máu chạy lên Tam nông. Tự Đức xuống chỉ triệu Ông về kinh, cử quan khác đến thay chức Tuần phủ Hưng hoá dưới quyền quân Pháp.Ngô quang Bích không tuân chỉ.Ông không về triều mà cùng tàn quân lui về Cẩm khê củng cố lực lượng đánh lại quân Pháp.

Lúc bấy giờ có Nguyễn văn Giáp nguyên Bố chính Sơn tây,ngày thành thất thủ,đem tàn quân về Lâm thao chờ thời cơ,nay đem quân đến hợp lực,đánh thắng vài trận nhỏ,nên trong quân có phần phấn chấn .

Tháng 6 năm 1885, Pháp và nhà Thanh Trung quốc ký Hiệp ước Thiên Tân (một bên Patenổtre,một bên Lý Hồng Chương),có điều ước quân Trung quốc phải rút khỏi đất Việt nam nhất là quân Cờ đen của Lưu vĩnh Phúc. Nguyên sau khi thất thủ Hưng hoá, quân Cờ đen rút lên Cao bằng, tổ chức bao vây quân Pháp ở Tuyên quang.Để có súng đạn,Lưu vĩnh Phúc phải nhận chức Đề đốc của nhà Thanh dưới quyền Sầm dục Anh Tổng đốc Vân Quý. Có thêm súng đạn, quân Cờ đen vây chặt Tuyên quang,triệt các đường tiếp tế từ dưới lên của quân Pháp .Pháp can thiệp với nhà Thanh,nhà Thanh buộc Lưu vĩnh Phúc phải rút hết quân về bên kia biên giới,cắt tiếp tế đạn dược.Lưu vĩnh Phúc phải nới lỏng vòng vây ,Tuyên quang được giải vây. Nhà Thanh lại phong cho Lưu vĩnh Phúc “Ba đời Nhất phẩm”,trao cho 200 bài ngà hàng Bát,Cửu phẩm,tuỳ ý phân phối cho thủ hạ Cờ đen.Lưu vĩnh Phúc rút hết quân về Trung quốc.

Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương,phong Ngô quang Bích chức Lễ bộ Thượng thư sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ,lại uỷ thác cầm thơ sang Trung quốc cầu phong (cũng chỉ qua Sầm dục Anh) và cầu viện, Vua tôi không hề biết gì về Hiệp ước Thiên tân,cứ tin vào sự giúp đỡ của nhà Thanh.

Ngô quang Bích đi vắng, một mình Trần văn Giáp ở nhà chỉ huy đánh Pháp, thắng vài trận nhỏ trong năm 1886.Ngô quang Bích đi cầu viện về chỉ nhận được 600 khẩu súng,60 hòm đạn và ít thuốc phiện bán đi chi dùng trong quân ,cầm cự mong chờ viện binh. Tôn thất Thuyết vẫn nằm chờ bên Vân Quý. Ngô quang Bích đặt đại bản doanh ở Nghĩa lộ.

Tháng 11, quân Pháp tấn công Nghĩa lộ,bị đánh bật ra. Sau trận đánh Nguyễn văn Giáp nhiễm bệnh nặng rồi mất.Sợ Pháp đã biết rõ đường sá lại đánh vào,Ông bèn dời đại bản doanh đến Phù yên thuộc huyện Phù ninh,trong thời gian đóng ở đây đánh thắng vài trận nhỏ,sau đó lại quay về Nghĩa lộ. Tháng 8 năm mậu tý 1888 quân Pháp lại đánh vào Nghiã lộ, bị phục kích phải rút quân.

Tôn thất Thuyết vẫn nằm ở Vân Quý để cầu viện, chỉ tranh thủ được mấy quan địa phương cho chuyên chỡ vũ khí dễ dàng qua biên giới ,nhưng không được bao nhiêu,không thấm vào đâu với nhu cầu chiến đấu.

Tình hình Tây bắc càng xấu, tháng 3 năm 1886,Pháp chiếm Yên bái, tháng 6 chiếm Lào cai, đầu năm 1887 chiếm Phong thổ, 1888 kéo quân đến Lai châu đánh tan lực lượng kháng Pháp của Đèo văn Trí, tiến đến Điện biên rồi lại quay về Sơn la ,cả vùng Tây bắc đã lọt vào tay quân Pháp.Địa bàn hoạt động của nghĩa quân bị thu hẹp,chỉ còn lại hạ lưu sông Thao, phía hữu ngạn,Nghĩa lộ bị uy hiếp. Tháng 3 năm 1889 Ngô quang Bích rút quân khỏi Nghĩa lộ, về Yên lạp thuộc Phú thọ.Vì thiếu lương thực,tháng 8 phải về đóng ở Sơn dương (cũng thuộc Phú thọ) .Liền sau đó quân Pháp mở cuộc tấn công vào Nghĩa lộ, nhưng chỉ là đánh vào chỗ trống,bị nghĩa quân quay lại bao vây, Pháp phải điều quân từ nhiều nơi đến giải vây.

Tháng 10 năm 1889, Ngô quang Bích tập trung lực lượng đánh một trận lớn vào đồn quân Pháp,thu được khá nhiều vũ khí trang bị cho nghĩa quân. Sau trận đánh phải dời vào khe núi Tôn sơn xã Mộ xuân,ở đây ông bị nhiễm bệnh nặng.Biết là không qua khỏi Ông dặn người nhà lúc đó đang ở thăm Ông:”Ta đã đem thân hứa quốc,không cần đi lại thăm hỏi vô ích,nếu sau này có nhớ đến ta, thì lấy ngày thành Hưng hoá thất thủ làm ngày giổ ta!”,đến giữa tháng chạp âm lịch thì ông từ trần(ngày 15 tháng chạp năm canh dần 1890).

Sau một năm rưỡi Toà Thông sứ Bắc kỳ mới được Toà Kinh lược Bắc kỳ thông báo, Pháp không tin,nghĩ là có mưu mô gì, nên bắt cả gia đình ông giam giữ,tịch biên tài sản, lại bắt hào lý trong xã giam lại,buộc phải đưa Ngô quang Bích ra nộp.

Sau ngày mãn tang, con cháu đi lấy hài cốt về không dám đem về quê nhà ngay,mà tạm táng làng bên,vài năm sau lại một lần nữa cải táng về quê nhà.

Văn thân đương thời có câu đối viếng :

Lệ dục thành băng, hồi thủ Quế sơn đầu,dao vọng bạch vân phù chính khí,

Hận do vị tuyệt,thống tâm Trà hải khẩu,đồ văn hồng lãng khiếu anh phong.

Tạm dịch:

Nước mắt thành băng,ngoảnh lại đỉnh Quế sơn,thấp thoáng mây bay ùn chính khí,

Hận thù chưa dứt,đau lòng Trà hải khẩu,ầm ỳ sóng dậy réo anh phong.

Ngô xuân Quỳnh (1815-1887)

Ngô xuân Quỳnh người làng Yên lai huyện Nông cống tỉnh Thanh hoá,xưa thuộc huyện Quảng xương phủ Tĩnh gia (nguyên là huyện Ngọc sơn). Tên huý là Trúc,tên tự là Cảnh, kỵ huý đổi là Quỳnh,biệt hiệu Ngộ Phong,Cẩm vân Dương tử Anh tiên sinh.Ông có tướng ngũ lộ: Tóc thưa,lông mày lưỡi kiếm,trán hói,mũi diều hâu,tai dài.

Chi họ Ngô Yên lai vốn gốc họ Trảo nha huyện Thach hà trấn Nghệ an, thiên cư ra Thanh hoá, đến Ngô xuân Quỳnh đã 5,6 đời.

Năm Thiệu Trị thứ 5 Ông đỗ đầu kỳ thi ở tỉnh,năm 1846,1850 thi hai khoa đỗ Tú tài, năm Tự Đức thứ 4 (1851) 13 tỉnh tập trung thí sinh thi chung ở trường Hà nội,ông đỗ Cử nhân đứng hàng thứ 7,nộp quyển đi thi Chế khoa Nhã sĩ (ất sửu 1865) nhưng không đỗ.

Trong quá trình làm quan bị giáng chức nhiều lần,chỉ riêng việc gặp năm mất mùa dân không có gì để nộp đủ thuế,ông không thôi thúc,bị giáng hai cấp, đang hàm Hàn lâm Điển tịch phải đi Huấn đạo,đang Ngự sử đạo Đinh yên bị giáng hai cấp lưu,làm Án sát Tuyên quang bị giáng 1 cấp,được chỉ đi Tuần phủ Ninh bình,chưa kịp đi nhận chức,lại có chỉ đi làm Bố chính Quảng bình,coi như bị giáng trước sau 4 cấp.

Tháng 3 năm 1884 nhận chức Án sát Ninh bình, quyền Tuần phủ,vừa đến nhận chức,thành Ninh bình vừa bị quân Pháp chiếm,có viên quan sở tại nói xấu ông với viên Công sứ Pháp More,More nghi ngờ ông,từ chối không nhận chỉ dụ của nhà vua,ông cho như thế là Pháp miệt thị nhà vua và triều đình,kiên quyết chống lại không chịu lùi, More phải công nhận. Được nửa tháng, qua hành động của ông bất hợp tác với Công sứ Pháp, bọn Pháp trở mặt đem lính Tập (lính khố xanh -Garde indigène ) đến uy hiếp,hai ba lần biện luận,ông định không nhân nhượng, nhưng sợ làm cứng quá tổn thương đến bang giao của triều đình,bèn trở vào Thanh hoá cùng Tôn thất Bảo,một người bạn làm quan ở Thanh hoá viết sớ về triều như sau : “Thần phụng mệnh nhận chức ,gặp Công sứ Pháp của tỉnh Ninh bình từ khước không chấp nhận chỉ dụ,hai ba lần thương thuyết vẫn không nghe,lại dùng lính Tập đeo súng đạn đến uy hiếp bức bách thần ra khỏi thành.

Trộm nghĩ,thêm một thần cũng không đủ để xoay đổi tình thế nặng nhẹ,mà thể thống triều đình lại phụ thuộc vào tương quan, ý muốn một phen giao thiệp sàm sở, e tổn thương đến việc lớn của triều đình,mong cầu quý bộ tâu đạt,hoặc cho về bộ,hoặc đổi đi nơi khác,nếu lại đến tỉnh Ninh bình không những đi lại mệt nhọc, mà còn thêm ô nhục cho uy tín của triều đình…”. Năm ất dậu1885, vua Hàm Nghi lên ngôi, cho phục nguyên chức Thị độc học sỹ(hàm Chánh Tứ phẩm), về trí sỹ.

Tiếp chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, ông động viên khích lệ con cháu,học trò hưởng ứng tham gia phong trào cứu nước .Học trò ông là Nguyễn Phương làm Phó Đô thống quân cần vương Thanh hoá,trực tiếp Quân thứ Nông cống Tĩnh gia ,con trai ông Ngô xuân Khuê làm Tán tương quân vụ đóng quân tại đồn Ôn lâm,ông tích cực tham gia bàn bạc với Bộ chỉ huy Nghĩa quân, em ông là Ngô xuân Mai cũng tham gia tích cực .Phối hợp với quân Đô thống Nguyễn đôn Tiết ở Hoằng hoá,đánh chiếm nhiều phủ huyện, thanh thế vang dội.Hoạt động được một thời gian, vì thế yếu Nguyễn đôn Tiết ra hàng,quân Pháp dồn lực lượng tấn công vào căn cứ.Ông đang ốm, được một bà dân chài đưa xuống thuyền đến khúc sông Tuân bệnh chuyển trầm trọng ông từ trần.Phó Đô thống Nguyễn Phương bị bắt chết trong nhà tù Thanh hoá,cả làng bị khủng bố đốt cháy tan hoang.

Chú thích .- Nguyễn đôn Tiết thế yếu,để mọi ngưòi khỏi bị hại,thoả thuận với Pháp nếu không trả thù những ngươi tham gia phong trào thì chịu ra hàng .Sau khi ra hàng bọn Pháp tuy không tàn sát nhiều ,nhưng vẫn viện cớ này cớ nọ đưa Nguyễn đôn Tiết đày ra đảo xa

Việt nam Chí sỹ Ngô đức Kế (1879-1929 )

Ngô đức Kế người xã Trảo nha huyện Can lộc tỉnh Hà tĩnh,con trai Cử nhân Ngô huệ Liên,cháu Cử nhân Ngô Phùng,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo nha dòng Ngô Nước,vào đời thứ 34.

Những năm cuối thế kỷ thứ 19,phong trào Cần vương chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi khắp cả nước,đặc biệt là ở Hà tĩnh.Ông lớn lên trong bối cảnh đó.Thuở nhỏ thông minh học giỏi,19 tuổi đỗ Cử nhân, 23 tuổi đỗ Tiến sỹ ( khoa tân sửu 1901).Tuy đỗ sớm nhưng Ông không ra làm quan,mà tích cực làm cách mạng chống thực dân,dành tự do độc lập cho đất nước.

Với phong trào Duy tân cứu nước, các sỹ phu trung nam bắc mật giao với nhau,liên kết thống nhất chí hướng,Ngô đức Kế sớm có mặt với các nhà yêu nước trung nam bắc,mượn tiếng mở trường dạy học tạo điều kiện làm nơi cho các nhà yêu nước gặp gỡ nhau.Ông là người hăng hái vận động cải cách nông thôn, bài trừ mê tín dị đoan,chống chế độ đình trung xôi thịt.Ông tự tay viết kiến nghị lên triều đình đòi cải cách thi cử .Theo sự phân công thống nhất, ông tham gia phái Minh xã, hoạt động công khai lo việc “Duy tân”,mở mang dân trí chấn hưng thực nghiệp.

Năm 1906 Ngô đức Kế cùng Đặng nguyên Cẩn, Lê Huân lập Triều dương thương điếm ở Vinh vừa buôn bán vừa làm kinh tài cung ứng cho phong trào Đông du, vừa là nơi hội họp các nhà yêu nước bắc trung nam.Đầu năm 1908 phong trào xin sưu ( biểu tình đấu tranh chống sưu cao thuế nặng ở Trung kỳ),các cuộc biểu tình “Xin sưu” ở Hà tĩnh bị đàn áp ,Ngô đức Kế bị bắt giam và bị khép tội :” Âm tập khai trương tụ nghịch,tiềm thông dị quốc,chống lại hai chính phủ” bị kết án “Giảo giam hậu”(Treo cổ chờ xử quyết), sau đó án được giảm xuống chung thân khổ sai đày đi Côn lôn.(Ông bị bắt tháng 3 thì tháng 6 bị đày đi Côn lôn).

Chế độ lao tù không khuất phục được tinh thần yêu nước của Ông.Ở đây các ông đã cùng nhau hướng về Tố quốc ,Côn đảo được biến thành Tao đàn của các nhà thơ yêu nước,nhiều tập thơ văn cổ động cách mạng dành độc lập dân chủ được chuyển về đất liền,có tác dụng lớn đóng góp và thúc đẩy phong trào yêu nước.

Phan bội Châu đã khái quát cảnh lao tù của các chí sỹ ở Côn đảo trong bài văn điếu Phan chu Trinh,trong đó có câu :

Thân dậu tuất bấy nhiêu năm gian khổ,khi đào cây khi nhặt đá, giữa biển trần gió bụi vẫn thung dung,

Đặng, Huỳnh, Ngô mấy bác hàn huyên, khi uống rượu khi ngâm thơ ngoài cửa ngục,lầm than mà khảng khaí !

Sau 12 năm bị giam cầm, năm 1921 Ông được trả tự do trở về nhà. Thực dân Pháp khêu gợi nếu có lời tạ tội sẽ cho khôi phục bằng Tiến sỹ và được ra làm việc.Chí cương quyết ông không chịu khuất phục,tiếp tục hoạt động chống thực dân và triều đình bù nhìn.Cuối năm 1922 ông ra Hà nội thuê nhà ở Bạch mai,làm Chủ bút Tạp chí Hữu thanh,mở Giác quần thư xã,xuất bản nhiều sách tiến bộ.Ông đã tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh đòi thả Phan bội Châu (1925), đề xướng phong trào để tang Phan chu Trinh (1926),tham gia xây dựng Đảng Phục Việt.

Năm 1929 , ông bị bệnh và mất ở Bạch mai,mộ táng ở làng Tương mai,những người yêu nước đương thời tổ chức tang lễ,dựng bia đề “Việt Nam chí sỹ Ngô đức Kế chi mộ”. Ngày nay mộ ông đã được cải táng đưa về quê Trảo nha, đặt trên núi Nghèn,nay thuộc Thị trấn huyện Can lộc.

Ngô đức Kế vừa là một nhà cách mạng,vừa là một nhà thơ.Ông làm rất nhiều thơ,dưới đây xin ghi lại vài bài .

Bài thơ chữ Hán ông làm ở Côn đảo sau một năm đi đày,Cụ Huỳnh thúc Kháng dịch:

Tích niên kim nhật đáo Côn lôn

I

Nguyên văn: Cam đường trấp tứ tụ âm phần

Sơn sắc đào thanh triệt hữu hôn

Thường đắc thiên nhai vô hạn huống

Tích niên kim nhật đáo Côn lôn

II

Tích niên kim nhật đáo Côn lôn

Bách chiết thiên ma khí tượng tồn

Độc hữu đình vi nhi nữ luyến

Thanh y do trấp cựu đề côn

III

Từ bàng vô kế độ nguyên nguyên

Thử ý giao thuỳ khấu đế bôn

Hàn vũ tiêu tiêu thu lão hỷ

Tích niên kim nhật đáo Côn lôn

IV

Tích niên kim nhật đáo Côn lôn

Đổ vũ thanh thanh khứ quốc hồn

Cận nhật giang san hà tự hảo

Kình ba thu lão hương thiên phiên.

Dịch: Ngày này năm ngoái đến Côn lôn

I

Rườm rà hăm bốn cụm bàng non

Chiều sớm màu son sóng biển dồn

Ngắm cảnh thiên nhai chừng chửa chán

Ngày này năm ngoái đến Côn lôn.

II

Ngày này năm ngoái đến Côn lôn

Ma chiết trăm chiều khí vẫn còn

Lựa có lòng lo cha mẹ nhớ

Áo xanh đẫm lệ tủi phần con.

III

Thuyền từ khó vớt cuộc sinh tồn

Trời thẳm cùng ai tỏ tấc non

Mùa lạnh thu già trông quạnh quẽ

Ngày này năm ngoái đến Côn lôn.

IV

Ngày này năm ngoái đến Côn lôn

Réo rắt chim quyên tiếng gọi hồn

Non nước gần đây sao đó tá

Sóng kình thu muộn cuốn trời phun.

Hỏi Gia Long

Nhân lễ Tứ tuần Đại khánh của vua Khải Định (1925)

I

Ai về địa phủ hỏi Gia Long

Khải Định thằng này phải cháu ông?

Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ

Trăm gia ba chục khổ nhà nông

Tháng rồi ngoài bắc tai liền đến

Năm ngoái sang Tây ỉa vấy cùng

Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ

Vua thì còn đó, nước thì không!

II

Nước thời không có, có vua chi

Có cũng như không chẳng ích gì

Người vét đinh điền còn bạch địa

Ta khoe dụ chỉ tại đan trì

Nhận tiền nguyệt bổng vinh nào có

Ăn của quan trường tệ lắm ri

Thọ lắm lại càng thêm nhục lắm

Bé cu ly lớn cũng cu ly.

III

Cu ly đành phận chớ ra oai

Chuyên chế ăn quen thói cũ hoài

Quân chủ cờ bay vui trước mắt

Dân quyền trống đánh chán bên tai

Bùi,Liêm giảo hiểm khoe tài trí

Huề,Thụ thông minh gọi bất tài

Cấm hết công môn ăn hối lộ

Ngoài ra Tiềm để mặc lòng ai.

IV

Mặc lòng ai thảo với quân vương

Lớp để xây lăng lớp tậu vườn

Mặc kệ dân gian chìm nước lụt

Trối thây sỹ tử thiếu nhà trường

Một mình mê mải nghề ca xướng

Các nước lăng xăng nghiệp phú cường

Một lễ tứ tuần thu nặng túi

Bạc vàng châu báu có trăm rương.

 Ngô Gia Tự

Sinh ngày 3 tháng 12 năm 1908, thuộc dòng họ Ngô Gia Tam sơn huyện Tiên sơn tỉnh Hà bắc,con trai Ngô gia Du đỗ Tam trường, tham gia Đông kinh nghĩa thục.Chi họ Ngô Gia gốc ở làng Bình ngô Thanh hoá thiên cư ra Tam sơn vào khoảng năm 1786.

Năm 1922 Ngô gia Tự là học sinh trường Bưởi Hà nội.Năm 1925 bị đuổi học vì tham gia đấu tranh cho bản án Phan bội Châu.Cuối năm 1926 tham gia Việt nam cách mạng đồng minh hội.Năm 1927 sang Quảng châu dự lớp huấn luyện của Tổng bộ do Nguyễn ái Quốc giảng dạy.Năm 1928 làm Bí thư Tỉnh uỷ Bắc ninh Bắc giang,tháng 8 tham gia Kỳ bộ,cùng năm thi đỗ Tú tài phần I.Năm 1929 đi tham gia phong trào Vô sản hoá,cùng năm đi Hương cảng dự Đại hội thành lập Đảng cộng sản Việt nam,tháng 9 vào Nam kỳ tham gia Kỳ uỷ lãnh đạo phong trào.Ngày 31 tháng 5 năm 1930 bị thực dân pháp bắt ở Thị nghè,ngày 15 tháng 3 năm 1931 bị đày đi Côn đảo.

Sau một thời gian bị cầm tù ở Côn đảo, Ngô gia Tự kết bè vượt ngục Côn đảo để về đất liền, bị mất tích ngoài khơi,thực dân Pháp đã tìm kiếm khắp vùng biển,dùng đến máy bay đi tìm dấu vết,vẫn không tìm ra được dấu vết gì.

Thời ấy người ta đồn rằng có chiếc thuyền đánh cá của người Indonésia cứu được đưa về không chết.

Ngô gia Tự chưa có vợ con.Ông được liệt vào hàng Lãnh tụ tiền bối của Cách mạng Việt nam.

Đăng bởi: nghienson | Tháng Mười Một 3, 2015

HỌ NGÔ TRẢO NHA THẠCH HÀ

HỌ NGÔ TRẢO NHA THẠCH HÀ

(Nay thuộc thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh)

Trích từ:

Lịch sử Họ Ngô Việt Nam-Toàn tập

Hà Nội 2008

NGÔ ĐỨC THẮNG

 

DÒNG HỌ NGÔ TRẢO NHA THẠCH HÀ HÀ TĨNH

Truyền thống Thạch Hà Tướng Phiệt

Nguồn gốc

Ngô Nước, tên trước là Ngô Lợi, một trong sáu con trai cư biệt quán của Thanh Quốc công Ngô Khế .Ngô Nước đi lánh nạn vào đến xã Chỉ Châu huyện Thạch Hà trấn Nghệ An ở lại đó khai phá đất hoang làm ruộng, sinh sống nhiều năm,sau dời ra thôn Trung Thủy rồi đến thôn Thổ Sơn xã Đan Liên(sau đổi xã Trảo Nha, nay là Thị trấn huyện Can Lộc Hà Tĩnh) xin dân làng một khoảnh đất hoang khai phá làm vườn ở (Vườn ấy nay là vườn Từ đường họ Ngô Trảo Nha,cùng với Từ đường vừa được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá năm 1994). Hai ông bà lấy nghề nấu rượu nuôi lợn làm kế độ thân. Trong “Tân kỷ Hoan châu Ngô thị truyền gia tập lục”,Ngô Phúc Lâm viết:”Ông bà thường hay giúp người nghèo khó,cứu người lỡ bước gặp hoạn nạn,lại có biết chữ nên được dân làng bầu làm Lý chính (như Lý trưởng sau này)”.

Trong những năm sinh sống ở Chỉ Châu, có lần khai hoang cuốc đất bắt được ba vò vàng, có người Trung Quốc theo nham cảo lần sang tìm của, xem xét đối chiếu thấy là đúng,ông bèn trao trả nguyên cả ba vò vàng,người Trung Quốc báo ân cho một huyệt đất quý, để nham cảo lại, có câu“Tha hương võ tướng,luỹ thế nguyên huân”( Chuyển cư xa quê hương sẽ phát võ tướng, nối đời là nguyên huân của quốc gia).

Ông bà sinh con trai Ngô Phúc Hải.Mới tuổi 13,Ngô Phúc Hải đã có sức khoẻ hơn người. Có lần ông cụ vắng nhà, đêm đến trộm khoét vách vào nhà, ông lập mưu bắt được ba tên, hai tên chạy thoát.Sáng ngày dẫn ra điếm làng, dân làng đều phục tài,nhân đó bầu làm Đoàn trưởng, đêm đêm dẫn dân đinh đi tuần bắt được nhiều trộm cướp. Bọn gian kết oán,tụ tập nhau mưu hại ông.Ông xin phép cha mẹ tạm lánh ra Trấn lỵ,chờ thời gian yên ổn sẽ trở về thần hôn phụng dưỡng. Năm 16 tuổi Tổng binh trấn Nghệ thấy có tài, có sưc khoẻ, học giỏi, lấy vào giúp việc trong Trấn nha.

Thời bấy giờ trộm cướp tứ tung,ông đi theo đánh dẹp lập được nhiều công.Có lần có toán cướp mạnh,đánh chiếm Trấn dinh,Tổng binh xuất trận bị giết,Tổng binh Đồng tri một mình một ngựa chạy dài.Ngô Phúc Hải đang đi dẹp trộm cướp vùng Thanh Giang, Nam Đường được tin vội vàng quay về trong tay chỉ có vài mươi tuỳ tùng. Ông tổ chức tuần đinh các thôn lân cận, trước hết phục trên các ngả đường đánh bắt được nhiều tốp nhỏ, quân giặc cướp bị yếu dần,sau đó đánh vào trấn lỵ thu phục lại Trấn dinh.Trấn nha đem việc tâu lên, triều đinh phong chức Tổng binh,nhưng chỉ giữ việc Đô ty sự. Năm sau ông được thăng Tổng binh Đồng tri đi lãnh chức Trấn thủ trấn Thái Nguyên.Ông mất sớm ,nhà ở Phú Điền, con trai còn nhỏ,người làng định đưa táng trên núi Mã Yên Sơn (Rú Rum), linh cữu vừa đến gần chân núi, trời nổi cơn giông mưa gió dữ dội, giây thừng bị đứt, người làng phải mai táng luôn tại đó.

Ngày sau khi Thuần trung Hầu đã khôn lớn đón thầy địa lý về phúc mộ,thì mới hay huyệt đất này đúng với huyệt đất mà ngày trước mấy người khách buôn đã báo ân vì được cứu sống ở bãi biển Chỉ Châu.Ngôi mộ đến nay vẫn còn nguyên vẹn, tục gọi là “Mộ thiên táng”.

Ngô Phúc Hải có hai bà,bà cả người Trảo Nha sinh Ngô Phúc Hà làm Chủ bộ phủ Yên Vương,tặng phong Thuần trung Hầu.

Ngô Phúc Hà có hai bà,bà cả người Trảo Nha sinh Ngô Phúc Thanh,bà thứ người làng Hoa viên sinh Ngô Phúc Điền nay là Thuỷ tổ họ Ngô xã Phú Điền huyện Hưng Nguyên Nghệ An .

Vĩnh lộc Hầu Ngô Phúc Thanh là một tướng có tài,10 năm làm Tổng binh Trấn thủ Nghệ An, giữ vững an ninh trong trấn,giặc ngoài không dám xâm phạm biên cương,được mệnh danh“Nam diện truờng thành”.

Ông Ngô Phúc Lâm chép: “Nhà Lê chia cả nước làm 13 đạo Thừa tuyên, có chức Tổng binh thống lĩnh quân ở biên giới,phẩm trật thì phỏng theo chức Đô đốc bên Trung Quốc,đi đâu thì thẻ vàng,biển bạc,cờ vuông,tiền hô hậu ủng,lại được tiện nghi hành sự. Hàng năm theo

lệ định thu thuế trong hạt nộp lên, mỗi năm ngày xuân thu, ngày khánh tiết, về triều được nhà vua ban yến, uý lạo rồi trở về trấn…”

Ông từ trần trước ngày Mạc cướp ngôi,mộ táng trên núi Ngư Lão (thuộc Can Lộc Hà Tĩnh) .

Bật Nghĩa quân doanh Thiếu bảoThế Quận công Ngô Cảnh Hựu (1520-1596)

Ngô Cảnh Hựu là con trai Vĩnh lộc Hầu Ngô Phúc Thanh (vào đời thứ 25). Khi Mạc cướp ngôi nhà Lê,ông cụ đã từ trần,ông còn nhỏ tuổi.Lớn lên vùng quê nhiều trộm cướp, ông tập hợp gia thuộc chiếm cứ huyện nhà (huyện Thiên Lộc trấn Nghệ An),người theo ngày một đông.Ông đem quân vào núi thiết lập doanh trại luyện quân,bố trí giữ vững cả một vùng từ bờ nam sông Lam trở vào chờ đợi thời cơ.Lại chiêu tập những người lang bạt mở nhiều trại khẩn hoang trồng lương thực nuôi quân, như trại Năng,trại Cụ,trại Đoan miền duyên sơn Thạch Hà Thiên Lộc.

Năm Bính Ngọ 1546, được tin vua Lê đặt hành dinh ở Vạn Lại (Thọ Xuân),Lượng Quốc công Trịnh Kiểm nắm giữ binh quyền,ông dẫn quân ra bái yết xin theo đánh Mạc,đem theo 2000 quân,20 ngựa,bộ tướng hơn 10 người.

Tháng 5 năm 1551, Trịnh Kiểm mở cuộc tiến công ra bắc, cử Lê Bá Ly đánh Sơn Nam

Nguyễn Khải Khang đánh Sơn Tây,từ Tuyên Quang Vũ Văn Mật đánh xuống.Tháng 6, Trịnh Kiểm qua Hưng Hóa,vượt sông Thao hợp binh với Vũ Văn Mật tiến về Thăng Long,

Ngô Cảnh Hựu dẫn quân bản bộ theo Trịnh Kiểm.Cùng cuộc hành quân này còn có nhiều tướng họ Ngô tham dự.Tiến quân đến Kinh Bắc,các tướng Ngô Bạt,(Vũ Quận công con trưởng Ngô Thế Bang),Ngô Đình Tú (Ninh Quận công,cháu Ngô Khắc Cung),Ngô Tùng,Ngô Chi, dẫn 6000 quân đánh thắng một trận lớn tiêu diệt hơn vạn quân Mạc, giết đại tướng Mạc Đinh Bạt Sơn.Đại quân của Trịnh Kiểm vào được thành Thăng Long,nhưng quân Mạc đắp luỹ đào hào phòng thủ,Trịnh Kiểm sợ bị bao vây mất đường về,nên vội vàng lui quân về

Thanh Hóa.

Năm 1555, Mạc Kính Điển đem quân vào đánh Thanh Hóa, Ngô Cảnh Hựu theo Trịnh Kiểm phục quân đánh bại quân Mạc bắt được tướng tiên phong là Quân Thọ,quân Mạc phải rút về bắc.Năm 1556 nhà Mạc tập trung lực lượng mạnh ở Sơn Nam,Ngô Cảnh Hựu được lệnh dẫn hai vạn quân án ngữ cửa Thần Phù,một tháng sau chuyển quân đến Thiên quan, lập 30 đồn, đắp luỹ chống giặc.Đang ở quân thứ được chỉ vua phong: Chinh Tây Đại tướng quân Thế Quận công ( 37 tuổi).

Năm Tân Tỵ 1581,Mạc Đôn Nhượng tập trung lực lượng mạnh chia làm nhiều đạo tiến công Thanh Hóa,đạo đi đường biển đổ bộ lên Quảng Xương.Ông cùng Hoàng Đình Ái được lệnh hợp đồng phá giặc.Điều tra biết chắc quân Mạc tập kết ở núi Đường Nang,hai ông chia quân làm hai cánh tập kích vào doanh trại địch, toàn bộ cánh quân Mạc bị đánh tan,quân Mạc phải rút về bắc. Sau trận này Ngô Cảnh Hựu được thăng Bắc quân Đô đốc phủ Hữu Đô đốc.

Năm 1584, Trinh Tùng đánh Sơn Nam,ông đốc 2 vạn quân đi đoạn hậu.Sau khi đánh chiếm xong các huyện Yên Mô, Yên Khang, Gia Viễn,Trịnh Tùng hạ lệnh rút quân theo đường Thiên quan Phụng Hóa,ông biết thế nhưng lại rút quân theo đường cũ(đường tiến quân Tam Điệp), trái quân lệnh bị giáng hai cấp.

Năm 1587, đại quân hành quân về phía tây,quân chia làm 5 đạo,ông cùng Lân Quận công Hà Thọ Lộc đi đạo thứ 5 bảo vệ lương thảo (Theo đường Nho Quan Xích Thổ Chi Nê Chợ Bến ngày nay).Nhà Mạc sai Đại tướng Tây đạo Mạc Ngọc Luyện đem quân ra Xuân Mai Mỹ Đức, Đại tướng Nam đạo Nguyễn Quyển đem quân ra Chương Đức vượt sông Gio Lễ (khúc sông Đáy chảy qua xã Gio Lễ,đoạn ở Phủ Lý ngày nay),bố trí mai phục bên núi,chờ cho đại quân của Trịnh Tùng đi qua,đánh vào hậu quân để cướp lương.Trịnh Tùng sợ quân Mạc vòng đánh vào Thanh Hóa,cử Hoàng Đình Ái ngầm rút quân về giữ Thanh Hóa,đạo tiền quân tiến đến Miếu Môn Chợ Bến chặn quân Tây đạo,tăng thêm quân cho Ngô Cảnh Hựu chống quân Nguyễn Quyển cướp lương.Trịnh Tùng tự mình dẫn quân tiến hướng Kim Bảng.Hậu

quân đến đất Mỹ Lương, quân phục của Nguyễn Quyển tiến công vào đội hình hành quân để cướp lương,Ông đốc quân chống trả đánh tan quân phục của Nguyển Quyển,bảo vệ toàn vẹn lương thảo.Cuộc hành quân thắng lợi,quân Nam đạo của Nguyễn Quyển đại bại,từ đó sợ quân Trịnh thường né tránh ít dám đối đầu.

Tháng 11 năm 1589, Trịnh Tùng lại đánh Yên Khang, Gia Viễn. Nhà Mạc quyết định mở cuộc phản công lớn, huy động quân cả 4 trấn,cử Mạc Đôn Nhượng làm Thồng lĩnh,tấn công vào chính diện quân Trịnh Tùng.Trịnh Tùng bố trí phục binh ở Tam Điệp, cử Ngô Cảnh Hựu đốc 2 vạn quân thu thập lương thảo khí giới bỏ doanh trại lùi dần,nhử cho quân Mạc đuổi theo.Thấy quân Trịnh rút lui,Mạc Đôn Nhượng hạ lênh truy kích,đốt phá hết doanh trại ,tiến sâu vào hiểm địa,lúc đó quân phục bốn bề đổ ra xung sát, quân Mạc biết là trúng kế,vừa chống đỡ vừa lui quân, chết hơn ngàn người, bị bắt làm tù binh 600 người.Sau trận này quân Mạc yếu hẳn.

Năm 1591, Trịnh Tùng hội các tướng bàn và quyết định tháng 12 ra quân đánh Thăng Long.Được người nhà Mạc đưa thơ vào,mở xem chỉ có hai chữ “Thanh Thuý”, không ai hiểu ý gì.Trịnh Tùng liền triệu Hòang giáp Phùng Khắc Khoan vào hỏi.Phùng Khắc Khoan phân tích: “Chữ Thanh do ba chữ thập nhị nguyệt hợp lại,chữ Thuý do hai chữ xuất tốt hợp lại,tất cả năm chữ đọc thành Thập nhị nguyệt xuất tốt, nghĩa là: tháng 12 ra quân”.Trịnh Tùng thấy kế hoạch xuất quân đã bị lộ,quyết định xuất quân sớm hơn.

Trịnh Tùng sai Diễn-quận-công Trịnh văn Hải, Thái-quận-công Nguyễn thất Lý đem binh trấn-thủ các cửa bể và các nơi hiểm-yếu. Sai Thọ-quận-công Lê Hòa ở lại giữ ngự-dinh và cả địa hạt Thanh-hóa. Phòng bị đâu đó rồi, bèn đem hơn 5 vạn quân chia ra làm 5 đội, sai quan Thái-phó Nguyễn Hữu Liêu, quan Thái-úy Hoàng Đình Ái, Lân-quận công Hà Thế Lộc, Thế-quận-công Ngô Cảnh Hựu, mỗi người lĩnh một đội, còn Trịnh Tùng tự lĩnh 2 vạn quân ra cửa Thiên-quan (Ninh-Bình) qua núi Yên mã (ở huyện An-sơn ) đất Tân Phong (tức là Tiên Phong ) rồi kéo về đóng ở Tốt Lâm ( ? ) .

Hành quân chia làm 5 đạo.Thế Quận công đi Đạo thứ 5 bảo vệ lương thảo,xuất phát từ Tây Đô qua cửa Kim Sơn, cửa Thiên Quan, leo đèo lội suối xuyên rừng sau mười ngày đến Mã Yên Sơn,chưa kịp chỉnh đốn doanh trại,lại được lệnh di chuyển đến Hoa Mộng Sơn thuộc Thanh Châu(nay là huyện Tùng Thiện tỉnh Hà Tây).Trên đường chuyển quân,quân Mạc tung kỳ binh đánh tạt sườn hòng chia cắt hậu quân ta để cướp lương, lại phóng hoả đốt khu rừng phía trước chặn đường tiến quân.Ông đốc quân đánh tan kỳ binh địch,lại dập tắt được lửa,đưa lương thảo an toàn đến Hoa Mộng Sơn.Đại quân đánh chiếm được các huyện Yên Phong,

Phúc Lộc, Tân Phong, Thạch Thất thuộc trấn Sơn Tây.

Mạc Mậu Hợp thấy quân Trịnh tiến quá nhanh,bức bách đến nơi,vội vàng đem toàn lực đại đội binh mã quyết một trận hơn thua,điều động binh mã 4 vệ, 4 trấn cộng tất cả trên 10 vạn quân,hạ lệnh ngày 10 tất cả phải tề tựu ở Hiệp Thượng Hiệp Hạ, sai Mạc Ngọc Luyện chỉ huy Tây đạo,Phù Quận công, Xuân Quận công chỉ huy Bắc đạo,Khuông Quận công, Xuyên Quận công chỉ huy binh mã 4 vệ,các Thân vương và các tướng Túc vệ chỉ huy hậu đội,tự mình chỉ huy Trung quân,các đạo chia đường cùng tiến.Ngày 27 đến đất Phấn Thượng huyện Từ Liêm,dàn thành trận thế đối diện với quân Trịnh Tùng.

Trịnh Tùng phân phó các tướng lĩnh,Hữu khu Doanh tướng Nguyễn Hữu Liêu dẫn quân bản bộ tăng cường 400 thiết kỵ tiến lên trước khiêu chiến.Trên đà thắng liên tiếp, quân Trịnh hăng hái xung trận,chém được Khuông Quận công và Tân Quận công tại trận,lại giết luôn được tướng Hoàng Nghĩa Cước.Mạc Mậu Hợp thấy thế trận bất lợi đánh chiêng thu quân,án binh bất động.Đến giữa trưa, Trịnh Tùng thấy tình hình quân Mạc uể oải,liền hạ lệnh cho tất cả các đạo quân tấn công vào trận tuyến Mạc,tung ra gần 100 thớt voi trợ chiến.Ba tiếng pháo hiệu nổ vang, tất cả các mũi nhất tề xông lên,quân Mạc hốt hoảng lùi dần,tả hữu không phối hợp được với nhau, cờ trận sai lạc,trước sau hỗn loạn, xô nhau mà chạy, dày xéo lên nhau mà chết. Quân Trịnh đuổi đến Giang Cao,giết hơn vạn người, thây chất thành núi.Chổ này ngày nay còn các gò đống chôn xác chết, tục gọi “Đống nhà Mạc”.

Mạc Mậu Hợp rút quân vào thành cố thủ,Trịnh Tùng tiến quân đến làng Nhân Mục,uy hiếp Thăng Long,Ngô Cảnh Hựu đang ở hậu quân được gọi lên tham chiến, chỉ huy mũi tiến công Cầu Mọc.

Quân Trịnh đánh vào cửa ô Cầu Dền bắt được Đại tướng Mạc Nguyễn Quyển đã bị trọng thương.Trịnh Tùng hỏi Nguyễn Quyển làm cách nào hạ được Thăng Long .

Có ý muốn kéo dài thời gian để Mạc Mậu Hợp có đủ thì giờ củng cố lực lượng phòng giữ,Nguyễn Quyển bảo Trịnh Tùng:”Muốn hạ Thăng Long, trước hết phải phá hết La Thành”. Trịnh Tùng mắc mưu, sai quân san phẳng các luỹ thành Đại La ,kéo dài thời gian, không hạ được Thăng Long phải rút quân.

Trong lúc nguy nan này nội bộ nhà Mạc càng sinh lắm chuyện,đại thần thì né tránh, họ ngoại chuyên quyền, vua thì hoang dâm vô độ, hoạ từ trong ra .

Nguyễn Quyển có hai cô con gái, cô chị Nguyễn Thị Liên, là người đẹp, hiện là Hoàng hậu của Mạc Mậu Hợp, cô em là Nguyễn Thị Năm,lại đẹp hơn cô chị nhiều,đã lấy chồng là Sơn Quận công Bùi Văn Khuê Đại tướng Nam đạo.Nguyễn Thị Năm vào cung thăm chị, Mạc Mậu Hợp trông thấy say mê sinh lòng tà dâm muốn cướp lấy làm vợ mình,ngầm mưu hại Bùi Văn Khuê,bèn triệu Khuê về triều để tìm cách ngầm giết đi.

Bùi Văn Khuê biết chuyện,đem quân bản bộ chiếm cứ huyện Gia Viễn,sai con là

Bùi Văn Nguyên đến doanh trại Trịnh Tùng xin đầu hàng và cứu viện.

Trịnh Tùng mừng rỡ nói:”Quân Mạc đồn binh ở Gia Viễn chặn đường tiến của quân ta,ta đánh mấy lần không xong,mỗi lần xuất quân phải theo đường Thiên quan Mỹ Lương, Thạch Thất mà đánh Đông Kinh,thường phải kéo quân về ngay,sợ thuỷ quân đông nam của nhà Mạc thừa sơ hở kéo theo đường biển vào đánh Thanh Hóa, hoặc ngược dòng sông theo sau lưng mà đánh tập hậu quân ta. Nay tướng biên thuỳ này quy hàng,thật là trời giúp ta !”

Đầu xuân năm sau,ngày mồng 3 tháng giêng âm lịch (dương lịch 1592),Trịnh Tùng lập đàn tế cáo trời đất,ngày mồng 5 tiến quân đến làng Nhân Mục, đánh quân Mạc ở ô Cầu Dền. Mạc Mậu Hợp bố trí các tướng ở lại giữ thành, tự mình ra chỉ huy thuỷ quân trên sông Hồng.Ngày mồng 6, Trịnh Tùng hạ lệnh nhất tề công thành,Ngô Cảnh Hựu chỉ huy tấn công mũi Cầu Mọc.Giữa lúc đang tấn công, Ngô Cảnh Hựu được lệnh cấp tốc hành quân đến cửa sông Hát đánh đạo quân của Đại tướng Mạc Ngọc Luyện đang phòng ngự ở đó.Quân đến nơi trời gần tối,điều tra biết Mạc Ngọc Luyện đóng quân bên kia sông,đắp luỹ phòng thủ, dưới mặt sông dàn chiến thuyền,cắm cọc gỗ phòng thủ.

Ông tức tốc sai tập trung thuyền chài,chuẩn bị nhiều bè cỏ khô,thêm các khí cụ phóng hoả.Sai Dương nghĩa Hầu đang đêm dẫn 300 quân vượt sông,tìm nơi hiểm yếu phục binh chặn viện. Sang trống canh tư, nhân con voi ông thường cưỡi lồng lên, quản tượng không kiềm chế được,ông lên voi ra lệnh vượt sông tiến công. Ra đến giữa dòng bắc loa kêu gọi binh sỹ“Trước địch sau sông,ba quân không ra sức diệt địch thì không còn sinh lộ!”. Một cánh đốt bè cỏ khô tung vào thuỷ trận Mạc,thuyền bắt lửa cháy,một cánh nhảy lên bộ xông vào chiến luỹ, quân Mạc sau luỹ thấy thuỷ quân đã tan vở,hoang mang hàng ngũ rối loạn chống đỡ không nổi tháo chạy,ông xua quân đuổi đánh đến sáng, Mạc Ngọc Luyện dùng thuyền nhỏ chạy lên Tam Đảo.Quân ông thu được chiến thuyền khí giới nhiều không kể xiếT.Tuổi già xung trận quá sức, khi xuống voi ông bị hôn mê ,cấp cứu mãi mới tỉnh.Ngày hôm sau Trịnh Tùng triệu ông đến hành dinh khen ngợi, ông nói :”Trận này thắng lớn là nhờ hồng phúc của quốc gia, đang đêm voi lồng lên làm tôi bị hôn mê, lại được tướng sỹ hết lòng giết giặc,đâu phải tài cán của tôi “.Về sau con voi này cũng được phong tước Quận công.

Năm sau (1593) Trịnh Tùng cùng bách quan rước vua Lê về Thăng Long,luận công khen thưởng,chọn được 11 người Nguyên công(công đầu) ông đứng hàng thứ 6,phong tước Thiếu bảo. Luận công khen thưởng xong, ông xin về trí sỹ (1594).

Ngày sau dưới triều Lê Dụ Tôn năm nhâm dần 1722,niên hiệu Bảo Thái thời Chúa Trịnh Cương,triều đình lục xét lại các Trung Hưng Công thần,chọn thêm được 13 người cộng lại thành 24 người ,đều được phong tặng “Luỹ đại công thần, dữ quốc đồng hưu”.Quê nhà ông ở Trảo Nha, trong những năm 1655-1663 quân Chúa Nguyễn lấn chiếm đến bờ nam sông

Lam, nhà cửa bị tàn phá, sắc chỉ không còn để đem trình,triều đình chỉ bằng vào quốc sử và văn bia mà xét, nên ông bị xếp vào hàng thứ 20 trong số 24 Nguyên công.

Ông có ba Bà:Bà Từ Quang,Bà Quận chúa Trịnh Thị Diệu Minh ,Bà Diệu Hằng họ Phạm người Nghệ An.

Ông sinh: Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh,

Hòanh phố Hầu Ngô Phúc Hòanh,

Khang trạch Hầu Ngô Phúc Mai,

Câu kê Hầu, Thủy tổ họ Ngô Thạch Mỹ Thạch Hà,

Ngô Đăng Khản, Thủy tổ họ Ngô Hà Linh huyện Hương Khê,

Ngô Thuận Tâm (sau đổi họ Trần),Thủy tổ họ Trần Vỵ Xuyên Nam Định,

Ngô Thị Ngọc Nguyên,Thứ phi Bình an Vương Trịnh Tùng.

Ông mất ngày 25 tháng 5 năm Bính Thân 1596, hưởng thọ 77 tuổi,mộ táng ở làng Chi Lễ xã Thái Hà,đến nay vẫn còn.

Trung Nhuệ Quân Doanh Phó Tướng Thái Bảo Tào Quận công Ngô Phúc Vạn

(1577-1652)

Ông có tên khác là Phúc Mại,tự Tử Hán, hiệu Huân Dương chân nhân,sinh giờ dần ngày 20 tháng 5 năm Đinh Sửu, mất 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn,mộ táng trên đồi Nghèn (huyệt sâu 17m, đáy huyệt bằng bình độ ruộng sâu nhất trước mặt).Từ đường và mộ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá năm 1993.

Là con trai trưởng Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh do bà Lê Thị Đệ sinh ra.

Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh là con trưởng Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu,thời Nam Bắc triều ở với bố ở Thanh Hóa ,ở huyện Đông Sơn .Có nhà Lê Tướng công,ông cụ đã qua đời,bà cụ ở với hai cô con gái.Một buổi sáng sớm hai chị em ra vườn,cô chị trông thấy bông hoa đang nở màu hồng tươi thắm chỉ cho cô em,cô em hái cho luôn vào miệng nuốt chững,từ đó càng thêm minh mẫn.Ngô Phúc Tịnh thường qua lại làm thân, bà cụ hứa gả cô chị cho làm vợ.Đến ngày đón dâu thì lại là cô em,ông hỏi tại sao hứa gả chị,nay lại là em.Cô dâu thưa: “Nhà thiếp neo đơn,thiếp sức yếu,chị thiếp khoẻ tháo vát,phải ở lại nuôi mẹ,cho thiếp thay chị nâng khăn sửa túi”.Ông nói tất cả do tiền định.Vợ chồng càng đằm thắm,đã cùng nhau sinh ba trai hai gái.

Sau ngày Trịnh Tùng xưng Vương lập Phủ Chúa,ông thường vào phủ vui chơi, được Quận chúa Ngọc Mai ưng ý, ở luôn trong phủ cả tuần không về nhà. Bà ở nhà sốt ruột bói toán cầu cúng khắp nơi,không kết quả gì.Trong xóm có người hát hay,thưòng được vào phủ hát,bà bèn chọn người giả vai cầm trống theo vào phủ dò la,thấy ông ngồi kề vai Quận chúa xem hát như cặp vợ chồng,về nói lại với bà.

Khi ông về nhà chưa dám nói ra,bà nói trước rằng : “Tôi với ông lấy nhau nay đã có năm mặt con. Tôi tuổi đã cao, xin nhường ngôi chính thất cho Quận chúa.Quận chúa còn trẻ ông hãy thương yêu lấy.Ông lấy Quận chúa bước đường công danh sẽ có nhiều thuận lơị”.Ông còn phân vân chưa nỡ dứt tình,Chúa gọi gả Quận chúa, bà lập tức đưa con ra ở nhà riêng. Sau khi đã cưới Quận chúa,ông bỏ hẳn không đành, thường lén đi lại thăm bà. Bà nói:”Tôi với ông kết tóc từ hồi còn trẻ, nay đã trên 30 tuổi sinh năm mặt con. Không phải tôi không muốn cùng ông chung chăn chung gối chung hưởng hạnh phúc.Nhưng nay phòng khuê đã có chủ trương, tôi không dám vì tình cũ làm điếm nhục gia phong. Quận chúa còn trẻ ông hãy thương yêu lấy, đừng suy nghĩ gì về tôi nữa”. Cùng năm ấy sau ngày trùng ngọ, bà sai hai con trai quảy dưa sang nhà biếu Quận chúa và ông. Đến bậc thềm cao anh lên được, em còn nhỏ không lên được, anh leo lên trước rồi kéo em lên.Trước quang cảnh ấy ông bùi ngùi lộ ra nét mặT. Quận chúa nói: ”Thường ngày tôi biết ông suy nghĩ nhiều về các con, chi bằng cho mấy lính hầu sang bên ấy giúp việc, hàng tháng cấp thêm gạo dầu, việc gì lại phải bùi ngùi”. Ông bèn cấp gạo dầu hàng tháng và cho 6 lính hầu sang giúp, từ đó quan hệ giữa hai nhà càng thêm thân mậT.

Quận chúa không sinh con trai. Bà Lê Thị Đệ có hai trai :Ngô Phúc Vạn và Ngô Phúc Vỵ Quận công, cũng đều lấy Quận chúa họ Trịnh.

Hai họ quan hệ sui gia đời này qua đời khác.Hai con gái vào cung,hai con trai lấy Quận chúa.Hai con trai Vỵ Quận công cũng lấy Quận chúa, Ngô Thị Ngoc Nguyên Thứ phi Chúa Trịnh Tùng sinh Trịnh Diêu.Con gái Trịnh Diêu lấy Ngô Phúc Hộ, con gái Ngô Phúc Hộ lấy cháu nội Trịnh Diêu là Trung Quận công Trịnh Bính, con gái Trịnh Bính lấy cháu nội Ngô Phúc Hộ là Cảnh Quận công sinh Ngô Cảnh Hoàn, con gái Cảnh Quận công lấy cháu nội Trịnh Bính là Lai thọ Hầu.Ngô Phúc Vạn có hai con gái vào cung, mười con trai thì tám người lấy Quận chúa và Á Quận chúa họ Trịnh.

Ngô Phúc Vạn mặt mũi khôi ngô,dáng người thanh nhã, dong dõng cao, đứng trong triều cao hơn mọi người một cái mũ bình đính, mắt sáng tiếng nói trong, về già có dáng tiên phong đạo cốt,lại là đạo gia nên được mọi người tôn xưng là Phật Thái Bảo.

Xuất thân cửa tướng,văn võ toàn tài,ông không chỉ có sức khoẻ,võ nghệ cao cường, thông hiểu binh thư trận pháp,mà thánh kinh hiền truyện thiên văn địa lý,toán học không có gì là không hiểu sâu, về già lại được một đạo sỹ truyền thụ đạo lý.Là một danh tướng, một trọng thần của nhà Lê, phía bắc đánh Mạc bắt sống Mạc Kính Cung, phía nam chống Nguyễn giữ vững biên cương,nhân dân được yên ổn làm ăn trong một thời gian dài.Chỉ vì lúc thiếu thời tính khí cương cường không chịu khuất phục quyền thần, nên 20 năm công lao không được ghi vào sử sách.

Năm Canh Tý 1600, ông theo Trịnh Tùng đi đánh Mạc lập nhiều chiến công, phong Tường khê Hầu (23 tuổi)

Năm Quý Hợi 1623, Trịnh Tùng ốm nặng,con thứ Vạn Quận công Trịnh Thung gây biến (nhiều sách phiên là Trịnh Xuân),ngày 18 kéo quân chiếm Hoàng Đình ,tháng 6 vua chúa phải chạy ra Hoàng Mai, theo đường tắt chạy vào Thanh Hóa. Đến Thanh Oai bệnh Chúa chuyển trầm trọng,ngày 20 thì mất,trong ngoài náo động.Trịnh Đổ có ý muốn dành ngôi chúa cho con mình là Trịnh Cường, bèn đưa thi hài Chúa về phủ riêng của mình gần đó.Ngô Phúc Vạn nắm Cấm binh cùng Trịnh Tráng đưa vua Lê về Thanh Hóa,lo việc chống với Trịnh Thung.

Trịnh Đổ lập mưu,sai Trịnh Cường đi dụ Trịnh Thung,bảo đến chịu tang rồi sẽ tôn lên ngôi Chúa.Trịnh Thung ngỡ tình thực, chỉ đem theo mấy hộ vệ đến phủ Trịnh Đổ nhận thi hài Chúa đưa về phát tang. Thung vừa bước vào cửa ,võ sỹ phục sẳn chém đứt làm hai đoạn.

Được tin Thăng Long có biến, từ Cao Bằng Mạc Kính Khoan đem vài vạn quân về Gia Lâm uy hiếp Thăng Long.Trịnh Đổ thấy một mình khó đương đầu với phía ngoài quân Mạc,phía trong quân Trịnh Tráng, bèn bỏ Thăng Long đưa thi hài Chúa vào Thanh Hóa trao cho Trịnh Tráng và nhận tội. Trịnh Tráng lờ đi không hỏi tội, vẫn cho giữ chức cũ.Thăng Long bỏ trống, quân Mạc Kính Cung vào thành.

Sau vài tháng chuẩn bị củng cố lực lượng,Trịnh Tráng kéo quân ra Thăng Long,đánh đuổi được quân Mạc Kính Cung,thu phục kinh thành Triều đình luận công,Ngô Phúc Vạn được cả hai công”Truy tuỳ và Tấn phát”(hộ giá chạy vào Thanh Hóa và tiến quân thu phục kinh thành,lần này Ngô Trí Hòa cũng được cả hai công).

Trịnh Tráng lên ngôi Chúa. Mấy năm liền ,dưới thời vua Càn Thống nhà Mạc ,Mạc Kính Cung đem dư đảng người Hải Dương và quân Long Châu (Trung Quốc) sang đánh phá hai trấn Thái Nguyên ,Lạng Sơn, khí thế khá mạnh. Tháng 12 năm ất sửu (1625) Trịnh Tráng sai con trai là Thái bảo Hùng Quận công Trịnh Kiều làm Thống lĩnh,em là Thái phó Trịnh Đồng làm phó tướng, cùng các tướng Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,Nhạc Quận công, Cảnh Quận công, Thắng Quận công, Hoành Quận công đem đại binh đi đánh Mạc Kính Cung. Gặp quân Mạc ở núi Ly Đà (cách Cao Bằng 20 km) đánh nhau vài trận, quân Mạc thua, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Cung đều rút quân trốn vào rừng sâu,các đạo quân truy tìm mất hút.Ngô Phúc Vạn dẫn một toán khinh binh vào rừng lùng xục, sau nhiều ngày tìm kiếm, đến một toà cổ miếu bắt được một nhà tăng tra hỏi,nhà tăng nói không biết gì về quân Mạc, hàng ngày chỉ thấy một người mặc áo chẽn xanh,leo lên chổ cao quan sát, tướng quân bắt người ấy mà

hỏi.Ông bố trí đón bắt được người mặc áo chẽn xanh,hỏi ra đúng là thám tử của Mạc Kính Cung, Ông buộc người đó dẫn đường đến sào huyệt.Đi không xa đến một nơi có luỹ đá kiên cố vài tầng, có cửa vững vàng, ngoài cửa có vài khẩu đại pháo, ông bố trí phục sẵn kỳ binh, sai người dẫn đường gọi cửa. Cửa hé mở, kỳ binh xông vào, Mạc Kính Cung đang cùng cung phi đàn hát, quân ông đã vào sát không kịp trở tay đồ đảng tháo chạy, Mạc Kính Cung bị bắt đóng cũi giải về Kinh đô.Triều đình luận công ông được thăng Đô đốc Thiểm sự.

Trước đây, năm 1620, phía Chúa Nguyễn ở Đàng trong,Chưởng Cơ Hiệp và Chưởng Cơ Trạch, con trai thứ 7 và thứ 8 của Nguyễn Hoàng âm mưu làm nội biến cướp ngôi của anh,mật gửi thơ cho Trịnh Tùng yêu cầu đưa quân vào giúp,hẹn xong việc sẽ chia đất đai.Trịnh Tráng sai Đô đốc Nguyễn Khải đem 5000 quân vào đóng ở Nhật Lễ,Tường khê Hầu và Ngô Phúc Vạn có tham dự đạo quân này.Hiệp và Trạch còn e dè Chưởng cơ Tôn Thất Tuyên nên chưa dám hành động.Chúa Sãi Vương sai Tuyên đi đánh quân Trịnh,Tuyên không đi, sai Chưởng Doanh Tôn Thất Vệ đi thay.Hiệp và Trạch đem quân chiếm giữÁi Tử, Tuyên dẫn quân đi dẹp, bắt được cả hai người đem về giết chếT. Nguyễn Khải được tin, không đánh nhau với Vệ nữa, rút quân về. Năm 1627 lấy cớ thiếu thuế cống,Trịnh Tráng lại kéo quân vào đánh Chúa Nguyễn,Ngô Phúc Vạn đi tiên phong, lập được nhiều công, năm 1630 được thăng Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, lại có nhiều khả năng về chính sự được dự vào Nghị sự đường bàn việc nước.

Năm Quý Dậu 1633,mặt bắc đã ổn định,Trịnh Tráng cất đại quân đi đánh phía nam.Tháng chạp rước vua Lê theo,chia hai đường thuỷ bộ tiến quân.Ngô Phúc Vạn lĩnh ấn tiên phong, qua châu Bố Chính không gặp cản trở gì lớn, đến Trường Sa Cương (tục gọi Bãi Dài) đụng độ lực lượng lớn của quân Nguyễn,ông bèn hạ trại đóng quân, bố trí canh phòng cẩn mật.Đêm ấy quân Nguyễn cướp trại, ông đốc quân chống giữ, rạng ngày quân Nguyễn lui.Ông bèn huy động lực lượng đắp luỹ tại chổ, chống nhau với địch,giao chiến 7 ngày đêm,hai bên bắn nhau dữ dội, quân Nguyễn núng thế, rút lui. Ông xua quân đuổi theo đến bờ sông Nhật Lệ thu phục lại toàn bộ đất đai bị lấn chiếm, quân Nguyễn rút vào sau luỹ cố thủ.Xem thế luỹ không thể đánh vào được, quân Trịnh lui binh,bình công ông được thăng Thái Bảo (58 tuổi).

Năm 1637 bà cụ Lê Thị Đệ từ trần,ông về quê cư tang.Trong vùng có Tả Đô đốc Nguyễn Khắc Tôn Hiền Quận công, con trai Đại tư đồ Nguyễn Khắc Khoan người châu Bố Chính,liên kết với Bồn Man Ai Lao âm mưu chống lại triều đình Lê Trịnh.Nguyễn Khắc Tôn giao thiệp với Chúa Nguyễn yêu cầu giúp sức, lúc này nội bộ Chúa Nguyễn đang lục đục nên không nhận lời. Nguyễn Khắc Tôn có sức khoẻ địch trăm người,khi cưỡi ngựa thì hai bên nổi gió, sử dụng đại đao không ai có thể đương nổi.

Ngô Phúc Vạn biết rõ âm mưu và thực lực, bèn dùng “Công tâm kế”, sai tướng tâm phúc là Vinh khánh Hầu (người làng Nha Kỳ xã Trảo Nha) dẫn khinh binh vào vùng Khắc Tôn kiểm soát, tìm gặp thủ hạ Khắc Tôn,thuyết phục phân tích rõ điều hơn lẽ thiệt tỉa dần vây cánh của Khắc Tôn. Tiếp theo là biên thơ cho Khắc Tuân phân tích lẽ phải trái, tương quan lực lượng, những điều lợi hại về sau và khuyên về hàng.Cuối cùng Nguyễn Khắc Tôn nghe theo, xin về với triều đình.Ông sai con trai Ngô Phúc Thiêm dẫn ra Thăng Long. Nhân vụ này Ngô Phúc Thiêm được phong tước Quận công,lúc này mới 13 tuổi.

Liền sau đó, chưa mãn tang mẹ Ông nhận được chỉ triệu về kinh,trao chức Trấn thủ trấn Nghệ An, kiêm chức Thống lĩnh các đạo quân phía nam.Trên mười năm Trấn thủ Nghệ An (từ lúc đó đến ngày từ trần năm 1652) quân Chúa Nguyễn không dám ra quấy phá biên giới phía nam,nhân dân được yên ổn làm ăn.

Trong thời kỳ trấn thủ Nghệ An có lần về triều Chúa hỏi Ông về tình hình biên cương, Ông nói: “Xin Chúa bình tâm, cha con tôi còn ở đó, địch không dám làm gì, một mai thế sự biến thiên, tôi không thể biết trước được”. Chúa Trịnh nói:” Cha con ông thực xứng đáng là Xã tắc chi Trảo Nha (Nanh vuốt của nước nhà).Về sau hai chữ Trảo Nha được lấy làm tên xã thay hai chữ Đan Liên cũ.

Trịnh Khâm âm mưu gây nội biến dành ngôi Chúa, dự định ngày mồng 5 tháng 5 thì khởi sự.Ngô Phúc Vạn biết được âm mưu đó, hiến kế cho Chúa, ngày mồng 1 bao vây bắt gọn, chặn được cuộc nội biến, ông được thăng Thái Uý, sau đó được thăng Phó Tướng Chưởng phủ sự, đuợc mở “Trung nhuệ quân doanh”.

Ông là một huân thần danh tướng được Chúa Trịnh Tráng trọng vọng. Ngày 12 tháng 8 1652 Chuá trọng bậc lão thành, uỷ thác ông cầm Kim sách lên Long trì thay mặt Chúa chịu trăm quan lạy mừng,Công hầu khanh tướng xưa nay chưa từng có.

Ngày 15 cùng tháng, ông không bệnh mà mất ở chính tẩm,thọ 76 tuổi.

Ông lắm vợ nhiều con, có tất cả bảy bà, 25 con trai gái, Chính thất là Quận chúa Ngọc Uyên con gái Trịnh Tùng, em Trịnh Tráng.Mười con trai , năm tước Quận công, ba người phong tước cùng một ngày là Ngô Phúc Đang,Ngô Phúc Hạp,Ngô Phúc Hộ (ngày 19 tháng 4 năm Vĩnh Trị thứ 3 -1678) và năm tước Hầu. 15 con gái có hai người vào cung làm vợ Chúa: Ngô Thị Ngọc Phương phong Khắc Noãn, Ngô Thị Ngọc Tôn phong Hoa Dung.

Em trai là Vỵ Quận công,sinh hai con trai Diên Quận công và Lý Quận công, cả ba cha con đều lấy vợ là Quận chúa họ Trịnh.

Từ Đường Ký

( Khắc vào bia đá, hiện còn ở Từ đường ở Thổ Sơn,xã Đại Lộc huyện Can Lộc Hà Tĩnh)

Năm năm sau khi Thái bảo Tào Quận công từ trần,năm 1567 Lễ bộ giao cho ông Kim tử Vinh lộc đại phu Phương lộc Hầu Nguyễn Thế Khanh đỗ Thám hoa khoa Đinh Sửu niên hiệu Dương Hòa năm thứ 3 đời Lê Thần Tông (1637) đương chức Bồi tụng, ,người xã Phù Lưu huyện Đông Sơn,nay là thôn Phù Lưu,xã Quảng Thắng tỉnh Thanh Hóa viết bài ký khắc vào bia đá.

(Dịch từ nguyên văn chữ Hán)

Thường nghe,

Đại thần phải có đức với dân, dốc lòng vàng đá soi sáng về sau, đâu phải chỉ vinh hiển một thời rạng vẻ một xóm.

Ông họ Ngô tên Vạn người xã Trảo Nha huyện Thạch Hà trấn Nghệ An, Cao cao tổ là Hải Tổng binh Đồng tri, Trấn thủ Thái Nguyên,Cao tổ là Hà Chủ bộ phủ Yên Vương được tặng thưởng Thuần trung Hầu,Tằng tổ là Thanh Đô tổng binh sứ Trấn thủ trấn Nghệ An tước Vĩnh lộc Hầu, Hiển tổ là Trừng Phụ quốc Công thần Bật nghĩa quân doanh Tây quân Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Thế Quận công gia phong Thái phó, Hiển khảo là Tịnh, Hiệp mưu Dương võ Công thần Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Tứ Quận công gia phong Thái bảo.

Ông sinh năm sửu, tài kiêm văn võ, năm Canh tý thụ phong Dương võ Uy dũng Công thần Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Tường khê Hầu, năm nhâm ngọ lấy Quận chúa Ngọc Uyên được phong thực ấp,năm bính dần bắt được vua Càn Thống thăng Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, chức ngồi chính đường bàn việc nước, năm Quý dậu cầm quân đánh giặc, từ đó tiếng tăm lừng lẫy, năm Giáp tuất được phong Thiếu bảo. Năm Giáp thân (1644) dẹp phản tặc Hiền Quận công vinh thăng Thiếu phó,Trấn thủ châu Hoan trong ngoài yên ổn triều đình trọng vọng. Năm Ất dậu (1645) được thăng Thái bảo, năm Canh dần (1650) được mệnh vua dựng Trung nhuệ quân doanh

Khi ra ngoài cầm cờ mao tiết giữ vững biên cương, khi về kinh thi hành nhân chính bảo vệ miếu đường, làm cho một thời công đức đối với dân như núi Thái sơn, thế nước vững như bàn thạch, phúc lộc đỉnh chung thêm rạng rỡ, để đức cho con cháu mãi mãi về sau.

Con trai đầu Phúc Thiêm cầm quân nghiêm minh, 13 tuổi đã lĩnh binh bắt giặc Khắc Tôn phong Nham Quận công, 18 tuổi có công dẹp yên nội biến đánh dẹp quân Mạc, thăng Hiệu lực Tứ vệ Đô đốc, con gái đều lấy bậc hào hoa, cửa nhà cao rộng nguy nga,ngựa xe ra vào tấp nập. 70 tuổi trên đầu tóc chưa bạc, tưởng còn sống lâu về nơi núi non nhàn hạ, đọc sách ngâm thơ. Những khi nhàn rỗi ông thường đọc sách đạo, sách tiên, dựng am Phúc quy Bửu các thờ Tam tài thủ quân. Để cho xã Thái Hà 70 mẫu ruộng tốt để phụng thờ hương khói,

lại để cho Hoa Sũng 5 mẫu dưỡng điền để báo thập ân từ mẫu, để cho làng Thổ Sơn 40 mẫu kính điền để phụng thờ hương khói,để cho Kỳ, Lạc, Chúc, Lý 4 thông 40 mẫu tự điền để lo phụng sự về sau,nghĩ rằng người có phúc lớn sẽ được trời báo. Là con nhà võ tướng văn võ toàn tài, gặp buổi trời mây u ám, khuông phò nhật nguyệt, chỉnh đốn càn khôn, uy danh vang dội, chức kiêm tướng tướng,làm Nguyên lão quốc gia, công nhiều đức thịnh, ít người sánh kịp. Kính điền tự điền để lại cho thôn xóm thừa hưởng lâu dài, ý đồ ấy biết ông lấy trung hậu làm gốc,để răn dạy con cháu trong nhà, thừa hưởng phúc lộc của cha ông, công đức truyền dài lâu cho con cháu,dòng giống đời đời trung thực, cùng quốc gia chung hưởng phú quý,

cùng trời đất chung chữ cửu trường, tôi rất hâm mộ cái chí ấy của ông .

Nhuận Quận công Ngô Phúc Thiêm–Ngô gia Danh tướng (1628-1662)

Ngô Phúc Thiêm là con trai Tào Quận công Ngô Phúc Vạn, tuy sinh sau nhưng do bà Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Uyên sinh ra nên làm trưởng, sinh năm Mậu Thìn1628, mất năm Nhâm Dần 1662, mộ táng trên đồi Nghèn, nay vẫn còn. Sau khi mất nhân dân làng Nghiện Hùng xã Trảo Nha thờ làm Phúc thần. Sắc phong Dực bảo Trung hưng Trung đẳng Tôn thần.

Hai tuổi, mẹ là Quận chúa Ngọc Uyên từ trần,năm Mậu Dần 1638 được Thanh Đô Vương Trịnh Tráng đưa về nuôi trong Phủ Chúa, nhận làm con, đổi họ Trịnh (Trịnh Phúc Thiêm, Quận chúa Ngọc Uyên là em ruột Chúa Trịnh Tráng).Năm13 tuổi phong Nham Quận công (Vụ chiêu hàng Hiền Quận công Nguyễn Khắc Tôn năm 1642), năm 15 tuổi thi trận pháp đỗ đầu võ sinh cả nước, được thưởng 250 lạng bạc.Có công dẹp nội biến Trịnh Thung, công đi theo đánh Mạc ở Cao Bằng được thăng Đề đốc Phủ Đề đốc(1645).Năm 1646 Chúa gả Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Mầu (có bản ghi là Ngọc Mai)trở thành Phò mã, cho rất nhiều của hồi môn không Phò mã nào sánh kịp.Được vài năm (1649)vì say mê người thiếp Lê Thị Điều (hơn ông 10 tuổi) nên viết Khải xin trả Quận chúa, Khải có câu “Đạn dĩ cầm sắt bất điều khất phụng tiến nạp-Nhưng vì vợ chồng không hòa hợp,cúi xin dâng nạp…”.Chúa sai quân đến nhà thu hồi của hồi môn, nhà cửa sạch không. Lại thu hồi cả quan tước. Tào Quận công đang ở trấn Nghệ bị triệu về kinh chờ lệnh. Tiếp theo đó bị vu oan tư thông Cung phi, bị thu hồi họ Trịnh,tước bỏ họ Ngô bắt đổi làm họ Phạm,tước quyền thừa hưởng hương hoả họ Ngô.(Vụ án kéo dài hơn 10 năm, phả cũ không nói có bị tù đày hay không, do vụ này cho nên Việt Nam thực lục nhà Nguyễn chép là Phạm Phúc Thiêm).

Lúc thiếu thời Trịnh Phúc Thiêm sống trong Phủ Chúa,ngày thường cùng Thế tử Trịnh Tạc tập luyện võ nghệ, Chúa thường lên lầu ngồi xem, các cung phi cũng ngồi xem sau rèm.Có lần thi bắn cung,Phúc Thiêm bắn rơi áo bào,được mọi người vỗ tay tán dương nhiệt liệT. Đã là một phong lưu công tử hình dong tuấn tú,mặt mũi khôi ngô, mình mặc cẩm bào, cưỡi ngựa đeo cung, càng phấn chấn càng hồng hào, càng tăng vẻ đẹp, một vài cung phi không cầm lòng được, biên thơ bỏ túi gấm gửi cho ông, không ngày nào không có thơ. Ông quá lo sợ, tìm mọi cách chấm dứt.

Về sau ông có thuê hoạ sỹ vẽ bức tranh phong cảnh quê hương, ai xem cũng khen đẹp.Có bà cung phi nọ nghe nói, sai cung nữ ra nhà mượn về cung xem,không dè Thị nữ mang tranh vào cung bị Thái giám phát hiện bức tranh.Vốn sẵn có hiềm khích,Thái giám này giữ lấy bức tranh chờ có dịp sẽ trả thù.

Từ ngày lấy Quận chúa Ngọc Mầu vợ chồng vốn không hoà hợp,do được Quận chúa hết lòng chiều chuộng nên chưa xẩy ra việc gì có tai tiếng ra ngoài. Không lâu ông yêu bà Lê Thị Điều, nhận làm thiếp, tình vợ chồng với Quận chúa càng phai nhạt, dẫn đến ly hôn.

Lê Thị Điều là cháu họ bà cụ Lê Thị Đệ,bà cụ đưa về nuôi trong nhà từ khi còn bé, hơn Ngô Phúc Thiêm 10 tuổi. Lớn lên Lê Thị Điều có sắc đẹp nguyệt thẹn hoa nhường, trong xóm có người tên là Thiết Sơn xin cưới làm vợ, bà cụ thấy Thiêt Sơn tính khí ngang tàng, không gả.Thiết Sơn dùng trăm phương ngàn kế chiếm cho kỳ được người đẹp, từ đốt phá chuồng trại giết hại gia súc đến doạ dẫm bắt cóc. Sợ sinh nhiều chuyện rắc rối, bà cụ bèn cho xuống thuyền tìm ra ở với Tào Quận công, để kiếm được người chồng khá. Đang đêm xuống thuyền tránh mắt Thiết Sơn. Thuyền đi suốt đêm, rạng ngày đã thấy Thiết Sơn ghìm ngựa trên bờ thét bảo: “ Chúng mày đưa tiểu thư đi đâu, phải đưa trở về ngay, không đừng có hối”và bắn luôn một phát súng hoả mai vào bánh lái thuyền. Người trong thuyền đều sợ phải quay về trình báo với bà cụ,bất đắc dĩ bà cụ phải gả cho Thiết Sơn. Không được bao lâu vì tính hung hãn, Thiết Sơn bị bắt, trong lúc đang lấy cung Thiết Sơn cướp đao chém vào mặt quan Hiến sát rồi bỏ chạy vào Thuận Hóa bặt không tin tức. Lê Thị Điều lấy chồng khác, sinh một con,ông nhận làm thiếp sau khi người chồng đã chết. Tào Quận công ghét thói yêu kiều,sợ sinh chuyện rắc rối,sai Vinh khánh Hầu tìm cách giết đi. Ngô Phúc Thiêm biết, sai Thịnh lộc Hầu đưa xuống thuyền lánh đi xa.Không lâu đang đêm Vinh khánh Hầu bị hại.Lê Thị Điều sống đến già ở quê ,tục gọi bà Thượng.

Ông bị biếm chưa lâu, dậu đổ bìm leo, trong cung phát hiện bức tranh quê hương, ông bị khép tội “Tư thông”, mất họ Ngô, mất quyền thừa hưởng hương hoả .Tào Quận công từ trần, hương hoả trao cho con trai thứ hai là Hàn Quận công Ngô Phúc Đang.

Năm 1655, Nguyễn Phúc Cảnh con Thái uý Đoan Quốc công Nguyễn Phúc Nguyên, cháu Thái uý Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng, thống lĩnh các tướng Hùng Quận công,Nhuệ Quận công, Thuận nghĩa Hầu, Chiêu võ Hầu đánh ra trấn Nghệ An, khí thế thực mạnh.Tướng Trịnh trấn thủ châu Bố Chính Phạm Thế Dận đầu hàng, Lê Hữu Đức thua ở Hoành Sơn, chạy về xã Hà Trung hợp quân với trấn thủ Nghệ An Lê Hiểu lui cả về Đại Nài (gần Thị xã Hà Tĩnh ngày nay). Chúa Trịnh Tráng sai Khê Quận công Trịnh Trượng vào thay Thống lĩnh,rút cả bọn Lê Hiểu về.Trịnh Trượng vào thay,quân Chúa Nguyễn rút lui về sông Gianh.Tiến quân đến Kỳ Hoa, Trịnh Trượng sợ quân Nguyễn có mưu kế gì, dừng đóng quân lại ở Lạc Xuyên (Cẩm Xuyên, cũng gọi là Gio Lạc, nay là Cẩm Lạc), cho 500 quân vào đóng chốt ở Hà Trung.Thuỷ quân đóng ở Kỳ La (cửa Nhượng).Thuận nghĩa Hầu Nguyễn Hữu Dật và Tống Phúc Hoàng đem thuỷ quân ra đánh bại thuỷ quân Trịnh ở Kỳ La, đuổi đến Cửa Sót. Chiêu võ Hầu Nguyẽn Hữu Tiến dẫn bộ binh ra đánh Trịnh Trượng ở Gio Lạc,Trịnh Trượng đại bại, rút quân chạy thẳng về Yên Trường (xã Yên Trường thuộc huyện Chân Lộc,nay là Vinh Bến Thuỷ).

Trịnh Tráng giáng chức Trịnh Trượng, sai Thế tử Trịnh Tạc vào thay thống lĩnh.Trịnh Tạc đến, quân Nguyễn lui về Hà Trung.

Tháng 10 năm ấy Trịnh Tráng đau nặng,Trịnh Tạc phải về Thăng Long, con út Trịnh Tráng là Vinh Quận công Trịnh Toàn vào thay Thống lĩnh.

Trịnh Toàn thúc quân vào Thạch Hà, thuỷ quân đóng ở Cửa Sót, bộ binh đóng ở Hương Bộc và Đại Nài.Nguyễn Hữu Dật đánh bại thuỷ quân Trịnh ở Cửa Sót đuổi đến cửa Hội.Thuỷ quân thua chạy,Trịnh Toàn bỏ Đại Nài lui về đóng ở Bến Hoạt (Đò Điệm). Quân Trịnh vừa rút khỏi Đại Nài, quân Nguyễn tổ chức bao vây quân Đào Quang Nhiêu ở Hương Bộc,Trịnh Toàn đem quân vào cứu, gặp quân Nguyễn ở Đại Nài đánh nhau, quân Nguyễn thua chạy vào Hà Trung,Trịnh Toàn đuổi theo đến Tam Lộng, quân Nguyễn phản công,Trịnh Toàn lại thua to phải rút tất cả quân về Yên Trường. Từ đó (1656), quân Chúa Nguyễn chiếm đóng phần đất trấn Nghệ An từ bờ nam sông Lam trở vào, đêm ngày khói lửa không tắt, lực lượng quân Nguyễn ngày càng mạnh,uy hiếp bờ bắc sông Lam.

Năm 1657, Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc lên thay ngôi Chúa, sợ rằng để người em có tài ở đất Nghệ An dễ sinh biến, bèn sai con là Thế tử Trịnh Căn vào thay Thống lĩnh, gọi Trịnh Toàn về Thăng Long, khiển trách về tội không về chịu tang cha,Trịnh Toàn bị hạ ngục rồi chết trong ngục. Thời Trịnh Toàn Thống lĩnh các đạo quân chống quân Nguyễn, Lý hải Hầu Ngô Sỹ Vinh người họ Ngô Lý Trai Đông Thành làm Đốc đồng, vào hàng bạn thân với Trịnh Toàn, cho nên khi Trịnh Toàn bị hại, Ngô Sỹ Vinh cũng bị hiềm nghi.Cũng trong thời kỳ này, quân Chúa Nguyễn đánh ra đến bờ nam sông Lam, vùng thượng du Nghệ An giặc cướp nổi lên nhiều, đất Bồn Man cũng không yên, Trịnh Toàn đề cử Toàn nghĩa Hầu Ngô Quang Lộc người họ Ngô Bách Tính Nam Chân, vốn là bạn thân, đem quân đánh dẹp và phủ dụ các cuộc nổi dậy ở biên giới phía tây Nghệ An. Một thời gian ngắn Ngô Quang Lộc trấn an được tây

biên,Chúa Trịnh tặng 4 chữ “Tây biên thạch thành” –“Thành đá phía tây”.Tuy thế khi Trịnh Toàn bị hại, vì là bạn thân nên vẫn bị Chúa hiềm nghi, Ngô Quang Lộc bèn lấy cớ bệnh tật xin về quê nghỉ dưỡng bệnh.

Vào làm Thống lĩnh, Trịnh Căn chia quân làm ba đạo vượt sông tiến công vào quân Chúa Nguyễn. Ba tướng Lê Hiến,Trịnh Thế Long, Hoàng Nghĩa Giao chỉ huy ba đạo ,đều bị đánh lui.Đạo quân của Lê Hiến vượt sông ở bến Lách,vừa đổ bộ xong liền bị quân Nguyễn bao vây,Trịnh Căn đứng trên Núi Quyết trông thấy, phải cho quân sang tiếp cứu mới thoát về được.

Đạo quân của Hoàng Nghĩa Giao theo đường ven biển vào đến rú Bầng,đánh nhau với quân Chiêu võ Hầu Nguyên Hữu Tiến,có lần Trung phục Hầu,con trai Hoàng Nghĩa Giao 22 tuổi người Kim Động dẫn 500 quân xuất trận. Chiêu võ Hầu trông thấy tướng trẻ tuổi, lanh lợi, đội ngũ chỉnh tề liền hỏi họ tên. Trung phục Hầu mạo xưng danh là Nham Quận công Ngô Phúc Thiêm. Quân Nguyễn lúc bấy giờ đa số mới được bổ sung người “Thất huyện”

(7 huyện thuộc trấn Nghệ An) vốn đã biết uy danh Nham Quận công, mới nghe xưng danh, đã hoảng sợ quẳng gươm giáo mà chạy, hàng ngũ rối loạn, Trung phục Hầu xua quân đánh giết thắng một trận to.

Đang bị biếm ở Kinh đô, nghe được câu chuyện trên, Phạm Phúc Thiêm nói với mọi người rằng : “Đã là tướng cầm quân ra trận,phải có bản lĩnh, sao cái anh này lại đi mượn tên tôi để doạ địch, khi gặp tôi sẽ quật cho một trận”. Đến tai Chúa, Chúa gọi vào bảo: “Tên này ương ngạnh mãi không chừa, tướng kia không giỏi lắm, mượn tên mày phá giặc, phỏng mày có tổn hại gì !” Từ đó cũng bớt hung hăng.

Từ năm 1657, quân hai bên giữ nhau hai bên bờ sông Lam, thỉnh thoảng đánh nhau vài trận nhỏ.Quân Nguyễn ngày càng mạnh, Chúa Nguyễn di chuyển hành dinh ra đất Bố Chính để gần mặt trận hơn làm hậu thuẫn chuẩn bị tiến quân. Chúa Trịnh Tạc ngày đêm lo lắng, chợt nhớ lại câu nói ngày trước của Phó tướng Tào Quận công, nghĩ lại, tha tội cho Phạm Phúc Thiêm, điều vào Nghệ An cầm quân dưới trướng Tô quốc Doanh Trịnh Căn. Trịnh Căn giao cho đem quân đóng ở Chân Lộc đắp luỹ chống giặc. Phạm Phúc Thiêm nhiều lần dẫn khinh binh qua sông đánh thăm dò quân Nguyễn,thắng nhiều trận nhỏ.Khi đã nắm vững địch tình, bèn huy động lực lượng lớn bộ binh voi ngựa,bất thần vượt sông đánh thốc vào hai đạo quân Nguyễn do Hùng Quận công và Nhuệ Quận công chỉ huy đóng ở núi Ngưu Sơn (huyện Nghi Xuân), trận đánh diễn ra ác liệt nửa ngày, cả hai đạo quân Nguyễn bị đanh tan.

Thừa thắng men theo bờ sông, sườn núi,ông cấp tốc tiến quân đánh vào quân thuỷ bộ của Nguyễn Hữu Yến và Nguyễn Hữu Dật đóng ở Mại Sơn (rú Bấn thuộc huyện Thiên Lộc, cách Ngưu Sơn khoảng 12 km dọc bờ sông Lách). Bất ngờ bị tấn công như vũ bão,cả hai đạo quân Nguyễn chống đỡ không nổi, hỗn loạn rút chạy.Thừa thắng, đại quân Trịnh truy đuổi mãi đến bờ sông Nhật Lễ thu phục toàn bộ đất đai đã từng bị chiếm đóng trên 6 năm.Sau chiến thắng, triều đình luận công, Phạm Phúc Thiêm có công đầu, được phục hồi chức tước, thăng Đô đốc Nhuận Quận công.Liền sau đó có chỉ xuống cho phục hồi họ Ngô, trả lại quyền thừa kế hương hoả,đóng quân ở huyện nhà,trấn giữ phía nam, mọi việc trong huyện được tiện nghi hành sự.

Một năm sau ông nhiễm bệnh từ trần. Phả cũ chép ông mặt mũi khôi ngô, có sức khoẻ hơn người, võ nghệ siêu quần, giỏi về binh thư trận pháp, lâm trận biến hoá như thần, đã đánh là thắng, được mệnh danh là “Ngô gia Danh tưóng”.

Một Nhà Trung Liệt ,Thu Lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn(1720-1786)

Tiết Liệt Phu Nhân Phan Thị Thuấn

Thu lĩnh Hầu Ngô Cảnh Hoàn là con trai Cảnh Quận công, cháu Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ,dòng Ngô Nước Trảo Nha. Bà Phan Thị Thuấn là con gái họ Phan làng Nha Kỳ xã Trảo Nha, là vợ thứ ba Thu lĩnh Hầu. Hai ông bà mất năm 1786 ở sông Thúy Ái (đoạn sông Hồng ở địa phận làng Thúy Ái,nay là phường Thúy Ái quận Hai Bà Trưng Hà Nội), bà mất vào độ tuổi 20, chưa có con, không rõ ngày sinh.

Những năm cuối thời Lê trung hưng,anh em họ Trịnh xâu xé nhau tranh dành quyền bính, kiêu binh náo loạn kinh thành, kỷ cương đổ nát. Nguyễn Huệ được Nguyễn Hữu Chỉnh gợi ý, dẫn đường kéo quân ra bắc, nhanh chóng tiến chiếm được đến Vỵ Hoàng (Nam Định) như vào chổ không người, ngược dòng sông Hồng Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long. Chúa Trịnh Khải huy động toàn bộ lực lượng bày trận ở bến Tây Luông để chống đỡ, Đại tướng Hoàng Phùng Cơ cầm Tiền đội bộ binh vài ngàn người đóng ở hồ Vạn Xuân, thuỷ quân do Quản Tiền Trạch đội Ngô Cảnh Hoàn và Quản Hậu Trạch đội Phan Trọng Yêm chỉ huy, dàn chiến thuyền ở bến Thúy Ái để ngăn chặn chiến thuyền Nguyên Huệ. Ra quân lần này bạn bè có người khuyên: “Chuyến này không nên đi,đi tất gặp chuyện rủi ro !” Ngô Cảnh Hoàn cười nói:”Làm tường có lệnh là đi,giặc đến là đánh, thắng bại sống chết là sự thường” .

Chiến thuyền Tây Sơn được gió ào ạt tiến đến, Ngô Cảnh Hoàn cầm giáo đứng chỉ huy chiến đấu, chưa được vài khắc bất ngờ trúng đạn súng lớn, ngã xuống sông chết. Chiến thuyền quân Trịnh bị hoả lực mạnh của quân Tây Sơn bắn chìm nhiều, thuyền đội Trung trạch chìm gần hết, Phan Trọng Yêm cũng tử trận, thuỷ quân tan. Quân Tây Sơn bỏ thuyền lên bộ đánh thẳng vào đội quân Hoàng Phùng Cơ.Bộ tướng Mai Thế Pháp phóng ngựa ra chặn đánh, chém được mươi người, bị bức bách quá phải nhảy xuống sông, binh lính sợ, chạy tứ tung ra bốn phía. Hoàng Phùng Cơ còn độ 700 quân, dựa vào voi, vừa đánh vừa lùi, 6 trong 8 con trai Hoàng Phùng Cơ tham chiến bị tử trận.

Chúa Trịnh Khải chỉ huy ở Tây Luông thua to,phải bỏ áo giáp thay khăn chữ “đinh” vào đầu,quay voi chạy ra cửa ô Yên Phụ,quân Nguyễn Huệ làm chủ kinh thành Thăng Long. Nguyễn Huệ ở lại một thời gian,củng cố triều đình vua Lê, lập Chiêu Thống làm vua,tháng 8 rút quân về Thuận Hóa.

Được tin Thu lĩnh Hầu tử trận, cả nhà chịu tang, riêng bà Phan Thị Thuấn vẫn mặc đào đỏ phấn son trang điểm như thường ngày, trong họ nhiều người chê trách, bà vẫn thản nhiên.Đến kỳ chung thất,bà đón nhà sư đến ngôi chùa ở Kinh Bắc lập đàn làm chay siêu độ cho linh hồn ông 7 ngày đêm.Chay đàn xong bà thông báo trong họ hàng bầu bạn là bà sẽ tuẫn tiết theo chồng,trong họ còn có người hòai nghi chưa tin.Đúng ngày bách nhật,bà ăn mặc chỉnh tề cùng bà con trong họ và bầu bạn từ dinh Cầu Mọc đi đến bến Thúy Ái,ở đó mọi nghi thức đã chuẩn bị sẵn sàng, lại có ba chiếc thuyền con ở bến. Bà chào từ giã bà con họ hàng, bước lên đàn đốt hương khấn nguyện Thiên địa quỷ thần Diêm vương Hà bá, đọc lời nguyền chép sẵn,có đoạn: “Chàng chết vì nước,thiếp chết theo chàng, để cho thân thiếp được trôi bên thân chàng,…Sau khi thiếp chết, ai mà vớt thi hài thiếp thì thân người ấy cũng sẽ như thân thiếp …”.

Khấn nguyền xong đốt cáo văn, bà một lần nữa vái chào vĩnh biệt bà con bạn bầu, ung dung bước xuống thuyền chèo ra giữa dòng sông, gieo mình xuống nước, thân mình trôi ngược dòng hơn mười trượng mới chết, mọi người thương cảm đều rơi nước mắt.

Trâm ngọc Hầu (con trai đầu Thu lĩnh Hầu) vớt thi hài Bà mai táng trên bờ sông.

Trâm ngọc Hầu về thu xếp cho cả gia quyến về lánh ở trấn Sơn Tây, cùng vài người bạn chiến đấu đến Sơn Nam hạ tập hợp lực lượng đánh báo thù.

Sau một thời gian,trận đánh không ngang sức diễn ra trên mặt sông Hồng, bị quân Tây Sơn tiêu diệT. (Trận đánh báo thù diễn ra vào thời gian Ngô Văn Sở làm Tổng trấn Bắc thành, thân cầm quân đi đánh dẹp).Đương thời người ta nói rằng đó là ứng nghiệm của lời nguyền trước đó của bà Phan Thị Thuấn.

Khỏang năm Chiêu Thống truy xét đến những người tiết nghĩa, Bà và Thu lĩnh Hầu đều được dự phong, Bà được phong “Liệt nữ Phu nhân”.

Triều đình còn hạ lệnh cho dân sở tại lập đền thờ Bà tại thôn Thúy Lĩnh,xã Lĩnh Nam,

huyện Thanh Trì Hà Nội. Họ Ngô ở Trảo Nha chiêu hồn mai táng hai ông bà trên núi Nghèn, làng Tập Phúc cũng lập đền thờ cả hai ông bà và Trâm ngọc Hầu.

Năm Tự Đức thứ 12 (1859) được ban cho chữ:”Lê triều tiết liệt phu nhân Phan thị chi từ”(Đền thờ Phan Thị ,người đàn bà tiết liệt triều nhà Lê),dựng bia ở phía đông đền.Sắc phong Thượng đẳng Tôn thần và ban biển vàng đề 4 chữ “Trung liệt nhất gia”,từ đó cả hai đền đều được gọi là “Đền Trung liệt”.

Đại Tư Đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương ( 1710- 1804)

Tên làm quan là Phương,huý là Túc,thuỵ là Quang Diệu (trong hai đạo sắc phong, một đạo phong tước Phương kỳ Hầu,một đạo phong Tự phu nhân cho bà vợ đã chết Vũ Thị Liên, ghi là Trịnh Trinh,như vậy có thể lúc đó ông được nhà chúa cho lấy họ Trịnh, và có tên là Trinh,nhưng phả ký thì không ghi chép tên này).

Ông là con trai Lãng phương Hầu Ngô Phúc Chánh, huyền tôn Ngô Phúc Vạn (chi 5) .Sinh ra có dị tướng, miệng rộng đút lọt nắm tay, có 36 cái răng, tài kiêm văn võ, 20 tuổi ra quản quân, 30 tuổi đỗ Tạo sỹ (Tiến sỹ võ), làm tướng đến chức Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự Đại tư đồ Hoành Quận công.

Ngô Phúc Phương 20 tuổi lấy bà Vũ Thị Liên người làng Hà Hoàng huyện Thạch Hà, sau 9 năm bà chết không có con. Ông lấy bà họ Trương người Gia Lâm, đã sinh con trai con gái. Lúc bấy giờ có Phương Huệ Quận chúa con gái thứ 8 Chúa Trịnh Cương do bà phi Chiêu Nghi sinh ra. Bà Chiêu Nghi là em gái Phan Huy Cẩn cô ruột Phan Huy Ích vốn người làng Canh Hoạch huyện Thiên Lộc. Phương Huệ Quận chúa đã có chồng là Chất vũ Hầu họ Trương ở Gia Lâm, đã sinh con trai Trương Yên. Chất vũ Hầu mất, Phương Huệ bị goá bụa vào tuổi 20, còn trẻ đẹp, bà Chiêu Nghi thương con gái còn ít tuổi goá chồng, lấy cớ Ngô Phúc Phương là người đồng hương Thiên Lộc, xin phép Thái phi (vợ Chánh thất Trịnh Cương người làng Linh Đường, thuộc Thanh Trì ngày nay) gọi gã cho làm Phò mã. Bà Chiêu Nghi lại xin Chúa cho Cung Ninh Sơn làm của hồi môn, ông bà về đó ở (Cung Ninh Sơn ở trên núi Ninh huyện Chương Mỹ do Chúa Trịnh Cương dựng lên làm nơi đi du ngoạn, nay là từ đường họ Ngô Ninh Sơn ). Quận chúa về làm vợ Chính thất, bà họ Trương ra ở chùa (chùa Thấp cũng trên núi Ninh) 47 tuổi thì từ trần. Khi ông bà về ở Ninh Sơn, đất đai còn hoang vu nhiều,bèn chiêu dân lập ấp thành hai xã Ninh Sơn và Chúc Lý.

Có tài lại là Phò mã, một thời bước công danh thuận lợi, nhiều lần đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy như Lê Duy Mật ở Kinh Bắc, Ngân Già ở Sơn Nam,giặc cướp ở Chương Đức, Chương Mỹ, Yên Trường v.v… Năm 1768 Phương Huệ Quận chúa từ trần được phong Ôn Dung Công chúa. Thái phi triệu ông vào bảo: “Nay Quận chúa đã từ trần, khanh thì phụng sự tại kinh, nhà cửa ở Ninh Sơn bỏ không,ta theo nguyên giá hoàn lại khanh nghĩ sao?” .Ông rập đầu nói :”Thần đội ơn Thánh mẫu, xin đem nộp lại”.

Thánh mẫu liền cho chở về Linh Đường, dựng lên làm Từ đường họ Thánh mẫu, lại đánh giá lòng trung thành của ông, đem việc kể với chúa.Chúa triệu ông vào khen lòng trung thành và hứa sẽ cho con trai ông ra Quản quân. Ông rập đầu khải:”Thần đội ơn Thái phi, con trai thần còn bé .Trộm nghĩ Quận chúa chết sớm,Trương Yên cô đơn, thần xin nhường”.Chúa càng khen lòng trung thành, cho Trương Yên quản Mã Hậu đội.

Ông có con gái đầu lòng lấy Dương Khuông, Dương Khuông có chị gái lấy Phổ Quận công chú ông, lại có chị gái là Dương Thị Hoan lấy Trịnh Sâm sinh ra Trịnh Tông, khi Trịnh Tông ở ngôi Thế tử rất tin dùng ông.Trịnh Sâm rất ghét Trịnh Tông nên ông cũng bị ghét lây.

Lúc bấy giờ trong cung vua, sau khi Thái Tử Lê Duy Vỹ bị giết,vua Hiển Tôn an phận bù nhìn. Bên Phủ Chúa,Trịnh Sâm là một chúa có tài kiêm văn võ,thông minh lanh lợi, gặp lúc trong nước có nhiều người tài,khéo tập hợp lại tổ chức thành lực lượng mạnh,đàn áp được các cuộc nổi dậy đã kéo dài nhiều năm, lại đánh thắng quân Nguyễn dành được đất Thuận Quảng. Nhưng Trịnh Sâm cũng rất kiêu căng, xa xỉ, hiếu sắc hay thiên ái, ngày càng kiêu ngạo sa đoạ, lòng người phân tán, nội bộ lục đục. Người tài thì có nhiều,nhưng mỗi người một ý,mỗi người một cách không ai chịu ai, không ai nghe ai,dè dặt không nói không bàn,số đông văn quan tuy bề ngoài thì phải theo Chúa, nhưng trong bụng thì không phục,vì Chúa quá chèn ép vua Lê, đối với việc phế trưởng lập thứ, Chúa muốn làm gì thì làm, không ai quan tâm lắm.

Hòang Ngũ Phúc đang được tin dùng, có con nuôi là Hoàng Bỉnh Khiêm,có tên là Hoàng Đăng Bảo, cả hai đều tuổi hợi(tuổi lợn), cha con Chúa Trịnh thì đều tuổi mùi (tuổi dê), người ta bày ra chuyện sấm ký “Thảo nhất điền bát”(chữ Hoàng), “Lưỡng thỉ trục quần dương “(hai lợn đuổi bầy dê) ,Đăng Bảo”có nghĩa là lên ngôi báu”, rồi qua câu sấm người ta nói cha con họ Hoàng sẽ cướp ngôi Chúa. Lo sợ dư luận, Hòang Ngũ Phúc bảo con nuôi đổi tên là Hoàng Tố Lý. Sau ngày đi bình Nam về,Hoàng Tố Lý làm Trấn thủ Nghệ An, sắp xếp lại trấn nha, người ta lại đồn ầm lên rằng Tố Lý chuẩn bị tổ chức chống triều đình.Trong Phủ Chúa, Trịnh Sâm bàn kín với một số cận thần tìm cách trừ sớm Tố Lý .Khi nói Nghệ An thì gọi là Thập thay chữ Nghệ để giữ bí mật,nhưng Hoàng Tố Lý cũng biết tin ấy, lo sợ quá dâng khải xin về triều, Trịnh Sâm cho về. Tố Lý ra sức chạy chọt để thoát tai vạ, nhờ người đem mấy mâm châu báu xin ra mắt Thế tử Trịnh Tông.Trịnh Tông nói: “Cái thứ loạn thần ấy nay mai ta sẽ tịch thu toàn bộ gia tài nó, lấy cái thứ này làm gì !”Tố Lý càng sợ ,thông qua vợ mình là Quận chúa, chạy sang nương tựa Đặng Thị Huệ lúc này là sủng phi của Trịnh Sâm.Đặng Thị Huệ cũng đang cần vây cánh để tranh dành quyền lực, thu nhận Tố Lý và hết sức cất nhắc với Trịnh Sâm.Trịnh Sâm vốn không muốn lập Trịnh Tông(tức Trịnh Khải) làm Thế tử,có ý chờ Đặng Thị Huệ sinh con trai.Thị Huệ mãi không đẻ.Khi Trịnh Tông đến tuổi (Theo thể lệ nhà Chúa con trưởng đến 13 tuổi cho ra ở phủ riêng và lập làm Thế tử),Trịnh Sâm phải lập Trịnh Tông làm Thế tử nhưng không cho ra ở phủ riêng. Sau một thời gian, Đặng Thị Huệ sinh Trịnh Cán, Tông bị khép tội lười học, giáng làm Quý tử (con út), Cán mới 2 tuổi được lập làm Thế tử.Trịnh Tông bị giam lỏng.

Trịnh Sâm do ăn chơi sa đoạ sinh bệnh mãn tính, thường hay lên cơn, năm Canh tý 1780 lên cơn nặng tưởng chếT.Trịnh Tông liên lạc được với một số đại thần trong triều, ngoài trấn như Nguyễn Lễ Trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Khắc Tuân Trấn thủ Kinh Bắc, v.v… bàn mưu khi Trịnh Sâm chết thì kéo quân về phế bỏ Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm Chúa.

Hà Như Sơn một tên đầy tớ nhỏ vốn là học trò Ngô Thì Nhiệm,hiện làm người giữ sách cho Trịnh Khải,biết được việc này,đem nói với Ngô Thì Nhiệm và Nguyễn Huy Bá người đang làm Cấp sự trung.Hai người mật báo cho Trịnh Sâm khi đó đã khỏi bệnh mọi chi tiết việc Trịnh Tông âm mưu phế lập.Trịnh Tông bị tống ngục, hơn chục đại thần bị chém đầu hoặc cho uống thuốc độc chết, trong số này có Nguyễn Khắc Tuân là cậu Trịnh Sâm, Phổ Quận công (họ Ngô,chú Hoành Quận công Ngô Phúc Phương,có bà vợ là chị ruột Dương Thị Hoan mẹ Trịnh Tông),Ngô Phúc Phương bị khép tội liên quan giáng hai cấp xuống Quản Hậu trạch trụ đội.Vụ này Trịnh Sâm giao cho Ngô Thì Nhiệm xử,có bà Bảo mẫu Trịnh Tông đã chạy trốn về Sơn Tây với chồng còn bị bắt đưa về Thăng Long xử hình phạt “Tứ mã phanh thây”(bốn ngựa xé xác) .Ngô Thì Nhiệm được Trịnh Sâm tin cậy,thăng luôn ba cấp,đang từ hàm Lục phẩm lên chức Tả Thị lang hàng Tam phẩm, vào làm việc trong Phủ Chúa.

Liền mấy năm gần đó Trịnh Sâm đau yếu luôn, sợ gió, sợ ánh sáng phải nằm trong thâm cung,đèn nến suốt ngày đêm, mọi việc triều đình hầu hết do Hoàng Tố Lý và Đặng Thị Huệ quyết định, các quan đại thần thân quý hàng năm chỉ gặp mặt Chúa một lần, các quan văn võ không được thấy mặt Chúa,Thái phi đến thăm cũng chỉ được đứng ngoài cửa thăm hỏi qua người hầu cận,ngăn cách ngày càng thậm tệ, người ta nói “Việc nhà chúa như việc Thiên Tào”.Những ngày cuối đời Trịnh Sâm phong Đặng Thị Huệ làm Tuyên phi, uỷ thác việc lập thế tử Cán cho Hoàng Tố Lý và mấy đại thần về phe Thị Huệ. Lúc Chúa sắp chết, Thái phi mới được vào thăm gần giường bệnh,Thái phi muốn bảo Trịnh Sâm không nên bỏ con trưởng lập con thứ, nhưng vướng luôn luôn có mặt Tuyên phi nên không nói được.Trịnh Sâm lạy mẹ, xin nhận tội bất hiếu không phụng dưỡng được đến già.

Năm Nhâm Dần 1782 Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán lúc đó lên 5 tuổi được lập làm Điện Đô Vương, quyền hành nằm cả trong tay Hoàng Tố Lý và Đặng Thị Huệ ,hai người lại tư thông với nhau, dư luận trong ngoài xôn xao, nhiều ca dao chỉ trích châm biếm :

Đục cùn thì giữ lấy Tông, Dao đà long Cán còn mong nỗi gì!

Triều thần có mắt như mờ, Để cho Huy Quận vào sờ Chánh cung!

Hoàng Tố Lý sai quan Đề lĩnh Thành đem kéo và móc sắt treo ở các chợ trong thành đe doạ nếu ai còn dám bàn tán đến việc trong Phủ Chúa thì móc lưỡi ra cắt bỏ. Mâu thuẩn ngày càng sâu sắc, các quan trong triều không phục, đang bàn kế phế lập, thì Trịnh Tông đã liên kết với quân Tam phủ khởi sự.

Quân Tam phủ họp nhau ở Khán Sơn,ước hẹn với nhau khi nghe ba hồi trống hiệu, thì tất cả kéo nhau vào Phủ Chúa, phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm chúa. Ngày 20 tháng 10, nhân buổi lễ tuần Trịnh Sâm,có người đánh ba hồi trống hiệu, lính Tam phủ ào vào Phủ Chúa đông như kiến, Hoàng Tố Lý thét quân Binh bộ ra giải tán quân Tam phủ nhưng vô hiệu, Tố Lý nhảy lên voi ra quát tháo, quân lính xúm lại. Thế quả bất địch chúng,Tố Lý quay đầu voi chạy ra cổng sau, đến gần cổng bị quân lính lôi xuống voi, băm nát người như bùn,em là Hoàng Lương và cả quản tượng cùng bị hại.Quân lính một mặt công kênh Trịnh Tông vào lập làm Đoan nam Vương ,một mặt sục tìm Đặng Thị Huệ và phe cánh.Trịnh Cán được một nội giám đưa trốn trong nhà kho, sợ quá khóc to, nội giám lấy tay bịt miệng bảo khóc quân lính nghe sẽ vào giết chết. Đặng Thị Huệ ẩn kín trong phủ, cả ngày nhịn đói, đêm đến Thái phi mới đưa cho ít cơm ăn.Cùng trong đêm đó quân lính tìm được Trịnh Cán đưa ra ở nơi khác,về sau bị ốm bệnh rồi chết. Ngày hôm sau thì bắt giữ được Đặng Tuyên phi.Ngô Thì Nhiệm thì thoát được, chạy về quê vợ ở xã Bách Tính, mấy năm sau đến ngày Lê Chiêu Thống lên ngôi mới trở về làm quan.

Nguyễn Khản (tức Nguyễn Lễ )lên làm Tham tụng,chức Lại bộ Thượng thư.Ngô Phúc Phương được trọng dụng,giữ chức Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự, quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội, năm 1783 nhận thêm chức Nội điện mật sát kiêm chức Phụ dực nội điện, con trai là Ngô Phúc Trọng ra quản Tiên ưu đội. Năm 1784 Điện nhạc Hầu để thất thủ thành Sơn Tây,Ngô Phúc Phương được cử làm Thất cơ Chiêu thảo sứ đi Trấn thủ Sơn Tây đánh bắt được đầu sỏ Quận Quý thu phục Trấn thành. Năm 1785 đổi Trấn thủ trấn Hải Dương, cuối năm ấy về làm Quyền phủ sự trong Phủ Chúa.

Kiêu binh phá nhà.

Chính quyền họ Trịnh là một chính quyền trọng võ, tổ chức một đội quân mạnh và trung thành.Họ Trịnh dựa vào lính Thanh Nghệ đánh thắng họ Mạc,do đó lính Thanh Nghệ rất được ưu đãi.Được ưu đãi quá sinh kiêu căng,mỗi lúc có điều gì bất mãn thì chống lại quan triều đình, cho nên được người ta gọi là Kiêu binh, từ 6 vạn người khi ở Thanh Hóa, lên đến 12 vạn khi ở Thăng Long, chủ yếu vẫn là người Thanh Nghệ.Trịnh Cương xác định Thanh Hóa là căn cứ địa, Nghệ An là đất ứng nghĩa. Quân lấy ở ba phủ thuộc Thanh Hóa là quân tin cậy nhất, gọi là Quân Tam phủ, lấy làm quân Túc vệ tức Cấm binh. Lực lượng quân Thanh Nghệ đã đưa họ Trịnh lên đến uy quyền tột đỉnh “Bất đế bất bá quyền khuynh thiên hạ”, thì cũng chính lực luợng quân Thanh Nghệ đã làm lung lay đến gốc rễ và làm sụp đổ luôn cả cái chế độ độc tài của họ Trịnh .Năm 1764 Kiêu binh đã nổi lên giết Bồi tụng Nguyễn Quốc Trinh,phá nhà Tham tụng Nguyễn Công Trứ chỉ vì hai người này đã khuyên Chúa kìm chế Kiêu binh.Trong mỗi đội quân chọn người có biết chữ làm thư ký ghi chép sổ sách, gọi là Biện lại, quân lính chọn trong đám Biện lại người giỏi hơn cả làm Biện Trưởng cầm đầu.

Khi làm Phụ Dực nội điện Ngô Phúc Phương thường khuyên Chúa kiềm chế Kiêu binh,

Chúa chưa có chủ định, Kiêu binh biết ,tập họp lực lượng kéo đến phá nhà ông.

Ông biết ý, tìm lời lẽ thuyết phục, Kiêu binh giải tán tạm yên.Năm sau (giáp thìn-1784) Kiêu binh kéo nhau đi phá nhà Thượng thư Bộ lại Nguyễn Khản và nhà Điền nhạc Hầu (em Nguyễn Khản) .Khi về qua nhà ông,có người hô to :”Đại Tư đồ là bố vợ Quốc cậu, của cải của Quốc cậu gửi cả ở đây !” Mọi người huởng ứng hè nhau xông vào, phút chốc nhà cửa một viên ngói cũng không còn nguyên.Đang ở trong Phủ Chúa, được tin, ông hỏi người Biện trưởng:Quân Tam phủ cũng phò Chúa, tôi cũng phò Chúa, không có hiềm khích gì, sao lại có sự việc hôm nay ? Biện trưởng nói : Chúng tôi không có ý định này,không ngăn đoán được bộ ngũ, chúng tôi xin nhận lỗi và sẽ xin bồi thường thoả đáng. Ông nói “Thành sự bất thuyết, ký vãng bất cữu “.

Năm 1786 bính ngọ, quân Tây Sơn vào Thăng Long, Trịnh Khải thua chạy.Theo không được Trịnh Khải,Ngô Phúc Phương trở về Ninh Sơn. Lý Trần Quán đưa gửi Chúa vào nhà một người học trò là Nguyễn Trang (ở trấn Sơn Tây) nói dối là ông bạn Phan Lê Phiên. Qua thái độ đối xử giữa hai người, Nguyễn Trang đoán biết là Đoan nam Vương, bèn tra vấn Trịnh Khải. Biết là không dấu nổi tung tích, Trịnh Khải nói, ta là Đoan nam Vương đây, mày làm gì thì làm!Nguyễn Trang đang là Tổng đoàn, đóng cũi giải Chúa đi nạp cho quân Tây Sơn lãnh thưởng,với một câu tự an ủi :”Sợ thầy không bằng sợ giặc”.Đi đường Trịnh Khải xin nước uống, Nguyễn Trang trao cho bát nước, Trịnh Khải đập vỡ bát lấy mảnh rạch cổ tự sáT. Trang cướp mảnh bát, vết rạch chưa đủ sâu, Trịnh Khải lấy móng tay móc họng ra chết trong cũi.

Trang đưa xác chết đến nộp quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ đem bêu xác ngoài chợ trong thành Thăng Long vài ngày cho nhân dân đều biết, rồi cho mai táng theo nghi thức bậc Công. Lý Trần Quán ân hận vì mình không nắm được tâm địa học trò, nên phạm vào tội giết Chúa, bèn nhờ chủ nhà mua lễ vật tế lễ Trịnh Khải, lại nhờ mua sắm cổ quan tài, đào huyệt tự chôn sống mình để tự xử cái tội sai lầm đi đến giết Chúa. Chủ nhà can ngăn, Lý Trần Quán nói: Chí tôi đã quyết, nếu ông không giúp, tôi thiếu gì cách tự xử.Trước khi đậy nắp quan tài, Lý Trần Quán đọc câu đối sau đây dặn dò chủ nhà nhớ kỹ sau nói lại với cháu con ông:

Tam niên chi hiếu dĩ hoàn,

Thập phần chi trung vị tận.

(Lý Trần Quán :1735-1786 văn thân đời Lê mạt,Tiến sỹ khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27,năm 1766 đời Lê Hiển Tông-Đông các Đại học sỹ Thiêm sai Lại phiên,Hiệp trấn Sơn Tây, người Vân Canh huyện Từ Liêm,tổ tiên vốn họ Đặng,là hậu duệ Trần Cẩn, rồi đổi Lý Trần,đầu đời Chiêu Thống được tuyên dương Tiết nghĩa Công thần).

Đoan Nam Vương Trịnh Khải chết,Ngô Phúc Phương đi tìm được Trịnh Bồng đang ẩn náu trong một ngôi chùa ở trấn Sơn Tây, bèn liên lạc với Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây, Đinh Tích Nhưỡng ở Hải Dương mưu đồ khôi phục Thăng Long. Ông chia người đi vận động các huyện Yên Sơn, Mỹ Lương, Chương Đức tổ chức nghĩa quân, bỏ tiền của nhà ra cung ứng quân nhu, được hơn 5000 người, giao ước với Sơn Tây, Hải Dương chờ ngày khởi sự.

Tháng 8 quân Tây Sơn rút cả về Thuận Hóa, từ vùng Quảng Trị, ông đưa Trịnh Bồng về Thăng Long, cùng các cựu thần lập làm Án Đô Vương. Ông đứng ra thu xếp cung phủ, con cả Trọng võ Hầu quản Tả Bộ hiệu, Khoát võ Hầu quản Trung Trạch đội, Ngạn trung Hầu quản Khuông Trung đội, Thuần trung Hầu và Diễn võ Bá đều quản mỗi người một đội.Cùng lúc Dương Trọng Tế ủng hộ Trịnh Lệ từ Kinh Bắc về cũng định lập làm Chúa, hai bên xô xát vài trận, Dương Trọng Tế chạy sang với Trịnh Bồng, Trịnh Lệ rút lui. Tháng 10 Ngô Phúc Phương nhận nhiệm vụ tổ chức bố phòng phía nam, tháng 11 nhận thêm nhiệm vụ chỉ huy cơ Vệ binh phủ Ứng Thiên.

Được các tướng và các cựu thần ủng hộ, Án Đô Vương Trịnh Bồng lại chuyên quyền,

Vua Chiêu Thống trở lại bù nhìn như xưa, ngày đêm cùng một số cận thần bàn mưu dành lại quyền lực,mâu thuẩn giữa Vua và Chúa ngày thêm sâu sắc. Con thứ Ngô Phúc Phương là Thuần trung Hầu (con rể Trịnh Bồng) một sáng cùng vài thủ hạ ra đường gặp Dương Trọng Tế, Tế hỏi Phò mã đi đâu sớm thế ? Thuần trung Hầu đáp: Rảnh rỗi không có việc gì,đi săn vài con muông chơi thôi !Tế nói :Cọp ngồi sau lưng không lo, lại đi săn thỏ! Hỏi: Ông nói cọp nào ở đâu? Tế chỉ vào Hoàng cung nói: Đấy, cọp đấy, nếu cọp ấy còn, thì cái ngôi vị của bố vợ Hầu e rằng hỏng đó !

Thuần trung Hầu quay về chọn mấy tay võ sỹ đeo đao tiến thẳng vào cung vua Chiêu Thống. Vừa lúc Thạc Quận công Hoàng Phùng Cơ đi tuần bắt gặp,Quận Thạc thét hỏi :Thuần trung Hầu vào đây định làm gì, ai bảo, quay về ngay, không đừng có trách ! Sợ Quận Thạc mọi người vội cùng nhau quay về.

Ngày sau Hoàng Phùng Cơ bị Nguyễn Hữu Chỉnh bắt đưa ra chém, nhớ công ơn ấy Chiêu Thống can thiệp xin cho đuợc chết toàn thây.

Chiêu Thống gửi mật chỉ triệu Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra giúp trừ Chúa Trịnh,

Chỉnh hớn hở ra ngay. Chỉ đánh nhau mấy trận nhỏ,hai con trai Ngô Phúc Phương là Ngạn trung Hầu và Thuần trung Hầu tử trận, Hoàng Phùng Cơ trở về Sơn Tây,Ngô Phúc Phương về Ninh Sơn,Trịnh Bồng bỏ ghế chúa chạy.

Cuối năm mậu thân, Lê Chiêu Thống dẫn quân Thanh vào, triệu ông ra giúp.Ông lấy cớ tuổi già từ chối,chỉ một mình Trọng võ Hầu Ngô Phúc Trọng ra giúp, đến ngày Chiêu Thống chạy theo quân Thanh, Phúc Trọng trở về sinh sống ở Ninh Sơn.

Ngô Phúc Trọng sinh sau mấy người em, nhưng vì là con bà Quận chúa sinh ra,nên được làm con trưởng, bà họ Vũ con gái Quốc cậu Bỉnh trung Công Vũ Tất.

Thời còn trung niên, Hoành Quận công ở Kinh đô vùng Ngọc Hà, có Quốc cậu Bỉnh trung Công Vũ Tất, thực lộc ngàn chung, xe vài trăm cỗ, uy thế trong triều có một không hai,người ta tới lui xu phụ dựa dẫm rất nhiều. Gần vưòn nhà ông có người ở trại Ngọc Hà trồng và bán hoa, người này cũng là môn hạ Bỉnh trung Công,hàng ngày lấn đất lấn vườn nhiều lần, ông đã nhường nhịn nhiều, càng ngày càng lấn tới. Ghét thói ỷ thế cửa quyền xâm phạm tài sản người khác, ông sai gia nhân can thiệp. Lão hàng hoa kiện với Bỉnh trung Công, Bỉnh trung Công sai người gọi ông tới đối chấT.Ông bảo người đến gọi rằng :Anh kia, anh kia là phường ty tiện, sao lại được quan lớn coi trọng hơn tôi, ông không đến. Bỉnh trung Công nổi giận nói :Trong thiên hạ có ai dám chống lại ta, truyền lệnh chỉnh đốn voi đi phá nhà ông , môn hạ can gián mãi mới thôi.

Về sau Bỉnh trung Công biết ông là người có tài thao lược, kết thành bạn, rồi sau thành sui gia, con gái thứ hai của Bỉnh trung Công lấy con trưởng của ông Ngô Phúc Trọng .

Ngô Phúc Trọng cả hai ông bà đều từ trần ở Ninh Sơn và mộ phần cũng ở đó.Con cháu thì trở về quê cũ Trảo Nha,nay thành phái trưởng của chi 5, tộc trưởng là Ngô Xuân Diệu.

Ngô Xuân Diệu mất, không con kế tự, đến Ngô Xuân Huy thay trưởng.

Đại Tư Mã Chấn Quận công Ngô Văn Sở (Mất 1795)

Đại Tư mã Ngô Văn Sở danh tướng Tây Sơn, là dòng dõi Tào Quận công Ngô Phúc Vạn dòng Ngô Nước ở Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,thiên cư vào nam khoảng ba đời.Vào thời Nguyễn Tây Sơn đã nhiều lần đối chiếu gia phả thì đúng thế, nhưng sau vụ tai biến năm 1795 gia quyến thất tán mất liên lạc, nên đến nay chưa rõ con cháu ở đâu, còn tồn nghi, vì một vài dòng đã đổi sang họ khác.

Theo một vài tài liệu chưa đủ tin cậy, ông bố là Ngô Phúc Diễn, một võ quan của Chúa Nguyễn ở Đàng trong, ông nội là Ngô Mãnh giữ chức Đô Thống chế của Chúa Nguyễn,vì một nguỴên Nhân gì đó về nghỉ hưu sớm, ở nhà dạy võ. Ngô Văn Sở được truyền thụ võ nghệ từ nhỏ,ra công luyện tập trở thành một dũng tướng bách chiến bách thắng .

Về việc Ngô Văn Sở gia nhập phong trào Tây Sơn, có nhiều thuyết khác nhau, phả ký họ Ngô ở Vỵ Xuyên huyện Mỹ Lộc Nam Định chép: Ngô Văn Sở là tướng của Chúa Nguyễn, Chúa Nguyễn sai ra dụ Tây Sơn,ông không dụ Tây Sơn mà lại theo luôn Tây Sơn, nên sau này họ Ngô ở đó sợ Gia Long trả thù phải đổi thành họ Trần.

Có tài liệu nói Ngô Văn Sở về với Tây Sơn sau ngày Nguyễn Nhạc đã đánh chiếm Bình Định,năm 1773 được cử làm Chinh nam Đại tướng quân ,sau theo Nguyễn Huệ ra đánh chiếm Phú Xuân. Năm 1787 phái bộ Trần Công Xán, Ngô Nho từ Thăng Long vào Phú Xuân giao thiệp đòi lại đất Nghệ An,Ngô Văn Sở đề nghị giết cả hai, Nguyễn Huệ không chấp thuận, thả cho về bằng đường biển nhưng rồi lại cho người dìm thuyền cho chết đuối cả ở ngoài

khơi.

Sau khi đã giải quyết xong việc tranh chấp quyền lực với anh là Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đem quân ra Nghệ An hợp quân với Vũ Văn Nhậm đang trấn thủ ở đó, giao cho Vũ Văn Nhậm làm Tiết chế, kéo quân ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh.

Tháng 12 năm ấy, Ngô Văn Sở đánh tan quân Lê Duật Trấn thủ Thanh Hóa ở đất Cổ Lộng, vượt Tam Điệp đánh bại Nguyễn Như Thái là viện binh từ Thăng Long vào ở bến Nghè ,vượt sông Gián Khẩu đánh đuổi quân Nguyễn Hữu Du phải chạy về Bình Vọng hợp với quân của bố Nguyễn Hữu Chỉnh cùng nhau rút chạy về Thăng Long. Hoảng hốt quên cả thông báo cho vua Lê Chiêu Thống,cha con mang cả gia quyến vượt sông Hồng chạy đến núi Tam Tằng thì quân Ngô Văn Sở đuổi kịp,bao vây đánh, giết chết Nguyễn Hữu Du.Nguyễn Hữu Chỉnh một mình một ngựa chạy đến Yên Thế bị bắt sống đưa về Thăng Long. Chỉnh xin được gặp Vũ Văn Nhậm để cầu xin tha mạng, Nhậm vạch tội Chỉnh rồi sai xé xác,ứng với câu thơ “Vịnh cái pháo” của Chỉnh : “Càng kêu lắm càng tan xác lắm- Cuộc đời chỉ một tiếng mà thôi!’.

Vũ Văn Nhậm vốn là tướng của Chúa Nguyễn, quân Tây Sơn bắt được trong một trận đánh ở Gia Định năm 1786. Nguyễn Nhạc thấy Nhậm có tài, phong chức tước rồi lại gả con gái cho.Nhậm theo quân Tây Sơn đã lập được nhiều chiến công,sau khi chiếm được Thăng Long,sinh kiêu căng,tự ý lập Sùng nhượng Công Lê Duy Cẩn làm Giám quốc trông coi việc nước.

Nguyễn Huệ vốn không tin Vũ Văn Nhậm, nên khi trao cờ Tiết chế cho Vũ Văn Nhậm có dặn riêng Ngô Văn Sở rằng:“Nhậm là tướng có tài, nhưng ta chưa tin hắn, chuyến này ta cho hắn cầm trọng binh, chưa chắc đã không sinh biến, ta chỉ lo có hắn, chứ Bắc Hà có gì, các ngươi phải xem xét cẩn thận, có việc gì thì phải báo cho ta ngay”.Ở Thăng Long,Ngô Văn Sở khuyên Vũ Văn Nhậm :”Tôi xem mặt mũi Lê Duy Cẩn như vậy, sai khiến được ai, xem có thể lấy được thì lấy luôn đi,việc gì phải mượn một thằng cầu bơ cầu bất làm bù nhìn trông coi việc nước. Xưa nay thiên hạ đâu phải là của một nhà,ta đóng quân lâu trong thành không lẽ vì nó mà trông coi cho nó sao?” Vũ Văn Nhậm nói :”Ở Bắc Hà nhân dân vẫn nhớ nhà Lê,ta không thể không tạm thời theo nguyện vọng của mọi người.Các ông chỉ biết đánh khoẻ, việc ấy ta đã có chủ định”. Ngô Văn Sở lặng lẽ lui ra, nói với Phan Văn Lân: “Tiết chế khinh người quá lắm, thử xem từ ngày vào thành đến nay, ông ta đã làm được việc gì? Bắt dân đào hào đắp luỹ phò Lê Duy Cẩn, sắp sẵn cái mưu tranh dành với chúng ta. Hắn không lấy bài học Nguyễn Hữu Chỉnh làm răn, lại bắt chước Chỉnh,vậy thì cho hắn theo Nguyễn Hữu Chỉnh để làm gương cho người khác”. Bèn mật báo cho Nguyễn Huệ mọi hành vi của Nhậm.

Tiếp được mật báo, đã sẵn có mối nghi ngờ, Nguyễn Huệ liền đem binh mã ra Bắc, trong 10 ngày tới Thăng Long, đến nơi vào lúc canh tư, đi thẳng vào dinh Nhậm, sai võ sĩ giết ngay Nhậm tại chổ lúc đang ngủ, chỉ định Ngô Văn Sở làm Tổng trấn Bắc thành, để Lê Duy Cẩn làm Giám quốc trông coi việc tế tự vua Lê, gọi các cựu thần nhà Lê ra làm quan. Ổn định xong tổ chức, Nguyễn Huệ trở về Phú Xuân.

Mất Thăng Long, vua Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc, bị Trấn thủ Kinh Bắc Lê Cảnh Xước tước đoạt hết vàng bạc mang theo,lột cả áo bào nhà vua đang mặc trong người. Nhà vua chạy lên Bảo Lộc, rồi lại chạy về Chí Linh dựa vào lực lượng cần vương của Lê Ban và Trần Quang Châu. Ngô Văn Sở đưa quân đánh dẹp. Lê Ban, Trần Quang Châu rút quân ra đảo, nhà vua lại chạy vào Sơn Nam hạ dựa vào lực lượng cần vương của Trương Đăng Quỹ, Trương Đăng Thụ. Ngô Văn Sở thân cầm quân vào đánh tan các đạo quân cần vương ở Sơn Nam. Chiêu Thống lại chạy vào Biện Sơn,đến Thanh Hóa kêu gọi cựu thần ứng nghĩa cần vương.Các cựu thần nhà Lê ở Thanh Hóa nổi lên chống lại quân Tây Sơn đều bị dập tắt (Mấy chi họ Ngô ở Thanh Hóa bị tàn sát ,nặng nhất là họ Ngô ở xã Thị nh Mỹ huyện Thọ Xuân).Các đám cần vương còn lại lần lượt bị dẹp tan.Hết chổ cậy trông, Chiêu Thống trở về bắc,ẩn náu ở huyện Phượng Nhân, sai người đi cầu cứu với nhà Thanh bên Trung Quốc.

Được Lê Chiêu Thông cầu viện là cơ hội tốt cho nhà Thanh thực hiện bành trướng xuống phía Nam,mưu đồ tái chiếm Việt Nam.Vua Càn Long nhà Thanh sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sỹ Nghị thống lĩnh 20 vạn quân,chia làm ba đạo ào ạt tiến sang.Ngô Văn Sở được tin cấp báo,một mặt thảo điệp văn ký tên Lê Duy Cẩn gửi cho quân Thanh yêu cầu hoãn binh, một mặt họp các quan văn võ bàn kế chống giặc.Chưởng phủ sự Nguyễn Văn Dũng bàn:” Quân Thanh từ xa đến mỏi mệt,quân ta nhàn rỗi đang sung sức, bố trí mai phục nơi

hiểm yếu, quân Thanh đến đổ ra mà đánh lo gì không thắng”. Ngô Thì Nhiệm bàn : “Tình hình hiện nay quân nhà Lê đi trốn tránh khắp nơi,đâu đâu cũng có,nghe tin quân Thanh đến chúng nghển cổ ngóng trông,quân ta mai phục ở đâu , quân số nhiều hay ít, địa thế hiểm hay không, quân Thanh chưa biết,chúng báo cho quân Thanh biết, tương kế tựu kế quân Thanh sẽ bao vây bốn mặt, quân cơ bị lộ là tự mình hãm vào chổ chết, còn đánh được ai. Cho nên khéo mai phục thì thế nào cũng thắng, nhầm mai phục thì thế nào cũng thua. Trong phép dùng binh có đánh có giữ, bây giờ quân Thanh sang đây uy thế rất lớn, những kẻ làm nội ứng cho chúng lại phao tin thêm, làm náo động lòng người, quân ta có việc gì ra khỏi thành là bị chúng bắt giết,vã lại lính Bắc Hà được dịp này hay trốn,đưa hạng lính ấy đi đánh khác nào xua dê vào miệng cọp, không thua sao được. Còn muốn đóng cửa thành cố giữ thì lòng người đã không vững rồi,cái lo bên trong có thể xẩy ra, khác nào bắt con chạch bỏ vào giỏ cua vậy.Đánh không được, giữ cũng không xong, bất đắc dĩ có cách này,cho thuỷ quân thuận gió chở lương thực vào Biện Sơn mà đóng, cho bộ binh mở cờ gióng trống vào Tam Điệp mà giữ,thuỷ bộ thông nhau giữ lấy chổ hiểm cho vững thế thủ,sai người vào cấp báo với Chúa công, thử xem quân Thanh đến đối xử với vua Lê ra sao,sau khi phục quốc quân mưu quốc kế của Lê Chiêu Thống như thế nào, chờ Chúa công ra đánh cũng chưa muộn”.

Ngô Văn Sở thấy rằng trước mắt chưa đương được với quân Thanh thế mạnh gấp bội, cựu thần nhà Lê đang nổi dậy khắp nơi, nên chấp nhận kế sách Ngô Thì Nhiệm đề xuất, rút lui cố thủ bảo toàn lực lượng. Chỉ có Phan Văn Lân không chịu,xin đem 1000 quân đến sông Như Nguyệt ngăn chặn quân Thanh, Ngô Văn Sở cho đi (tuy nắm chắc phần thất bại, nhưng cũng nghi binh che mắt quân Thanh để việc rút lui được êm thấm).

Quân Phan Văn Lân đi suốt đêm đến bờ sông, đang đêm lội qua sông, định tập kích vào đạo tiên phong của quân Thanh vừa đến đóng ở đó. Gặp thời tiết giá lạnh,binh sỹ lội sang sông bị chết cóng nhiều,người nào lên được bờ bắc đều bị quân Thanh giết hết, Phan Văn Lân phải chạy trở về Thăng Long.

Ngô Văn Sở tập trung các đạo quân ở các trấn về Thăng Long, giả tiếng đắp luỹ phòng thủ, tổ chức cuộc duyệt binh lớn trên bãi sông Hồng, rút lui về Tam Điệp được hoàn hảo. Đêm rút quân,hậu quân đến Thường Tín nhân dân trong thành mới biếT.

Đô đốc Tuyết về Phú Xuân cấp báo. Nguyễn Huệ lên ngôi vua lấy niên hiệu Quang Trung, dẫn đại binh ra Tam Điệp tổ chức phản công, đánh tan 20 vạn quân Thanh,Tôn Sỹ Nghị thoát chạy về nước, chân không kịp xỏ giày.

Trong cuộc phản công, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân chỉ huy đạo tiên phong tiêu diệt gọn đồn Hạ Hồi, đánh tan đồn Ngọc Hồi tiến vào Thăng Long. Ngô Văn Sở tiếp tục giữ chức Tổng trấn Bắc thành.Năm 1789-1790 ông cầm đầu phái bộ đưa Quang Trung giả sang

Yên Kinh dự lễ Bát tuần đại thọ vua Càn Long nhà Thanh,được triều đình nhà Thanh trọng vọng.

Năm 1793 quân Nguyễn Ánh bao vây Bình Định,Nguyễn Nhạc cầu viện Phú Xuân, vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai Thái uý Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn, Lê Trung và Ngô Văn Sở đem 17 vạn quân, 80 thớt voi vào cứu Quy Nhơn, chưa đến nơi Nguyễn Ánh đã lui quân, Phạm Công Hưng dẫn quân vào thành đòi giải giáp quân Nguyễn Nhạc, Ngô Văn Sở khuyên ngăn nhưng không nghe, Nguyễn Nhạc tức qúa hộc máu ra chết (Vua Thái Đức, anh Quang Trung,bác Quang Toản) .

Năm 1795 Thái sư phụ chính Bùi Đắc Tuyên lộng quyền,chém Lê Văn Hưng,đày Lê Văn Kỷ ra Hòang Giang làm Dịch trạm, điều Vũ Văn Dũng ra Bắc.Theo lời khuyên của Trần Văn Kỷ,Vũ Văn Dũng quay trở về Phú Xuân cùng Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn làm đảo chính, bắt nhốt Bùi Đắc Tuyên, sai người vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ con Tuyên, đưa về Phú Xuân.Lại sai Đô đốc Hải ra Thăng Long, giả chiếu Nguyễn Quang Toản sai Bắc thành Hoàng đệ Nguyễn Quang Thuỳ lừa bắt Ngô Văn Sở đưa về Phú Xuân,Vũ Văn Dũng cùng phe đảng thêu dệt thành tội phản quốc, bỏ vào cũi sắt dìm xuống sông Hương cho chết, ấy là vào năm 1795, kết thúc cuộc đời oanh liệt của vị danh tướng nổi tiếng một thời.

Trần Quang Diệu đang đánh nhau với Nguyễn Ánh ở Gia Định được tin,buông lỏng Nguyễn Ánh, kéo quân về bao vây Phú Xuân, đòi bắt Vũ Văn Dũng hỏi tội. Nguyễn Quang Toản chỉ có khóc, Phan Huy Ích viết cho Quang Toản bài Chiếu nôm để dàn hoà, việc mới yên.

Đương thời có người làm bài văn tế Ngô Văn Sở như sau :

(Bài văn tế viết bằng chữ nôm chép tay trong tập Minh đô sử, sau phần sự tích Vũ Văn Dũng,vì chữ nôm chép không rõ ràng, có thể có chữ đoán sai .)

Tây Sơn Trung nguyên tiết, tế Đổng lý Ngô Văn Sở

Than rằng:

Ngựa Hồ kêu gió bấc, ngậm ngùi thay mây cuốn lá cờ nheo

Chim Việt đậu cành nam, ngao ngán nhẽ sương mờ chăn cẩm thuý.

Nhớ xưa,

Chức lãnh Quận công, quyền đương Đổng lý

Mũ hồng mao, biều quai bạc, người miền bắc điểm trang

Nón khâu lứ, chóp bịt đồng, cậu đàng trong tử tế

Ba tháng mối diềng cắt đặt, lòng vì nước quản chi

Bảy điều chính lệnh sửa sang, đức vì dân chẳng trễ

Những ước trăm năm mưa móc, dòng trong thanh vị nước sông Ngô

Nào ngờ một phút phân kỳ, nước đục dễ phai màu chè Huế

Hay là vì ân xưa thầy tớ,xuống suối vàng theo dõi gót Thái sư

Hay là nghĩa cũ vua tôi,lên mây bạc để tìm xe Tiên đế

Trước trại rèm hùng sịch mở, phòng thuộc ngẩn ngơ chiều

Trong thành cờ lệnh truyền sai,bà con ngao ngán nhẽ

Nha trù chia của, nỡ nào quên cậu chị tơ già

Gái đẹp thân sang, nỡ lãng quên đàn con non trẻ

Nguồn cơn không bề tính cho xuôi

Cơ sự dễ ai hay đặng nhẽ !

Việt Nam Chí sỹ Ngô Đức Kế (1878-1929 )

 

Ngô Đức Kế người xã Trảo Nha huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh,con trai Cử nhân Ngô Huệ Liên,cháu Cử nhân Ngô Phùng,thuộc chi 9 họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước,vào đời thứ 34.

Những năm cuối thế kỷ thứ 19,phong trào Cần vương chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi khắp cả nước,đặc biệt là ở Hà Tĩnh.Ông lớn lên trong bối cảnh đó.

Thuở nhỏ thông minh học giỏi,19 tuổi đỗ Cử nhân, 23 tuổi đỗ Tiến sỹ ( khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 1901).Tuy đỗ sớm nhưng Ông không ra làm quan,mà tích cực làm cách mạng chống thực dân,dành tự do độc lập cho đất nước.

Với phong trào Duy Tân cứu nước, các sỹ phu trung nam bắc mật giao với nhau,liên kết thống nhất chí hướng,Ngô Đức Kế sớm có mặt với các nhà yêu nước trung nam bắc,mượn tiếng mở trường dạy học tạo điều kiện làm nơi cho các nhà yêu nước gặp gỡ nhau.Ông là người hăng hái vận động cải cách nông thôn, bài trừ mê tín dị đoan,chống chế độ đình trung xôi thịt.Ông tự tay viết kiến nghị lên triều đình đòi cải cách thi cử .Theo sự phân công thống nhất, ông tham gia phái Minh xã, hoạt động công khai lo việc “Duy Tân”,mở mang dân trí, chấn hưng thực nghiệp.

Năm 1906 Ngô Đức Kế cùng Đặng Nguyên Cẩn , Lê Huân lập Triều dương thương điếm ở Vinh vừa buôn bán vừa làm kinh tài cung ứng cho phong trào Đông du, vừa là nơi hội họp các nhà yêu nước bắc trung nam.Đầu năm 1908 nổ ra phong trào Xin sưu ( biểu tình đấu tranh chống sưu cao thuế nặng ở Trung kỳ),các cuộc biểu tình “Xin sưu” ở Hà Tĩnh bị đàn áp ,Ngô Đức Kế bị bắt giam và bị khép tội :” Âm tập khai trương tụ nghịch,tiềm thông dị quốc,chống lại hai chính phủ” bị kết án “Giảo giam hậu”(Treo cổ chờ xử quyết), sau đó án được giảm xuống chung thân khổ sai đày đi Côn Lôn.(Ông bị bắt tháng 3 thì tháng 6 bị đày đi Côn Lôn).

Chế độ lao tù không khuất phục được tinh thần yêu nước của Ông.Ở đây các ông đã cùng nhau hướng về Tố quốc ,Côn Đảo được biến thành Tao đàn của các nhà thơ yêu nước,nhiều tập thơ văn cổ động cách mạng dành độc lập dân chủ được chuyển về đất liền,có tác dụng lớn đóng góp và thúc đẩy phong trào yêu nước.

Phan Bội Châu đã khái quát cảnh lao tù của các chí sỹ ở Côn Đảo trong bài văn điếu Phan Chu Trinh,trong đó có câu :

Thân dậu tuất bấy nhiêu năm gian khổ,khi đào cây khi nhặt đá, giữa biển trần gió bụi vẫn thung dung,

Đặng, Huỳnh, Ngô mấy bác hàn huyên, khi uống rượu khi ngâm thơ ngoài cửa ngục,lầm than mà khảng khaí !

Sau 13 năm bị giam cầm, năm 1921 Ông được trả tự do trở về nhà. Thực dân Pháp khêu gợi nếu có lời tạ tội sẽ cho khôi phục bằng Tiến sỹ và được ra làm việc.Chí cương quyết ông không chịu khuất phục,tiếp tục hoạt động chống thực dân và triều đình bù nhìn.Cuối năm 1922 ông ra Hà Nội thuê nhà ở Bạch Mai,làm Chủ bút Tạp chí Hữu thanh,mở Giác quần thư xã,xuất bản nhiều sách tiến bộ.Ông đã tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), đề xướng phong trào để tang Phan Chu Trinh (1926),tham gia xây dựng Đảng Phục ViệT.

Ngày 10 tháng 12 năm 1929 , ông bị bệnh và mất ở Bạch Mai,mộ táng ở làng Tương Mai,Hà Nội, những người yêu nước đương thời tổ chức tang lễ,dựng bia đề “Việt Nam chí sỹ Ngô Đức Kế chi mộ”. Ngày nay mộ ông đã được cải táng đưa về quê Trảo Nha, đặt trên núi Nghèn, thuộc thị trấn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Đức Kế vừa là một nhà cách mạng,vừa là một nhà thơ.Ông làm rất nhiều thơ,dưới đây xin ghi lại vài bài .

Bài thơ chữ Hán ông làm ở Côn Đảo sau một năm đi đày,Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch:

Nguyên văn: Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn

I

Cam đường trấp tứ tụ âm phần

Sơn sắc đào thanh triệt hữu hôn

Thường đắc thiên nhai vô hạn huống

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn

II

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn

Bách chiết thiên ma khí tượng tồn

Độc hữu đình vi nhi nữ luyến

Thanh y do trấp cựu đề côn

III

Từ bàng vô kế độ nguyên nguyên

Thử ý giao thuỳ khấu đế bôn

Hàn vũ tiêu tiêu thu lão hỷ

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn

IV

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn

Đổ vũ thanh thanh khứ quốc hồn

Cận nhật giang san hà tự hảo

Kình ba thu lão hương thiên phiên.

Dịch: Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn

I

Rườm rà hăm bốn cụm bàng non

Chiều sớm màu son sóng biển dồn

Ngắm cảnh thiên nhai chừng chửa chán

Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn.

II

Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn

Ma chiết trăm chiều khí vẫn còn

Lựa có lòng lo cha mẹ nhớ

Áo xanh đẫm lệ tủi phần con.

III

Thuyền từ khó vớt cuộc sinh tồn

Trời thẳm cùng ai tỏ tấc non

Mùa lạnh thu già trông quạnh quẽ

Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn.

IV

Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn

Réo rắt chim quyên tiếng gọi hồn

Non nước gần đây sao đó tá

Sóng kình thu muộn cuốn trời phun.

Hỏi Gia Long

Nhân lễ Tứ tuần Đại khánh của vua Khải Định (1925)

I

Ai về địa phủ hỏi Gia Long

Khải Định thằng này phải cháu ông?

Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ

Trăm gia ba chục khổ nhà nông

Tháng rồi ngoài bắc tai liền đến

Năm ngoái sang Tây ỉa vấy cùng

Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ

Vua thì còn đó, nước thì không!

II

Nước thời không có, có vua chi

Có cũng như không chẳng ích gì

Người vét đinh điền còn bạch địa

Ta khoe dụ chỉ tại đan trì

Nhận tiền nguyệt bổng vinh nào có

Ăn của quan trường tệ lắm ri

Thọ lắm lại càng thêm nhục lắm

Bé cu ly lớn cũng cu ly.

III

Cu ly đành phận chớ ra oai

Chuyên chế ăn quen thói cũ hoài

Quân chủ cờ bay vui trước mắt

Dân quyền trống đánh chán bên tai

Bùi,Liêm giảo hiểm khoe tài trí

Huề,Thụ thông minh gọi bất tài

Cấm hết công môn ăn hối lộ

Ngoài ra Tiềm để mặc lòng ai.

IV

Mặc lòng ai thảo với quân vương

Lớp để xây lăng lớp tậu vườn

Mặc kệ dân gian chìm nước lụt

Trối thây sỹ tử thiếu nhà trường

Một mình mê mải nghề ca xướng

Các nước lăng xăng nghiệp phú cường

Một lễ tứ tuần thu nặng túi

Bạc vàng châu báu có trăm rương.

Sách Tự Điển Bách khoa Việt Nam chép:

NGÔ ĐỨC KẾ:  (hiệu: Tập Xuyên; 1878 – 1929), chí sĩ yêu nước, nhà báo Việt Nam. Quê: huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, đỗ Tiến sĩ 1901, không ra làm quan. Cùng Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Hân mở Triều Dương thương điếm ở Vinh (theo sáng kiến của Phan Bội Châu), buôn bán hàng nội, trợ cấp kinh phí, liên kết các đồng chí cho phong trào Đông du. Năm 1908, bị bắt và đày ra Côn Đảo 13 năm. Năm 1922, ra Hà Nội làm chủ bút tờ “Hữu Thanh” đấu tranh với các quan điểm sai trái của tạp chí “Nam Phong”, là người đầu tiên vạch trần âm mưu chính trị của tờ “Nam Phong”, nổi tiếng với bài “Nền quốc văn mới” và “Luận về chánh học cùng tà thuyết”, trực diện công kích văn hoá nô dịch của thực dân Pháp và phong trào sùng bái “Truyện Kiều” do Phạm Quỳnh đề xướng. Báo bị đóng cửa, Ngô Đức Kế mở Giác quần thư xã (1926), xuất bản một số sách tiến bộ: “Phan Tây Hồ di thảo” (1927), “Đông Tây vĩ nhân”. Bài thơ “Hỏi Gia Long” (1923) có thể nói là táo bạo nhất so với thơ văn đả kích châm biếm đương thời, đối tượng là Khải Định – vị đương kim hoàng thượng. Là người có nhiều uy tín với thanh niên trí thức những năm 20 thế kỉ 20.

Tộc Phả Họ Ngô Trảo Nha dòng Ngô Nước,từ đời 21 .

(Xưa là xã Đan Liên,đổi xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, trấn Nghệ An).

Nay thuộc thị trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh

Tính từ đời thứ nhất Triệu Tổ Ngô Nhật Đại đến Ngô Nước là đời thứ 21

21 Ngô Nước (Ngô Lợi) Quản Lĩnh công, con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,một trong sáu người “cư biệt quán”,ông lánh vào xã Chỉ Châu huyện Thạch Hà ,sau dời qua làng Trung Thuỷ,định cư ở thôn Thổ Sơn xã Đan Liên,sau đổi là xã Trảo Nha trấn Thạch Hà.Ông bà nấu rượu nuôi lợn để sinh sống,

Được tặng phong Nghệ An Quản lĩnh.

Mộ hai ông bà táng ở dăm Nhà quan thôn Thổ Sơn.

Thuỵ hiệu:

Thuỷ tổ Nghệ An vệ, Chánh Quản Lĩnh công, thuỵ Chính Nhân

phủ quân.

Sinh Ngô Phúc Hải.

22 Ngô Phúc Hải Đô Tổng binh

Bà cả người Trảo Nha,bà thứ người Hoa Viên cư ngụ xã Phú Điền.

Mộ được thiên táng ở chân núi Mã Yên Sơn (rú Rum) xã Phúc Lễ

huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An .

Thuỵ hiệu:

Thái Nguyên trấn Đô Tổng binh sứ ty,Đô tổng binh Đồng tri Ngô

Tướng công thuỵ Chính Đạo phủ quân.

Sinh Ngô Phúc Hà Thuần trung Hầu.

23 Ngô Phúc Hà Chủ bộ Thuần trung Hầu :

Mộ tại chân núi Mã Yên Sơn, xã Phúc Lễ huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An.

Thuỵ hiệu :

Yên Vương phủ Chủ bộ, tặng Thuần trung Hầu, thuỵ Giác Tính

phủ quân.

Bà cả người Trảo Nha sinh -Ngô Phúc Thanh,

Bà thứ người Hoa Viên sinh -Ngô Phúc Điền Thuỷ tổ họ Ngô Phú Điền, Hưng Phú, Hưng Nguyên, Nghệ An.

24 Ngô Phúc Thanh Thái Bảo Vĩnh lộc Hầu :

Trấn thủ trấn Nghệ An,tước Vĩnh lộc Hầu, được mệnh danh

“Nam diện trường thành”,mất trước ngày Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê(1527).

Thuỵ hiệu :

Nghệ An xứ Đô Tổng binh sứ ty Đô tổng binh sứ, tặng phong Thái Bảo, Ngô Tướng công, thuỵ Trung Túc phủ quân.

Sinh Ngô Cảnh Hựu.

25 Ngô Cảnh Hựu Thái bảo Thế Quận công

1520-1596 Có tên Ngô Phúc Trừng,(vì kỵ huý ,đổi một thời gian).Có nhiều

chiến công đánh Mạc xếp hạng Nguyên công,phong”Luỹ đại

công thần dữ quốc đồng hưu”.

Thuỵ hiệu:

Phụ quốc Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thiếu bảo Thế Quận công, gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc Thượng tướng quân,

Bật nghĩa Doanh Ngô Tướng công, tự Minh Trứ,thuỵ Đôn Hậu phủ quân.

Ông xin về trí sĩ năm 1594.

Mất ngày 25 tháng 5 năm Bính Thân 1596,mộ ở thôn Chi Lễ xã Thái Hà.

Có ba bà:Từ Quang,Diệu Hằng,Trịnh Thị Diệu Minh, sinh :

-Ngô Phúc Tịnh Tứ Quận công,

-Ngô Phúc Hoành Hoành phố Hầu, họ Chỉ Châu,

-Khang trạch Hầu họ Cổ Bái,

-Câu kê Hầu họ Thạch Mỹ,

-Ngô Đăng Khản họ Hà Linh,

-Ngô Thuận Tâm họ Trần, Vỵ Xuyên,

-Ngô Thị Ngọc Nguyên Thứ phi Chúa Trịnh Tùng

26 Ngô Phúc Tịnh Thái bảo Tứ Quận công

Thuỵ hiệu:

Hiệp mưu Dương võ Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Tứ Quận công,

Gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc,tự Minh Triết,thụy Đức Long phủ quân.

Bà chính thất Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Mai con Triết vương

Trịnh Tùng không có con,

Bà Lê Thị Đệ là vợ trước, đem con ra ở nhà riêng nhường ngôi chính thất cho Quận chúa,sinh :

-Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,

-Vỵ Quận công không rõ tên,

– và hai con gái.

27 Ngô Phúc Vạn Phó tướng Thái bảo Tào Quận công

1577-1652 Có tên là Phúc Mại,tự Tử Hán,hiệu Huân Dương Chân nhân,người đương thời tôn xưng Phật Thái bảo.

Thuỵ hiệu:

Dương võ Uy dũng Công thần,Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng

quân,Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự, Trung

nhuệ Quân doanh, Phó tướng Thiếu uý Tào Quận công, gia phongThái bảoThượng Trụ quốc,Ngô Tướng công, tự Hùng Thao, thuỵ Mỹ Thiện phủ quân.

Ông sinh giờ Dần,ngày 20 tháng 5 năm Đinh Sửu 1577,mất ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn 1652,mộ táng trên đồi Nghèn,huyệt sâu 17 mét.

Năm 1993 đền và mộ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.

Bà chính thất là Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Uyên,con gái Bình An

Vương Trịnh Tùng.

Ông có tất cả 7 bà, sinh 10 con trai,15 con gái (có hai người là Cung tần).

10 con trai nay thành 10 chi :

-Nhuận Quận công Ngô Phúc Thiêm, chi trưởng

-Hàn Quận công Ngô Phúc Đang, chi 2

-Đằng Quận công Ngô Phúc Hạp, chi 3

-Đáng Quận công Ngô Phúc Tân, chi 4

-Phương Quận công Ngô Phúc Hộ, chi 5

-Kiêm lộc Hầu Ngô Phúc Điền, chi 6

-Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu , chi 7

-Vân lĩnh Hầu Ngô Phúc Phổ, chi 8

-Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị , chi 9

-Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều , chi 10.

27 Vỵ Quận công không rõ tên huý,bà là Quận chúa họ Trịnh, sinh hai con trai:

-Diên Quận công không rõ tên huý,bà là Quận chúa họ Trịnh

nay là thuỷ tổ họ Tam Đa,

-Lý Quận công không rõ tên huý, thất truyền.

Dòng Ngô Nước phân chi lần thứ nhất vào đời thứ 24:

Ngô Phúc Thanh ở Trảo Nha là dòng trưởng,

Ngô Phúc Điền ở Hưng Phú là dòng thứ.

Phân chi lần thứ 2 vào đời thứ 26:

Ngô Phúc Tịnh ở Trảo Nha, Ngô Phúc Hoành ở Chỉ Châu,

Khang trạch Hầu ở Cổ Bái, Câu kê Hầu ở Thạch Mỹ,

Ngô Đăng Khản ở Hà Linh, Ngô Thuận Tâm con cháu ở Vỵ Xuyên.

Phân chi lần thứ 3,vào đời 28:

Các con trai Ngô Phúc Vạn phân thành 10 chi mới, ở khắp các tỉnh

trung nam bắc.

Từ sau phân chi thiên cư ,ngày nay thành trên 30 họ , thế thứ lần lượt ghi chép dưới đây theo từng dòng trên xuống.

Họ Ngô Phú điền

Xã Hưng Phú huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An

24 Ngô Phúc Điền con thứ Thuần trung Hầu Ngô Phúc Hà (mất liên lạc từ lâu,đến năm 1976 mới bắt liên lạc lại với họ Trảo Nha).

25 Ngô Tự Toàn thuỵ Chân Tâm

26 Ngô … Hương Đình kỳ lão, sinh Ngô Trung Lương

27 Ngô Trung Lương sinh Ngô Hữu Dũng

28 Ngô Hữu Dũng sinh Ngô …Chánh Đội trưởng

29 Ngô …. Chánh Đội trưởng, sinh Ngô Hữu Quý

30 Ngô Hữu Quý Yên lại đồn điền Phó sứ, sinh Ngô Hữu Chấp

31 Ngô Hữu Chấp sinh hai trai thành hai chi,gia phả thất lạc

Trên đây là dựa vào mộc chủ và tư liệu ghi chép để kỵ lạp.Gia phả chính Ty Văn hoá Nghệ An mượn từ năm 1950 không trả lại. Thế thứ tiếp theo trong họ có người ghi chép nhưng chưa xong,chỉ biết con cháu ngày nay đã đến đời thứ 40.

Họ Ngô Chỉ Châu

Dòng Hoành phố Hầu Ngô Phúc Hoành

Xã Thạch Trị huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.

26 Ngô Phúc Hoành Hoành phố Hầu, con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu,ở xã

Đan chế dời về Chỉ Châu,nơi Thủy Tổ Ngô Nước dừng chân ngày trước.Ông có nhiều con.Vào khoảng 1560-1570,quân nhà Mạc nhiều lần tấn công vào Nghệ An,có lần Mạc Đôn Nhượng chiếm đóng đất trấn Nghệ từ bờ nam sông Lam trở vào hai tháng

liền,người lớn còn phải đi đánh giặc,con cái ở quê phải

chạy giặc, mỗi người một nơi,sau đó có người trở về, có người ở luôn

thành quê mới.Nay thành mấy chi họ.

27 Ngô Phúc Trạch ở Chi Lễ sau dời Bảo Tháp.

Ngô Phúc Yên ở Đồng Lưu.

Ngô Phúc Trinh ở Cẩm Tiến ,có con Ngô Phúc Lý ra ở Yên Hồ.

Một dòng ở lại Chỉ Châu và Trung Thủy.

Trong mấy người trên không rõ ai anh ai em,chi ở Thạch Trị (Chỉ Châu) lo việc trông coi mồ mả).

Chi Bảo tháp Thái hà, huyện Thạch Hà,Hà Tĩnh

27 Ngô Phúc Trạch ở Chi Lễ xã Phúc lễ, sinh Ngô Phúc Phấn.

28 Ngô Phúc Phấn sinh 3 con trai,trưởng Phúc Lăng.

29 Ngô Phúc Lăng sinh 9 con trai,trưởng Phúc Đạn.

30 Ngô Phúc Đạn sinh 5 con trai.

31 Ngô Phúc Đào con thứ Ngô Phúc Đạn,sinh Phúc Yên,Phúc Tư (có 4 con).

(Mất phả 4 đời)

36 Ngô Phúc Tao sinh Đức Sơn,Đức Thịnh,Đức Vương,Đức Trường,Đức Tài.

37 Ngô Đức Sơn sinh Đức Linh.

37 Ngô Đức Thịnh sinh Đức Dòng.

38 Ngô Đức Dòng sinh Đức Thuận .

37 Ngô Đức Bảy sinh Quang Hà,Việt Hà.

37 Ngô Chu sinh Đức Thực.

37 Ngô Hạp sinh Đức Phố,Đức Xá.

38 Ngô Đức Phố sinh Tín Dũng.

38 Ngô Đức Xá sinh Đức Nhã,Đức Định.

34 Ngô Đức Hiệu sinh Ngô Trí,Ngô Nhuận.

35 Ngô Trí sinh Ngô Đôn,Ngô Trung,Ngô Chính.

36 Ngô Đôn sinh Quốc Lương,Đức Hiền.

37 Ngô Quốc Lương sinh Quốc Tường,Quốc Bảo.

36 Ngô Trung sinh Quốc Tuấn,Quốc Hùng,Quốc Cường.

36 Ngô Chính sinh Minh Long,Minh Quân.

35 Ngô Nhuận sinh Ngô Hồng,Đức Hà.

36 Ngô Hồng sinh Hữu Đức.

Ngô Đức Hà sinh Việt Hùng.

34 Ngô Đức Tư sinh Huy,Quang,Bích,Hoàng,Châu.

35 Ngô Huy sinh Cơ,Võ,Ngọc.

36 Ngô Cơ sinh Thảo,Thuận.

Ngô Ngọc sinh Anh Tuấn.

Ngô Võ sinh Thiên,Dung,Thăng,Kiện.

35 Ngô Bích sinh Thọ,Uyên,Trân,Lân,Mân,Quỳnh.

36 Ngô Ngọc Thọ sinh Đức Cành,Hoài.

Ngô Ngọc Uyên sinh Ngọc Quyền,Bính.

Ngô Ngọc Trân sinh Tuấn Anh.

Ngô Lân sinh Công,Huân,Hân.

Ngô Mân sinh Hùng,Hoàng,Hà.

Ngô Quỳnh sinh Ngô Ngân.

35 Ngô Hoàng sinh Cận,Tạo,Hồ,Luyện.

36 Ngô Cận sinh Đạt,Thắng.

Ngô Tạo sinh Kiên,Tâm.

Ngô Hồ sinh Bính,Vinh,Nhật.

Ngô Luyện sinh Quảng,Nam.

35 Ngô Chân sinh Huynh,Oánh.

36 Ngô Huynh sinh Trình,Khuyên.

33 Ngô Trạc thiên cư Chu lễ sinh Đình Ngôn,Đình Giảng,Đình Đấu,Thị Kiên.

34 Ngô Đình Ngôn sinh Đình Khiên.

35 Ngô Đình Khiên sinh Tuấn,Mạnh,Thắng,Đốc,Khanh(Ls).

34 Ngô Đình Giảng sinh Đức Thuyết,Đức Thành (Ls).

35 Ngô Đức Thuyết (1920-1990) sinh Đức Phúc,Thị Thanh,Thuỷ,Huơng,Dung,Lan.

32 Ngô Phúc Tuý sinh Phúc Thuỳ,Phúc Đo,Phúc Chúc (1826-1909),

Phúc Đàn,Phúc Kiên.

33 Ngô Phúc Đàn sinh Phúc Tráng,Phúc Thắng,Phúc Hoà và 4 người nữa.

33 Ngô Phúc Kiên sinh Phúc Mãn,Phúc…,Phúc Linh,Phúc Kha,Phúc Cân.

34 Ngô Phúc Mãn sinh Phúc Lê.

Ngô Phúc… sinh Phúc Ngư

Ngô Phúc Linh

Ngô Phúc Kha

Ngô Phúc Cân

30 Ngô Phúc Tiêu sinh Phúc Hiên bốn anh em.

31 Ngô Phúc Hiên sinh Phúc Cư.

32 Ngô Phúc Cư sinh Phúc Túc.

Nay đã đến đời thứ 37,phả bị cháy trong cơn hoả hoạn,đến đời 33,34, các ông Ngô Ngụ,Ngô Sỹ,Ngô Hoà mới sưu tầm ghi chép lại vào những năm Khải định nhà Nguyễn.

Họ Ngô Đồng Lưu ,xã Thạch Vĩnh huyện Thạch Hà,Hà Tĩnh

27 Ngô Phúc Yên con trai Hoành phố Hầu Ngô Phúc Hoành, sinh Văn Định.

28 Ngô Văn Định sinh Văn Lý, Văn Vinh,Văn Khoan,Văn Điệt.

29 Ngô Văn Lý sinh Văn Mưu.

30 Ngô Văn Mưu sinh Văn Chiến,Văn Tri.

31 Ngô Văn Chiến sinh Ngô Tài.

32 Ngô Tài sinh Ngô Kiều.

33 Ngô Kiều sinh Ngô Quyền.

34 Ngô Quyền sinh Ngô Đệ.

35 Ngô Đệ sinh Ngô Tập.

36 Ngô Tập sinh Ngô Hợi.

37 Ngô Hợi sinh Ngô Cai.

38 Ngô Cai sinh Ngô Hoà,Ngô Hợp.

Các phái khác chưa có thế thứ.

Họ Ngô Cẩm Tiến, huyện Cẩm Xuyên,tỉnh Hà Tĩnh

27 Ngô Phúc Trinh con Hoành phố Hầu Ngô Phúc Hoành,sinh Đình Thắng,Đình Tình,Văn Mai,Văn Hài.

28 Ngô Đình Tình sinh Huy Mai,Văn Dinh.

29 Ngô Huy Mai sinh Văn Ngụ,Văn Quang,Văn Dịch.

30 Ngô Văn Ngụ sinh Văn Hải,Văn Tế,Văn Truyền,Văn Nhương.

31 Ngô Văn Hải sinh Văn Hiến,Văn Tân (thất truyền).

31 Ngô Văn Tế sinh Văn Năm (thất truyền).

31 Ngô Văn Truyền sinh Văn Suyền,Văn Điền,Văn Cử,Văn Hiệu.

32 Ngô Văn Suyền sinh Hoàn,Hoạt,Thị Nhiên,Thị Niêm,Thị Cúc.

33 Ngô Văn Hoàn sinh Văn Toàn,Thị Yến.

34 Ngô Văn Toàn sinh Sỹ Quế,Mạnh Đức,Trọng Tài,Dương Trí,Thị Hảo,Thị Hiên,

Thị Lài.

33 Ngô Văn Hoạt sinh Văn Kiêm,Văn Cườm,Thị Khươm,Thị Ươm,Thị Niên,Thị Cúc.

34 Ngô Văn Kiêm (1944) sinh Văn Huy,Thị Hạnh,Hoài,Am.

34 Ngô Văn Cườm bà Y Gái người Đắc lắc,sinh Thị Hoa,Thị Mùi, Văn Trúc, Văn Trinh, Văn Bảy, Thị Đông.

32 Ngô Văn Cử sinh Văn Nôi, Thị Phác, Thị Trực

33 Ngô Văn Nôi sinh Văn Hôi(l.s), Văn Tý, Chiến,Đấu

34 Ngô Văn Tý sinh Đức Hoàng, Sửu, Thị Phương

32 Ngô Văn Hiệu sinh Văn Mưu, Đức Chất, Văn Mai

33 Ngô Văn Mưu sinh Đức Thông, Văn Công, Thị Lưu

34 Ngô Đức Thông sinh Đức,Nam,Ninh,Linh,Anh

34 Ngô Văn Công sinh Văn Đương, Thị Diệu, Cảnh

33 Ngô Đức Chất sinh Đức Long, Thị Liên, Châu

34 Ngô Đức Long sinh Thị Hương, Huyền, Quyên , Danh.

Chi Yên Hồ , huyện Đức Thọ,tỉnh Hà Tĩnh

Phân chi từ Cẩm Tiến Cẩm Xuyên

28 Ngô Văn Hài Con Ngô Phúc Trinh ở Cẩm Tiến,ra Yên Hồ dạy học,ở lại.

Bà Nguyễn Thị Việt sinh Ngô Đăng Đệ.

29 Ngô Đăng Đệ bà Nguyễn Thị Thiệp sinh Đức Kháng,Văn Lý

30 Ngô Đức Kháng bà Dương Thị Nhị

30 Ngô Văn Lý bà Nguyễn Thị Tam sinh Thị Quế,Ngô Thứ,Ngô Chiểu,Ngô

Lương,Ngô Văn Thạch,Thị Khách,Thị Dụ

31 Ngô Văn Thạch sinh Văn Huýnh,Văn Chí,Thị Diệp,

31 Ngô Chiểu sinh Đức Phổ,Đức Hiệu,Đức Tư

32 Ngô Đức Phổ sinh Quý,Mai,Chu,Hạp và 3 con gái

33 Ngô Quý sinh Quát,Tiến,Phùng,Toại,Thị Chắt

34 Ngô Quát (Đh),sinh Đạo,Đạt,Viễn, Thị Hoá,Thị Hương,Thị Lan,Thị Mai

34 Ngô Tiến sinh Văn Hoa,Đức Hiệp

34 Ngô Toại sinh Chi,Nguyên

33 Ngô Mại sinh Đức Tạo,Đức Hồng,Đức Phúc,Đức Bảy

34 Ngô Đức Phúc (Pts) bà Lê Thị Út sinh Đức Anh,Vân Anh

Họ Ngô Cổ Bái Tự Cường

Xã Thạch Ngọc huyện Thạch Hà,tỉnh Hà Tĩnh

26 Khang trạch Hầu Thuỵ Mai Trai, không rõ huý,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu.

Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân Đô Chỉ huy sứ ty

Đô Chỉ huy sứ,sinh Vân lộc Hầu và Ngô Phúc Đường (phả Cổ

bái ghi thất truyền,có thể đổi tên về ở Đỉnh Lự).

27 Vân lộc Hầu Không rõ huý, Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân Cấm y vệ

Đô Chỉ huy sứ ty Đô Chỉ huy sứ,sinh Tín vũ Hầu,Vinh thái Hầu .

28 Tín vũ Hầu Chánh đội trưỏng, sinh ba con trai thành ba chi:

Ngô Phúc Hy chi Tự Cường sinh Ngô Phúc Tân,Ngô Đức Cương,

Ngô Phúc Anh chi Cổ Bái,

Ngô Phúc Thiên chi Mỹ Đại nay chỉ còn vài gia đình.

(Cả ba chi chưa có thế phả đầy đủ).

28 Ngô Phúc Khê Vinh thái Hầu (thất truyền).

29 Ngô Phúc Hy` Con trưởng Tín vũ Hầu,con cháu sang ở làng Tự Cường,nay

thuộc huyện Can Lộc,sinh Ngô Phúc Tân,Ngô Đức Phương.

30 Ngô Phúc Tân sinh 4 con trai,trưởng Ngô Đức Bích.
31 Ngô Đức Bích bà Đặng Thị Len sinh 9 con, trưởng là Thanh.

32 Ngô Đức Thanh sinh 6 con, trưởng là Tôn

33 Ngô Đức Tôn sinh 9 con, trưởng là Cánh

34 Ngô Đức Cánh sinh 6 con, trưởng là Dòng

34 Ngô Đức Dân sinh 9 con, trưởng là Hợi

34 Ngô ĐứcĐại sinh 5 con, trưởng là Hải

34 Ngô Đức Nam sinh 5 con, trưởng là Nam

Tiếp theo mỗi đời đều đông con cháu chưa ghi chép hết.

Họ Đỉnh Lự

Xã An Lộc huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

27 Ngô Hữu Tôn Con thứ Khang trạch Hầu,tướng triều Lê,bà Nguyễn Thị Nguyên

sinh Ngô Đại,Ngô Hữu Thanh,Ngô Sơn và 4 người

chết trẻ là Ngô Yến,Ngô Hiên,Ngô Nhân,Ngô Hường.

28 Ngô Hữu Thanh bà Nguyễn Thị Nghiêm,sinh Ngô Phú Tâm,Ngô Minh Chiếu

(đều vô tự),Ngô Văn Năng.

29 Ngô Văn Năng bà Trần Thị Nhâm, sinh Việt Yên,Việt Nho,Thị Xã,Thâu,Quít.

30 Ngô Việt Yên bà Phan Thị Thiên ,sinh Nhân Chính,Nhân Nhiêm.

Phái I

31 Ngô Nhân Chính bà Phạm Thị Chải, sinh Đình Thạc,Ngô Láng(vô tự).

32 Ngô Đình Thạc Chánh tổng, sinh Đình Anh,Đình Sơn.

33 Ngô Đình Anh sinh Ngô Thác và 2 người vô tự.

33 Ngô Đình Sơn Ưu binh

33 Ngô Tân

33 Ngô Mạn

34 Ngô Thác tức Sum, sinh Ngô Trân,Ngô Lai,Ngô Thị Di,Ngô Cương (vô tự).

34 Ngô Đáng Thị Mân Thị Nhạn Thị Mực

Ngô Du Thị Tính Thị Phương Thị Lưu

Ngô Huỳnh Thị Tạo Thị Toán Thị Phong

Ngô Dự Thị Quý

35 Ngô Bộ bà Nguyễn Thị Thuộc, sinh Đảng,Thuộc,Quân,Thị Bương, Vỵ

Diện,Thị Truyền.

36 Ngô Đảng sinh Ngân ,Đề,Nhiêu,Thị Bút.

36 Ngô Thuộc bà Phan Thị Trang và Nguyễn Thị Thân, sinh Ngô Giống,Thọ

Long,Thị Dung.

36 Ngô Quân bà Phan Thị Kỳ và Phan Thị Yên, sinh Ngô Thập,Ngô Thêu.

37 Ngô Ngân bà Nguyễn Thị Lũng, sinh Ngô Thiều,Thị Vân,Thị Vây,Vy,Quy.

37 Ngô Đề sinh Ngô Khanh,Thị Khuê.

37 Ngô Giống sinh Thị Quang.

37 Ngô Thập sinh Thị An,Thị Đức.

37 Ngô Thêu sinh Ngô Chương,Thị Úc.

38 Ngô Mạnh bà Phan Thị Hình, sinh Ngô Thuận.

38 Ngô Chương sinh Thị Xuân.

38 Ngô Thiều bà Nguyễn Thị Chấp sinh Ngô Tạo, Thị Điểm.

39 Ngô Thuận bà Bùi Thị Cáp, sinh Thị Mỹ,Ngô Đại .

Phái II

31 Ngô Nhiệm làm quan triều Lê,bà Trần Thị Ngon, sinh Ngô Diên ( ở xã Đồng

đức huyện Đông Thành Nghệ An), Ngô Cảnh,Thị Yêm,Ngô Bàng

Ngô Hảo,Ngô Khánh.

32 Ngô Cảnh bà Phan Thị Thiều, sinh Đình Hy,Ngô Lữ,Ngô Mạc.

33 Ngô Lữ bà Lê Thị Thuỷ, sinh Ngô Dân,Thị Huân,Thiêm,Đình,Mạn.

34 Ngô Dân sinh Ngô Huyên,Ngô Hanh,Thị Thành,Đô,Đang.

35 Ngô Huyên sinh Ngô Cẩn,Ngô Uyn,Thị Tam,Ngô Ô,Ngô Sum, Thị Long,

Thị Phúc.

35 Ngô Hanh sinh Ngô Thị Duôn.

36 Ngô Cẩn Suất đội,sinh Ngô Cần,Ngô Cáp ,Thị Dóc,Thị Phách.

36 Ngô Uyn sinh Thị Dành,Thị Dừng,Thị Sừng,Ngô Sơi,Ngô Rương, Ngô

Thọ,Ngô Bích,Thị Trinh.

36 Ngô Ô sinh Thị Sửu,Thị Đôi,Thị Long,Ngô Hàng,Ngô Đán.

36 Ngô Sum sinh Ngô Quyền,Thị Lương,Ngô Duyên,Ngô Thuận.

36 Ngô Tan sinh Thị Cúc,Thị Ký.

37 Ngô Cáp sinh Thị Tráng,Ngô Trử,Thị Sứ,Ngô Thứ,Ngô Ngụ,Ngô Tri.

37 Ngô Sơi sinh Ngô Suyền ở Nghĩa đàn xã Nghĩa tiến,Ngô Sư,Ngô Luật.

37 Ngo Rương sinh Đình Thịnh,Ngô Thiêng,Đình Khai,Thị Khay,Thị Vân.

37 Ngô Thọ sinh Thị Phú,Gia,Cường,Trường,Đức Thanh.

37 Ngô Bích sinh Thị Bốn,Thị Hà.

37 Ngô Hàng sinh Thị Huyên.

37 Ngô Đán sinh Ngô Hùng,Thị Nhơn,Ngô Nghỉ.

37 Ngô Quyền sinh Ngô Huống.

38 Ngô Tri sinh ĐứcTuấn,Thị Đỏ

38 Ngô Sư sinh Ngô Dương,Thị Văn,Châu,Long,Ngô Vy

38 Ngô Luật bà Nguyễn Thị Chính, sinh Đức Thanh (ls),Đức Vương,Thị

Lan,Giang

38 Ngô Thiêng sinh Đức Tư,Đức Vệ,Ngô Thơ,Thị Bình,Thị Huệ,Thị Tươm,Thị

Thời,Thị Chắt

38 Ngô Đình Khai sinh Ngô Đức Ngân (Ls),Đức Bắc,Đức Tiến,Thị Hà,Thị Loan

38 Ngô Đức Thanh sinh Đức Anh,Đức Hiên,Đức Hạnh,Thị Nga,Thị Oanh,Thị Cúc

38 Ngô Huống sinh Đức Thuỳ,Đức Châu,Thị Thanh,Thị Úc, Thị Thập

39 Ngô Đức Tuấn sinh Nam,Tuân,Thị Hoa,Thị Lý

39 Ngô Đức Vương sinh Ngô Thức,Đức Hữu,Thị Ngọc,Thị Phương

39 Ngô Đức Tư sinh Thi,Dung,Thị Hiền

39 Ngô Đức Vệ sinh Thị Anh,Thị Thao

39 Ngô Đức Bắc sinh Đức Trung,Đức Hiếu

39 Ngô Đức Tiến sinh Đức Tới

39 Ngô Đức Anh sinh Đức Hùng,Đức Dũng,Thị Hương

39 Ngô Đức Hiên sinh Đức Hợp,Đức Hải

39 Ngô Đức Thuỳ sinh Thị Linh,Thị …

40 Ngô Đức Nam sinh Đức Hà,Thị Thâm

40 Ngô Đức Tuân sinh Ngô Đức Lý

Ngô Đức Anh

Ngô Đức Dũng sinh Ngô Đức Nghiên

Họ Ngô Thạch Mỹ , huyện Thạch Hà,tỉnh Hà Tĩnh

26 Câu kê Hầu không rõ huý,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu

sinh Ngô Hữu Lộc.

27 Ngô Hữu Lộc sinh Ngô Đắc Vỹ.

28 Ngô Đắc Vỹ sinh Ngô Đắc Chương.

29 Ngô Đắc Chương sinh Đắc Hành.

30 Ngô Đắc Hành sinh Đắc Diêu, Đắc Xây.

31 Ngô Đắc Diêu Thần tổ, có đền thờ.

31 Ngô Đắc Xây sinh Ngô Đắc Châu, Đắc Tá .

32 Ngô Đắc Châu Đến nay là tám đời.

32 Ngô Đắc Tá Đến nay là bảy đời.

Đầu thế kỷ 20, gặp năm đói kém, trong vùng có trên 50 gia đình đi tha phương cầu thực trong đó có gia đình ông Ngô Lợi đời thứ 34 đi qua vùng chợ Chế, vùng Đức Thọ, cuối cùng định cư làm ăn ở xóm Hưng Xá, xã Phú Xá, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

34 Ngô Lợi sinh Ngô Soạn, Ngô Mậu.

35 Ngô Soạn Cư trú Thị trấn Đức Thọ.

35 Ngô Mậu (1904-1980) Năm 1938-1945 bị thực dân bắt giam ở nhà tù Ban

mê thuột. Năm 1951 làm Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh,

Sau Hòa Bình làm Đại sứ ở Mông Cổ, Cu ba .

Bà họ Mạc , sinh Ngô Thị Hoài Lam(Pts),

Ngô Thị Hồng Hạnh(ks),Ngô Đức Hùng, Ngô Phúc Cường (ks).

36 Ngô Đức Hùng sinh Ngô Thị Liên, Ngô Hồng Hải.

Họ Hà Linh, huyện Hương Khê,tỉnh Hà Tĩnh

26 Ngô Đăng Khản Có tên là Ngô Phúc Ngôn,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh

Hữu,lánh nạn đến đất Hà Linh dạy học,

sinh Ngô Đăng Thiên,

Ngô Đăng Minh,

Ngô Đăng Bính.

27 Ngô Đăng Minh Thái giám, Án trung Hầu.Năm Chính Hòa thứ 4 (1685)

có công đi đánh Bồn Man ,phong Án trung Hầu,sau khi

chết dân làng Hà Linh lập đền thờ,triều Nguyễn sắc phong

Trung đẳng Tôn thần, ngôi đền nay đã được xếp hạng Di tích

lịch sử Văn hoá.

27 Ngô Đăng Bính Thiên cư nay thành Thủy Tổ họ Loan Dã (chợ Gia cùng huyện ).

27 Ngô Đăng Thiên Bà Hà Thị Hải sinh:

28 Ngô Đăng Đạt nay là chi trưởng ở Hà Linh,

Ngô Đăng Triều nay là chi ở chợ Nướt,

Ngô Đăng Thư nay là chi Hà Linh II,

Ngô Đăng Đài nay là chi Hà Linh III.

Cả họ ở phân tán nhiều nơi,chưa lập xong thế thứ,cư trú ở Trúc lâm Hà Linh có 693 người gồm 383 nam và 310 nữ, có 6 Liệt sỹ.

Cư trú ở Ba Đồn huyện Quảng Trạch 53 người gồm 23 nam,30 nữ.

Cư trú vùng Đá nện thượng lưu sông Gianh huyện Tuyên Hóa 76 người gồm 43 nam,33 nữ. Ngoài ra một số con cháu ở xã Hùng trạch ,Sơn trạch huyện Bố Trạch chưa rõ bao nhiêu.

Năm 1930-1931 có Ngô Lập, Ngô Thanh tham gia Cách mạng bị tù đày.

Liệt sỹ qua hai cuộc kháng chiến :

Ngô Đăng Thanh,Ngô Đăng Tài,Ngô Đăng Thiều,Ngô Đăng Thuận,Ngô Đăng Hà,Ngô Đăng Thứ là con cháu ở Hà Linh;

Ngô Văn Mơ,Ngô Văn Thinh là con cháu ở huyện Quảng Trạch;

Ngô Đăng Lâm,Ngô Đăng Hạp và một người chưa rõ tên liệt sỹ ở ATK Hương Khê.

Họ Trần Vỵ Xuyên

huyện Mỹ Lộc thành phố Nam Định

26 Ngô Thuận Tâm Con trai thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu,quê quán Cổ Bái,

sinh con trai Ngô Tất Thắng ra thừa tự ở hai ấp Vỵ Xuyên và

Cầu Gia, nguyên của Quỳnh Hoa và Quế Hoa hai Công chúa

và hai Mãnh tổ Ngô Chí Hoà,Ngô Chí Trung.

Mộ hai ông bà song táng ở đất Mộc tường cũ,nay thuộc xã

Thạch Ngọc,ở giữa Cổ Bái và Tự Cường,mộ hiện vẫn còn .

27 Ngô Tất Thắng Tri huyện Lập Thạch, ông ra thừa tự hai vị Mãnh tổ Ngô Chí

Hoà, Ngô Chí Trung và hai bà cô Quỳnh Hoa Công chúa, Quế

Hoa Công chúa, có hai ấp phong ở Vị Xuyên và Cầu Gia thuộc

huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định, sinh Ngô Tất Thông.

28 Ngô Tất Thông Viên ngoại lang, sinh Tất Đạt

29 Ngô Tất Đạt hiệu Hoạt giám Tiên sinh, sinh Tất Đoan

30 Ngô Tất Đoan Quang hiếu điện tự thừa tiến cống Thị lang, sinh Trần Huy

Phả cũ chú thích:”…Trong họ ta có ông Cống Sở, Vua sai ra dụ Tây Sơn.

Ông không dụ Tây Sơn, mà lại theo vua này, con cháu sợ liên luỵ, nên cải làm họ

Trần “.Như vậy có thể đổi họ khi Gia Long lên làm vua cả nước.

31 Trần Xuân Huy hiệu Diện Đạo Tiên ,sinh Xuân Dương, Xuân Sảng

32 Trần Xuân Sảng sinh Trần Xuân Hinh

33 Trần Xuân Hinh sinh Trần Xuân Hương

34 Trần Xuân Hương sinh Trần Xuân Quý

35 Trần Xuân Quý sinh Trần Xuân Lộc

36 Trần Xuân Lộc (mất 1958), sinh Trần Xuân Phong

37 Trần Xuân Phong (ks) sinh một trai một gái

Ngô Tất Đoan có em trai không rõ tên, con cháu cũng đều đổi họ Trần, là chi 2

ông Xá Triện đời thứ 36.

Họ Tam Đa, xã Quang Lộc,huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

27 Vỵ Quận Công (không rõ tên), con thứ Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh và bà Lê Thị Đệ .Bà là Quận chúa họ Trịnh sinh hai con trai:Ngô Phúc

Diên Diên Quận công Thủy Tổ họ Tam Đa nay ở xã Quang Lộc

huyện Can Lộc và Đề đốc Lý Quận công (thất truyền).

Dòng Diên Quận công phân chi họ An Lộc và họ Yên Lai.

28 Ngô Phúc Diên Diên Quận công,bà là Quận chúa họ Trịnh,sinh Ngô Phúc Cẩm,

Ngô Phúc Thuận, Ngô Phúc….

29 Ngô Phúc Cẩm Thuận lộc Hầu,Cấm y vệ Đô Chỉ huy sứ ty Đô Chỉ huy sứ,sinh

Ngô Phúc Lới,Ngô Phúc Tông.

29 Ngô Phúc Thuận Phó trung uý Chân Lộc Hầu,bà Nguyễn Thị Hành (phả cũ không

ghi con cháu).

29 Ngô Phúc… Chánh Đội trưởng Tại bá Hầu,bà Nguyễn Thị Sinh (không rõ

con cháu).

30 Ngô Phúc Lới Tương truyền bà Nguyễn Thị Chắt.

30 Ngô Phúc Tông bà Nguyễn Thị Hùng, sinh 8 trai 3 gái:

Ngô Phúc Bẩm ,chi trưởng;

Ngô Phúc Trọng bà Nguyễn Thị Du (thất truyền);

Ngô Phúc Chúc bà Nguyễn Thị Hiếu (thất truyền);

Ngô Phúc Lạng Chi thứ hiện nay;

Ngô Phúc Uy bà Nguyễn Thị Vương (thất truyền);

Ngô Phúc Hạo bà Nguyễn Thị Thuý (thất truyền);

Ngô Phúc Tài (mất sớm);

Ngô Khải (có truyền thuyết là thương gia ở Thăng Long ,có thể là nhầm,Ngô Khải phải là con Ngô Bẩm)

Ngô Thị … Ngô Thị ….Ngô Thị …..

Trên đây là ghi chép theo phả họ Tam Đa . Ngô Khải là con Ngô Tông, em Ngô Bẩm,phả họ An Lộc lại ghi Ngô Khải là Thủy Tổ con Ngô Bẩm đời thứ 32. Nghiên cứu các bản phả các chi họ Tam Đa,An Lộc,Yên Lai,đối chiếu với bối cảnh lich sử biến thiên đương Thời( Lê mạt,Tây Sơn,Nguyễn Gia Long thay nhau làm chủ Bắc Hà), những người có tên ghi trong phả đều làm tướng giúp Lê Trịnh ,sa cơ theo Vua Lê chúa

Trịnh.Khi đương làm quan làm tướng nói chung gia đình đều thường trú ở Thăng Long,Đan Liên sau là Trảo Nha chỉ là quê hương .Sau khi thất thủ Thăng Long,thay thấy đổi chủ, ngưòi thì tử trận,người thì đi đâu không biết nên thất truyền,những người quay về nguyên quán,mới bắt đầu tìm đất định cư để sinh sống,phát triển thành nhiều dòng họ ở mọi nơi lâu ngày không đi lại với nhau thành ra mất liên lạc, như Tam Đa,Yên Lai,An Lộc v. v…Vì những Nguyên Nhân trên cho nên phả mỗi nơi ghi chép tuy có chổ giống nhau mà nhiều chi tiết lại khác nhau.

31 Ngô Phúc Bẩm Bà Thân Thị Tùng, sinh Ngô Phúc Tuân,Ngô Khải (họ An Lộc)

(Họ Thân ở vùng Văn Cử Tam Đa nay là xã Xuân Lộc và

Quang Lộc,nguyên là họ Giáp,triều Nguyễn kỵ huý bắt đổi họ ,

các cụ trong họ bèn sửa chữ Giáp thành chữ Thân ( Viết cái sổ

chữ Giáp thò đầu lên trên).

32 Ngô Phúc Tuân Bà Thân Thị Khuyên, sinh Phúc Huyên,Phúc Đông (vô tự),Phúc

Phổ.

33 Ngô Phúc Huyên Ưu binh,bà Nguyễn Thị Đường, sinh Phúc Chân.

34 Ngô Phúc Chân bà Nguyễn Thị Hương, sinh Đức Khôi,Đức Thương(phạp),Đức

Cương.

35 Ngô Đức Khôi bà Nguyễn Thị Cang ,sinh Hoạch,Phúc và 5 gái.

36 Ngô Đức Hoạch bà Nguyễn Thị Hoà, sinh Nguyên,Tâm,Lợi,Ngụ,Thị Dưụ.

37 Ngô Đức Nguyên bà Nguyễn Thị Tý, sinh Hòa,Binh,Bào,Thị Tý,Thị Thuý.

38 Ngô Đức Hoà bà Nguyễn Thị Ngự, sinh Lưu,Tập,Tuyên,Chỉ,Thị Hàng.

38 Ngô Đức Bình bà Đặng Thị Mùi, sinh Tùng,Toại,Tư,Truyện.

38 Ngô Đức Bào bà Trần Thị Oanh, sinh Thị Thảo,Thị Hân,Đức Biên.

37 Ngô Đức Tâm bà Trần Thị Lý, sinh Song,Oánh,Phương,Thêm,Quy,Thị Thuyết,

Thị Mai.

38 Ngô Đức Song bà Phan Thị Oanh sinh Trà,Thị Nhung,Phương.

38 Ngô Đức Oánh sinh Đức Cao,Đức Đắc

37 Ngô Đức Lợi sinh Lam,Tiên,Thị Thuỷ,Hoa,Thi

38 Ngô Đức Lam sinh Đức Thao

36 Ngô Đức Phúc con Đức Khôi

36 Ngô Đức Nhu con Đức Cương

36 Ngô Đức Mỳ nt

36 Ngô Đức Minh con Đức Khoát

36 Ngô Đức Nam ( Liệt sỹ)

37 Ngô Đức Nghị con Đức Phú

37 Ngô Đức Huyền nt

37 Ngô Đức Phấn con Đức Nhu

37 Ngô Đức Thành con Đức Mỳ

37 Ngô Đức Tường (ls) nt

37 Ngô Đức Hợp con Đức Minh

37 Ngô Đức Hồng nt

38 Ngô Đức Thảo con Đức Nghị

38 Ngô Đức Hùng con Đức Phấn

38 Ngô Đức Dũng nt

38 Ngô Đức Huệ nt

31 Ngô Phúc Lạng con Ngô Phúc Tổng,bà Thân Thị Trường sinh Phúc Mạo.

32 Ngô Phúc Mạo sinh Phúc Nhân,Phúc Thực,Lan,Phúc Thuỵ.

33 Ngô Phúc Nhân sinh Khoá,Khanh

34 Ngô Phúc Khoá sinh Huệ,Lan,Thị Huê

35 Ngô Phúc Huệ sinh Phúc Cục và 1 gái

36 Ngô Phúc Cục sinh 5 trai 1 gái,con trai đầu vô tự.

35 Ngô Phúc Lan sinh 3 trai 1 gái

36 Ngô Phúc Thắng con Phúc Lan, sinh Ngô Tạo

37 Ngô Tạo sinh Viện,Mười,Thị Kiếm, Thị Khiên,Tiên,Thuỵ

38 Ngô Đức Viện sinh Đức,Nuôi ,Thị Cảnh

39 Ngô Đức Nuôi sinh Đức Anh,Đức An.

38 Ngô Đức Mười sinh Quyền,Nghĩa,Loan,Thị Dần,Mậu,Hân,Liên.

35 Ngô Đức Giới sinh Đức Dòng và 1 gái

36 Ngô Đức Dòng sinh Đức Cội và 6 gái

37 Ngô Đức Cội sinh Thụ,Mai,Kỳ, Thị Khương,Quý,Sửu ,Thược.

38 Ngô Đức Thụ sinh Tập,Thị Châu,Hồng,Lộc,Nhung

38 Ngô Đức Mai sinh Cân,Cừ,Đức ,Hanh,Thị Nhâm,Phúc

38 Ngô Đức Kỳ sinh Sơn,Trường

37 Ngô Đức Tam con ông Cục,sinh Soàn,Soạn,Phiên,Tựu,Hựu,Thị Phúc,Thị Tịnh

38 Ngô Đức Soàn sinh Bích,Tý và 3 gái

38 Ngô Đức Soạn sinh Quát,Nông,Thị Hương,Hoa,Thiều,Huyền

39 Ngô Đức Quát sinh Đức Cương

39 Ngô Đức Nông sinh Đức Trung

38 Ngô Đức Trung sinh Cường ,Quốc,Thị Hồng,Hà,Ngọc, Vĩnh

38 Ngô Đức Tựu sinh Khanh,Thị Bình

38 Ngô Đức Hựu (Ls),sinh Cần,Thị Kiệm

34 Ngô Phúc Khanh sinh Trực,Tịnh.Minh,Luân

35 Ngô Phúc Luân sinh Phi, Tài, Hoàn, Hai, Ba, Yên

36 Ngô Đức Phi sinh Phiên, Ninh, Yên,Danh Được

37 Ngô Đức Phiên sinh Đức Khoan (Ls), Thị Chất

37 Ngô Đức Yên sinh Đức Nhâm

37 Ngô Danh Được (con riêng bà Chọc) sinh Y, Cương,Thuần, Cửu, Thập, Thị Tam, Thị Tứ.

37 Ngô Đức Ninh sinh Thị Nguyện.

33 Ngô Phúc Thực sinh Phúc Thìn.

34 Ngô Phúc Thìn sinh Huân,Đinh, Thứ.

35 Ngô Phúc Huân sinh Thị Đảng,Đồ, Chị ,Đức Chu.

36 Ngô Đức Chu sinh Đức Trịnh, Đức Thịnh.

37 Ngô Đức Trịnh sinh Đức Kinh.

38 Ngô Đức Kinh sinh Trạch, Hải, Thị Chất,Đông,Đoài.

37 Ngô Đức Thịnh sinh Soạn, Sở, Dương, Luân, Thị Hệ.

38 Ngô Đức Sở sinh Long, Sơn, Hải, Thị Luyến, Duyên, Phương

38 Ngô Đức Dương (Ls) sinh Đức Dám

38 Ngô Đức Luân sinh Thị Thanh, Đức Hà

35 Ngô Đức Đinh sinh Đức Thống, Liên, Kềm

36 Ngô Đức Thống sinh Lương, Gia, Thị Tùng

37 Ngô Đức Lương sinh Yêm, Thiêm, Tuấn

38 Ngô Đức Yêm sinh Chương, Phương, Thị Biên, Lương, Loan

38 Ngô Đức Thiêm sinh Luật, Nhật, Vinh Quang và hai gái

38 Ngô Đức Tuấn sinh Khanh, Linh

36 Ngô Đức Liên sinh Đức Sen

37 Ngô Đức Sen sinh Đức Thuý và hai gái

38 Ngô Đức Thuý sinh Đức Chiến

36 Ngô Đức Kềm sinh Bằng, Bạn, Thị Hựu

37 Ngô Đức Bằng sinh Đức Khai (Ls)

35 Ngô Đức Thứ sinh Thị Ngu, Thị Tu, Thị Tân

33 Ngô Phúc Thuỵ sinh Phúc Gia, Phúc Dương

34 Ngô Phúc Gia sinh Phúc Sở

34 Ngô Phúc Dương nuôi con nuôi Ngô Phúc Diêu

35 Ngô Phúc Diêu sinh Đức Bối

36 Ngô Đức Bối không con, nuôi con nuôi Ngô Đức Phụ

37 Ngô Đức Phụ bà Nguyễn Thị Thương, sinh Đức Liệu, Đức Sỹ, Thị Diêu, Thị Sâm.

Chi họ Ngô An Lộc ( xưa là làng Lộc Nguyền ),huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

32 Ngô Khải con thứ Ngô Phúc Bẩm thiên cư về An Lộc cùng huyện ,

Hai bà Nguyễn Thị Bốn, Nguyễn Thị Phi.

32 Ngô Rựa em Ngô Khải, bà Nguyễn Thị Hoà.

33 Có các ông sau đây, phả cũ không phân biệt người nào con ông nào:

Ngô Huyền bà Nguyễn Thị Tôn

Ngô Thân bà Nguyễn Thị Nụ

Ngô Khê bà Nguyễn Thị Bài

Ngô Nhân bà Nguyễn Thị Hinh

Ngô Yến bà Phạm Thị Mơn

Ngô Đình bà Từ Thị Nắng

34 Ngô Tiên bà Hoàng Thị Thế

Ngô Lâm bà Nguyễn Thị Bạch, Nguyễn Thị Thái

Ngô Tiềm Thần sách quân Tiền dinh, Phấn vũ vệ Chánh Đội trưởng( thất

truyền).Thần sách quân là tên hiệu 1 đội quân ở tỉnh Nghệ

An, dưới triều Nguyễn Minh Mạng).

35 Ngô Ba

Ngô Liêu

Ngô Tài

Ngô Thiền

Ngô Giáp

Ngô Bính

Ngô Xoạn

Ngô Lan

Ngô Tiểu

Ngô Trực (Cả mấy người đời 35 trên đều thất truyền).

36 Ngô Huy bà Nguyễn Thị Lan

Ngô Ngật bà Phan Thị Khiết

Ngô Phi bà Đặng Thị Mộc

Ngô Thông bà Nguyễn Thị Hải

Ngô Hớn Thập lý Hầu (thất truyền)

Ngô Hoà Bà Nguyễn Thị Tới

Ngô Xe bà Nguyễn Thị Nê

Ngô Lạch bà Nguyễn Thị Hải

Ngô Anh bà Nguyễn Thị Việt.

37 Ngô Chúc bà Trần Thị Xoan

Ngô Sừng con Ngô Hộ

Ngô Trúc nt

Ngô Trạch nt

Ngô Rộng nt

38 Ngô Hoán

38 Ngô Hoàn bà Nguyễn Thị Tiêu

39 Ngô Bản bà Nguyễn Thị Bé

40 Ngô Quy bà Nguyễn Thị Hiền, sinh Thị Long,Ngô Ánh

Ngô Thuỷ bà Hồ Thị Xinh, sinh Thị Lưu,Thị Ý,Ngô Thắng,Thúc,Tỉnh

Ngô Dương bà Trần Thị An ,sinh Tuấn,Tái,Khương, Thị Lan,Thị Phương

39 Ngô Viêng bà Nguyễn Thị Bình, sinh Đức Vọng,Thị Quy, Kiên,Tờ,Tâm

40 Ngô Đức Vọng bà Nguyễn Thị Huệ, sinh Văn,Vũ,Thị Tuyết

38 Ngô Hoạch bà Nguyễn Thị Am, sinh Trương,Toàn

39 Ngô Trương bà Nguyễn Thị Tương, sinh Ngô Thanh,Thị Huệ

40 Ngô Thanh bà Nguyễn Thị Hằng ,sinh Ngô Hoàng

39 Ngô Toàn bà Nguyễn Thị Bài sinh Sách,Luân,Nhương,Giới,Thuỷ,

Thị Luân,Tảo,Thanh

40 Ngô Sách bà Nguyễn Thị Xương, sinh Ngô Thuận,Thị Tuyệt,Tuyết, Loan

Ngô Luân bà Nguyễn Thị Hương, sinh Thị Nguyệt,Ngô Lý,Ngô Lương

Ngô Nhương bà Nguyễn Thị Hà, sinh Ngô Tuấn,Ngô Duyên,Thị Phương

Ngô Giới bà Nguyễn Thị Thân, sinh Tình,Nam,Thị Bắc

Ngô Thuỷ bà Trần Thị Xuân

37 Ngô Rộng bà Tạ Thị Oanh, sinh Tròn,Tương,Tài,Vịnh,Thị Huấn

38 Ngô Tròn bà Đặng Thị Nhị, sinh Xơng,Cương,Luyện,Thị Tính,Biêng

39 Ngô Xơng bà Nguyễn Thị Quy, sinh Tăng,Thị Xứng,Lý

40 Ngô Tăng bà Nguyễn Thị Thanh, sinh Nam,Hải,Thị Lân

39 Ngô Cương bà Nguyễn Thị Sanh, sinh Cảnh,Quân

39 Ngô Luyện bà Trần Thị Hạ, sinh Lân,Lập,Thị Tuyên, Thanh

39 Ngô Biêng sinh Ngượng ,Thương,Thị Trông, Thấy

40 Ngô Ngượng bà Nguyễn Thị Tăng sinh Hà,nội,Thị Nguyệt,Thanh

40 Ngô Thương bà Nguyễn Thị Tiêm,Vũ Thị Tư,sinh Ngô Nhật và 3 gái.

Phái III

33 Ngô Ánh bà Trần Thị Nghiêm, sinh Ngô Duyệt

34 Ngô Duyệt bà Lê Thị Duy, sinh Ngô Đức

35 Ngô Đức sinh Ngô Yên

36 Ngô Yên bà Phan Thị Dinh, sinh Ngô Xân

37 Ngô Xân bà Phan Thị Tá, sinh Phùng,Rậm

38 Ngô Phùng bà Phan Thị Nhiên, sinh Nghinh, Đinh,Thị Khá

39 Ngô Đinh bà Nguyễn Thị Văng,sinh Ngô Vĩnh,Thị Hưng

40 Ngô Vĩnh bà Trần Thị Thanh và Phan Thị Biêng sinh Minh,Công,Quang

39 Ngô Nghinh bà Trần Thị Phiên sinh Thị Trung,Văn Phác.

Phái IV

33 Ngô Nhã sinh Ngô Rừng

34 Ngô Rừng bà Nguyễn Thị Ngật, sinh Ngô Reo

35 Ngô Reo bà Nguyễn Thị Liêm, sinh Ngô Tích

36 Ngô Tích bà Nguyễn Thị Được, sinh Thân,Thuý,Luyện

37 Ngô Thân bà Thị Nô,Thị Thực sinh Ngô Tộ

37 Ngô Thuý ba bà sinh Ngô Hoát,Ngô Khuân,Thị Nhơ

38 Ngô Tộ bà Nguyễn Thị Thiu, sinh Ngô Tiêu

39 Ngô Tiêu bà Nguyễn Thị Soa, sinh Thị Khương,Thị Nhưng,Ngô Tương,

Ngô Thắng,Ngô Minh

38 Ngô Hoát sinh Nguỵ,Tuyn, Huyn,Ngưu

39 Ngô Nguỵ bà Lưu Thị Thoan, sinh Ngô Trọn,Thị Ngoéc,Thiu,Phiên

40 Ngô Trọn bà Nguyễn Thị Vinh, sinh Ngô Thái,Thị Vinh

41 Ngô Thái bà Nguyễn Thị Nhuỵ, sinh Thuận,Luân,Thị Xoan

42 Ngô Thuận bà Nguyễn Thị Tăng, sinh Ngô Duẫn.

DÒNG PHÓ TƯỚNG THÁI BẢO TÀO QUẬN CÔNG NGÔ PHÚC VẠN

Xã Trảo Nha huyện Thạch Hà,nay thuộc thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh

Dòng dõi Tào Quận công Ngô Phúc Vạn chia làm 10 chi,Từ đường đặt tại Trảo Nha, nay thuộc Thị trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

CHI TRƯỞNG

28 Ngô Phúc Thiêm Nhuận Quận công (1628-1662)

Con trưởng Tào Quận công Ngô Phúc Vạn và Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Uyên,

Chính thất Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Mai,con gái Thanh Đô Vương Trịnh Tráng,ông ly dị khi chưa có con.

Bà thứ Lê Thị Điều, tục gọi là Bà Thượng cũng không có con,vì vậy phả cũ chép là vô tự.

Tào Quận công từ trần,di chúc giao hương hỏa cho Hàn Quận công Ngô Phúc

Đang,con thứ hai lên thế trưởng.Mấy trăm năm sau đến gần đây có hai dòng họ tìm về nhận Tổ,mới biết là Ngô Phúc Thiêm còn có hai con trai nối dòng đến ngày nay.

Trong thời kỳ bị biếm ở Thăng Long,ông có bà thiếp họ Nguyễn,sinh một con

trai Ngô Phúc Thiên.

Sau khi được lệnh cầm quân vào Nghệ An trở ra,Ngô Phúc Thiêm từ trần.Bà họ Nguyễn đã đem con trai về Hải Dương,sinh con đẻ cháu thành chi họ Ngô ở xã Chi Lăng Bắc,huyện Ninh Thanh tỉnh Hải Dương (thuộc trấn Hải Dương cũ).

Sau ngày chiến thắng ở bờ nam sông Lam ,được phục hồi chức tước đóng quân

tại huyện nhà,ông có lấy thêm bà thiếp họ Mai,người làng Hàm Anh (nay thuộc

xã Tân Lộc huyện Can Lộc).Vừa lúc ông từ trần, bà sinh một con trai Ngô Phúc

Tiến,sinh sống tại quê Hàm Anh.

Người con trai ấy trở thành Thủy tổ chi họ Ngô Tân Lộc ngày nay.

Thụy hiệu Nhuận Quận công:

Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tham đốc thần vũ Tứ vệ, tặng Nam quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiểm sự Nhuận Quận công, Thượng Trụ quốc, Ngô Tướng công tự Chân Thể, thuỵ Thận Ý phủ quân.

Họ Ngô Chi Lăng Bắc

Huyện Ninh Thanh tỉnh Hải Dương

Chia làm hai chi,một ở thôn Phù Khê,một ở thôn Tào Khê.

1.Chi Phù Khê

29 Ngô Phúc Thiên Con trai Nhuận Quận công Ngô Phúc Thiêm, là Thủy tổ,sinh

Ngô Phúc Thực ở Phù Khê,Ngô Phúc Chinh ở Tào Khê,Ngô

Phúc Đáng (biệt tích),Ngô Phúc Nghĩa ở Vĩnh Mô.

30 Ngô Phúc Thực sinh Ngô Phúc Thâm

31 Ngô Phúc Thâm sinh Ngô Phúc Hớn,Phúc Bề,Phúc Thiền(biệt tích)

32 Ngô Phúc Bề sinh Phúc Tiệc

32 Ngô Phúc Hớn sinh Phúc Châm

33 Ngô Phúc Châm sinh Phúc Thóang,Phúc Sáng,Phúc Tộ,Phúc Vệ (ở Yên Thành Nghệ An)

34 Ngô Phúc Thóang sinh Phúc Hùng ( ls),Phúc Thâm,Phúc Sứ,Phúc Âm

34 Ngô Phúc Sáng sinh Phúc Đông,Phúc Đăng

34 Ngô Phúc Tộ sinh Phúc Thắng

34 Ngô Phúc Vệ sinh Phúc Huy,Phúc Khánh

33 Ngô Phúc Tiệc sinh Phúc Tiệp,Phúc Nhỏ,Ngô Phúc

33 Ngô Phúc Nhỏ sinh Phúc Chung

33 Ngô Phúc sinh Văn Đang

34 Ngô Văn Đang sinh Văn Đáng,Văn Thoa,Văn Đóa

2.Chi Tào Khê

30 Ngô Phúc Chinh sinh Phúc Huy

31 Ngô Phúc Huy sinh Phúc Chích

32 Ngô Phúc Chích sinh Văn Lẫm

33 Ngô Văn Lẫm sinh Cường,Di,Cương,Huy,Liễu,Lang,Khước,Mỹ

34 Ngô Văn Khước sinh Văn Thược (Ls.),Văn Lư

34 Ngô Văn Cương sinh Văn Thị nh

34 Ngô Văn Mỹ sinh Văn Cư,Văn Huyên,Văn Định,Văn HọaT.

Họ Ngô Hàm Anh, xã Tân Lộc,huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

29 Ngô Phúc Tiến Con trai Nhuận Quận công Ngô Thúc Thiêm và bà họ Mai.

Bà Phan Thị Thảo,ở giáp Văn Nam làng Văn Mua xã Hàm Anh

huyện Thiên Lộc cũ,sinh Phúc Hòan,Phúc Tiếu (thất truyền).

30 Ngô Phúc Hòan bà Ngô Thị Bường sinh Ngô Xanh.

31 Ngô Xanh tự Xuân Vinh,bà Phạm Thị Thái sinh Ngô Ngôi,Ngô Thường (thất

truyền),Thị Diệt.

32 Ngô Ngôi sinh Ngô Bôi.

33 Ngô Bôi bà Nguyễn Thị Lao sinh Ngô Lồng.

34 Ngô Lồng sinh Ngô Vừng,Ngô Tiền,Ngô Quang (thất truyền),Ngô Bẹn.

35 Ngô Vừng sinh Ngô Huy,Ngô Kính,Ngô Tiệm.

36 Ngô Huy sinh Ngô Tố.

36 Ngô Kính sinh Ngô Nhân,Thị Diêm.

37 Ngô Tố sinh Kiềng,Phố,Trường,Oanh,Dục,Liếng.

38 Ngô Kiềng sinh Hào,Khôi,Chùm,Mảng,Diêu,Thị Diệm.

39 Ngô Hào sinh Dong,Niệm,Thiên

39 Ngô Khôi sinh Ngô Dịu

40 Ngô Dịu sinh Kim,Châu,Thu,Vậy,Thị Rum

40 Ngô Dong sinh Tụy,Khang,Thị Vị

40 Ngô Thiện sinh Tạo ,Vân,Tuyên,Thị Mây

40 Ngô Niệm sinh Tịch,Mịch,Vơn,Kiên

41 Ngô Kim sinh Tường,Tân,Thị Tuynh,Đô,Tôn

41 Ngô Vậy sinh Thiên,Đô,Phan,Toa,Thị Thích,Thị Sen

41 Ngô Tụy sinh Ngô Khôn,Thị Chất,Hai,Cam,Trăng,Nhung

41 Ngô Khang sinh Bình,Lan,Thái,Thị Tân,Truyện,Thanh

41 Ngô Đức Tạo sinh Trân,Linh,Thị Chơn,Tích,Tiu

41 Ngô Đức Vân sinh Mạnh,Dương,Hưu,Thị Nhân

41 Ngô Đức Tuyên sinh Vĩnh,Vương,Thị Song,Hà

41 Ngô Mịch sinh Nhơn,Phúc,Thị Bông

41 Ngô Vơn sinh Thị Ninh

42 Ngô Tường sinh Bôn,Thị Lai,Đức Nhi,Bình,Cánh

42 Ngô Đức Truyện sinh Lộc,Hồng(Ls.),Thao,Xuân,Thị Hiền,Tiêu,Gạc

42 Ngô Đô sinh Luận,Hựu,Táo,Hào,Thị Thương

  1. Ngô Khôn Trưởng tộc,sinh Phú,Đồng,Thị Hoa,Phương,Thanh

42 Ngô Đức Bình sinh Dương,Thông,Đệ,Thị Tịnh,Đồng,Thương,Hồng,Tuyết,Đức,

Quyết

  1. Ngô Đức Thái sinh Tô,Thị Tùng,Liên

  1. Ngô Trân sinh Hùng,Quân,Vy

42 Ngô Đức Mạnh sinh Thị Phương,Thị Luyện

42 Ngô Đức Dương sinh Mậu,Thị Dung

42 Ngô Đức Hưu sinh Đức Nghị

42 Ngô Đức Vinh sinh Thuần,Thị Nga,Vân

42 Ngô Đức Vương sinh Đức Thị nh,Thị Thanh

42 Ngô Đức Nhơn sinh Tình,Quyến,Thị Thu

42 Ngô Đức Phúc sinh Thường,Thị Nhuận,Thâu

43 Ngô Đức Bôn sinh Ngô Phùng(Ls.),Sơn,Chung,Bưởi,Thị Thư,Bư,Thủy,Nhan

Chiên,Tâm

43 Ngô Đức Nhi sinh Hải,Vịnh,Thi Tuyết,Mai

43 Ngô Đức Cánh sinh Quý,Sửu,Tuất,Lân,Thi Hoa

43 Ngô Đức Lộc sinh Bảo,An,Hóa,Thị Khánh

43 Ngô Đức Hồng sinh một gái

43 Ngô Đức Thao sinh Hùng,Quán,Hinh ,Nghiêm,Thị Vinh

43 Ngô Đức Hựu sinh Tư,Thú

43 Ngô Đức Xuân sinh Chính,Thức,Thị Long,Nguyệt

43 Ngô Đức Luận sinh Lanh,Thị Long,Gáy,Rô,Dung

43 Ngô Đức Phú sinh Thôn,Nhâm,Thi

43 Ngô Đức Dương sinh Thị An

44 Ngô Đức Sơn sinh Hùng,Thị Hương,Thị Hòai

44 Ngô Đức Chung sinh Tùng,Tài, Thị Dương

44 Ngô Đức Bưởi sinh Đức Tư

44 Ngô Đức Hải sinh Đức Trung,Thị Hiền,Thị Trà.

CHI II HỌ NGÔ THỔ SƠN

huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

28Ngô Phúc Đang Hàn Quận công, con Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,

sinh -Huân cơ Hầu Ngô Phúc Huân,

-Trạc võ Hầu Ngô Phúc Kỳ,

-Thuật võ Hầu Ngô Đôi.

29 Ngô Phúc Huân Huân cơ Hầu,sinh Long võ Hầu.

30 Long võ Hầu sinh Thanh vân Hầu.

31 Thanh vân Hầu sinh Đoan thọ Bá.

32 Đoan thọ Bá sinh Ngô Phúc Bảng.

33 Ngô Phúc Bảng sinh Phúc Lịch,Phúc Nhạc,Phúc Dõan.

34 Ngô Phúc Lịch sinh Phúc Liêm,Phúc Mạc(thất truyền).

34 Ngô Phúc Nhạc sinh Phúc Thân,Phúc Đuơng(vt).

35 Ngô Phúc Liêm tử trận trong Bình Tây sát tả,sinh Phúc Xoang,Phúc Tôn,Phúc Xuy.

36 Ngô Phúc Xoang sinh Ngô Tường,Ngô Vượng.

37 Ngô Tường sinh Ngô Nhật,Ngô Dạ.

37 Ngô Vượng sinh Ngô Anh,Hợi,Ngụ,Lục,Nguyên.

38 Ngô Dạ sinh Ngô Căn,Vinh,Đại,Thị Tám

38 Ngô Nhật sinh Bản,Thủy,Thụy,Khôi,Nhạ,Thị Mai,Lý,Hoa

38 Ngô Đức Anh sinh Quả,Thành,Tích,Lộc và năm gái

38 Ngô Đức Hợi sinh Dung,Tân,Tiến,Phục và ba gái

38 Ngô Đức Ngụ sinh Hậu,Trung,Tú và hai gái

36 Ngô Phúc Xuy sinh Ngô Đình

37 Ngô Đình sinh Đức Khắc,Đức Cát

38 Ngô Đức Khắc sinh Thị Hương,Đức Trung,Thị Hoa,Thị Nguyệt

38 Ngô Đức Cát Pts,sinh Đức Thanh,Thị Minh,Thị Thảo .

35 Ngô Phúc Thân Ở Tiến Lộc ,sinh Ngô Thọ,Ngô Xương,Ngô Xý

36 Ngô Thọ sinh Ngô Lục,Ngô Niên

37 Ngô Đức Lục sinh Ngô Vỵ,Kiên,Hùng

37 Ngô Niên sinh Đức Chắt

36 Ngô Xương sinh Đức Khác,Đức Bát

36 Ngô Xý sinh Đức Phan,Đức Trâm.

29 Ngô Phúc Kỳ Trạc võ Hầu

Tự Diên Khánh,Điện tiền Đô kiểm điểm ty Hữu kiểm điểm,Đại

tiến vụ Huân tướng quân Thự vệ sự.

Hai bà, sinh: -Ngô Phúc,

-Dự võ Hầu (không rõ tên)

30 Ngô Phúc Ở Trảo Nha.

30 Dự võ Hầu Ở Bảo Sơn.Dòng Trưởng bị mất phả,nay là phái Ngô Diễn,

chưa có thế thứ.

31 Ngô…tự Biểu con thứ Dự võ Hầu,sinh Đức Tiến,Đức Cơ(ở Đậu Liêu).

32 Ngô Đức Tiến sinh Đức Học(vt),Đức Ấn.

33 Ngô Đức Ấn sinh Đức Diến và một gái.

34 Ngô Đức Diến sinh Đức Bình,Đức Lương ,Thị Thanh Hải.

35 Ngô Đức Lương sinh Thị Hòang Giang,Thị Khánh Lý,Đức Lan.

36 Ngô Đức Lan sinh Đức Tuân.

29 Phái Ngô Đôi Thuộc dòng Thuật võ Hầu,ở Trảo Nha,phả bị thất lạc.

30 Ngô Trí Nghĩa

31 Ngô… tự Bắc Ninh

32 Ngô… tự Văn

33 Ngô… tự Thanh Tín

34 Ngô Đức Ba sinh Đức Thư,Đức Đôi,Đức Tam,Đức Năm

35 Ngô Đức Thư sinh Đức Nghi

36 Ngô Đức Nghi sinh Đức Dân,Thị Nga và bốn em không rõ tên

35 Ngô Đức Đôi sinh Đức Thanh,Đức Vinh và ba gái

36 Ngô Đức Thanh sinh Ngô Tuân,Thi Châu,Thị Loan,Thị Tuyết

36 Ngô Đức Vinh sinh Ngô Việt,Ngô Đức

35 Ngô Đức Tam sinh Đức Phú

36 Ngô Đức Phú sinh Đức Tuân,Thị Tú

35 Ngô Đức Năm sinh Đức Hòa,Thị Thùy,Thị Thu.

Phái Bảo Sơn,Tiên Lương, huyện Thạch Hà,tỉnh Hà Tĩnh

30 Dự võ Hầu sinh -Trung trực Công về ở Bảo Sơn,

-Ngô Phúc Thạnh về ở Tiên Lương .

31 Trung trực Công sinh Ngô Phúc Lương ở Bảo Sơn.

32 Ngô Phúc Lương sinh Phúc Sinh

33 Ngô Phúc Sinh sinh Phúc Lợi,Phúc Nhạc đến nay đã 7 đời.

31 Ngô Phúc Thạnh Chánh đội trưởng kiêm Tổng tri,sinh Phúc Dạng,Phúc Dụng,Phúc

Lượng(ở Tiên Lương).

32 Ngô Phúc Dạng sinh Phúc Lợi (chín anh em)

32 Ngô Phúc Dụng sinh Phúc Diên,về ở Phù Việt

32 Ngô Phúc Lượng sinh Phúc Giao,Phúc Thông (ở Phù Việt)

33 Ngô Phúc Lợi sinh Phúc Tôn,Phúc Nhai,Phúc Đáng,Phúc Từ

34 Ngô Phúc Tôn sinh Phúc Đinh

35 Ngô Phúc Đinh sinh Phúc Luật,Phúc Từ

34 Ngô Phúc Đáng sinh Phúc Cư

34 Ngô Phúc Từ sinh Phúc Nghiêm

35 Ngô Phúc Nghiêm sinh Phúc Ngôn,Phúc Ngữ.

CHI III HỌ NGÔ CHÂU ĐỐC

28Ngô Phúc Hạp Đằng Quận công ,con trai thứ ba Tào Quận công Ngô Phúc Vạn.

Sau ngày Tào Quận công từ trần(1652),ông là Chân kỳ Hầu khi mới 25 tuổi,là tướng trẻ có tài,được Chúa Trịnh giao cầm quân vào đất Chiêm Thành cũ,đánh sau lưng quân Chúa Nguyễn.Đi quá sâu vào Châu Đốc,vợ con Ông ở lại đó không trở về quê củ Trảo Nha.

Nay thành một chi họ Ngô ở ấp Châu Thới 2,Thị xã Châu Đốc,đã ra liên lạc nhận gốc Tổ.

Chi họ hiện nay chưa ghi chép thế thứ.

CHI IV HỌ NGÔ PHÙ MỸ BÌNH ĐỊNH

28 Ngô Phúc Tân Đáng Quận công ,con thứ tư Tào Quận công Ngô Phúc Vạn.

Mới trên 20 tuổi tước Khiêm cung Hầu,ông cầm quân vào đánh

Điện Bàn thuộc trấn Quảng Nam.Tương truyền ba anh em (Đằng Quận công Ngô Phúc Hạp,Đáng Quận công Ngô Phúc Tân,Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều-Tồn nghi) bị sa cơ trong chiến đấu,không trở về được,phải ở lại.

Tước Quận công là tước phong tặng sau này.

Người anh lấy tên Ngô Hân,người em tên Ngô Chúng cùng ở huyện Phù Ly,

sau chia thành hai huyện là Phù Mỹ và Phù Cát.Người em sinh Ngô Thị Dũng,

hai cha con di cư vào nam Phú Yên,rồi qua Gia Định,còn tồn nghi,đến nay chưa xác định được cụ thể.

28 Thủy tổ Ngô Hân sinh Ngô Dụng.

29 Ngô Dụng Bà họ Hòang sinh Thị Khinh,Ngô Bình,Ngô Tấn Khương (thiên cư

ra xã Bình Tú Thăng Bình Quảng Nam),Ngô Triều,Ngô Lộc,Ngô

Tá,Ngô Minh.

30 Ngô Bình Bà họ Thái sinh Thị Thuyết,Ngô Di,Ngô Sự,Ngô Mỗi,Ngọ An,

Ngô Khang,Ngô Dân,Ngô Náo.

30 Ngô Minh Bà Nguyễn Thị Hốt sinh Thị Tư,Ngô Ư

31 Ngô Di Bà họ Đặng sinh Ngô Thúy,Ngô Bệ,Ngô Luân

32 Ngô Thúy Bà họ Bùi sinh Thị Lục,Thị Thìn,Ngô Huyên,Ngô Chấn,Ngô

Thịnh,Ngô Sử,Thị Đa,Thị Xứng,Thị Lợi,Ngô Huy

33 Ngô Huyên Bà Thái Thị Nghiêm sinh Thị Lương,Thị Nghi,Ngô Nguyên.

Bà thứ họ Nguyễn sinh Ngô Chu,Ngô Đức

33 Ngô Chấn sinh Thị Diệm

33 Ngô Thị nh sinh Thị Hòang

33 Ngô Sử sinh Ngô Phụng

33 Ngô Huy sinh Ngô Chim,Ngô Nga,Thị Nguyệt,Ngô Trột,Ngô Sự,Ngô Liệu

32 Ngô Bệ Bà Đỗ Thị Tục

32 Ngô Luân Bà Nguyễn Thị Nguyệt sinh Ngô Tây

33 Ngô Tây sinh Ngô Diệu

34 Ngô Nguyên bà Đặng Thị Chiêu sinh Ngô Bân,Ngô Triêm,Ngô Trinh,Thị

Tính,Ngô Nghĩa,Ngô Vy, Ngô Trật,Ngô Tròn

34 Ngô Chu Ngô Đức Ngô Phụng Ngô Chim

Ngô Nga Ngô Trột Ngô Sự Ngô Liệu

Ngô Diệu

35 Ngô Bân Ngô Triêm Ngô Trinh

Ngô Nghĩa Ngô Vy Ngô Trật Ngô Tròn

Ngô Điều Ngô Đông Ngô Kỳ

Ngô Khải Ngô Thiều Ngô Quý

36 Ngô Tăng Ngô Kính Ngô Thân

Ngô Oai Ngô Còn Ngô Trinh

Ngô Hung Ngô Tào Ngô Xuân

Ngô Hưu Ngô Nghi Ngô Lâm

Ngô Bội Ngô Quẹt

37 Ngô Thăng Ngô Thư Ngô Dõan Trinh

Ngô Khuê Ngô Tụ Ngô Ngung

Ngô Xuân Ánh Ngô Thành Chương Ngô Can

Ngô Tòng Bá Ngô Thâu Ngô Mẩm

Ngô Thanh Ngô Hớn Ngô Vui

Ngô Thống Ngô Hòa Ngô Văn Ngó

Ngô Văn Quảng Ngô Văn Trung Ngô Văn Thành

Ngô Văn Hùng

38 Ngô Xuân Mai Ngô Đình Phùng Ngô Đình Cháu

Ngô Đình Bàn Ngô Dõan Văn Ngô Văn Thuật

Ngô Xuân Thành Ngô Thanh Hải Ngô Thành Tâm

Ngô Thanh Chín Ngô Thanh Mười Ngô Thanh Dư

Ngô Xuân Hùng Ngô Xuân Lê Ngô Xuân Lý

Ngô Quang Liêm Ngô Quang Úc Ngô Quang Vạn

Ngô Đàm Ngô Tòng Vĩnh Ngô Đình Liệp

Ngô Minh Hòang Ngô Tòng Hào Ngô Tòng Hảo

Ngô Tòng Phước Ngô Minh Chính Ngô Tòng Bôn

Ngô Mạnh Hùng Ngô Minh Nhật Ngô Minh Trí

Ngô Xuân Hùynh

39 Ngô Xuân Tòng Ngô Xuân Tân Ngô Minh Đường

Ngô Minh Tân Ngô Nguyên Khôi Ngô Nguyên Hàng

Ngô Đạt Thông Ngô Đức Thị nh Ngô Bửu

Ngọ Anh Kiệt Ngô Văn Tòan Ngô Văn Lâm

Ngô Quang Sum Ngô Quang Thi Ngô Quang Dân

Ngô Quang Ngạn Ngô Hải Bình Ngô Đình Luyện

Ngô Đình Lân Ngô Đình Lam

HỌ NGÔ TRƯỜNG AN

Xã Bình Tú huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam

30 Ngô Tấn Khương Con thứ Ngô Dụng ở Phù Mỹ Bình Định.

Làm quan võ trong quân Chúa Nguyễn đóng ở vùng bắc Quảng Nam

vào cuối thế kỷ 16.

Chán ghét chiến tranh,ông bỏ ngũ về Trường An lập gia đình,

sinh ba con trai:

Ngô Tòan,Ngô Du,Ngô Giáo,vào đời thứ 31.

Trong ba người trên chưa rõ Ngô Tấn Thành là con vị nào.

Còn những người khác tuy chưa thực rõ nhưng về dòng dõi

từ đời thứ 32 trở đi thì có được ghi chép lại.

Trở lên trên là theo văn bản bút tích của Ông Ngô Tấn Đức (1706-1774),

Cử nhân,còn để lại.

31 Ngô Tòan

Ngô Du

Ngô Giáo

32 Ngô Tấn Thành Sinh Tấn Xuân,Tấn Cảnh,Ngô Y,Ngô Thùy,Ngô Lý,Ngô

Nang,Ngô Hề,Ngô Chợ,Thị Viện,Thị Chỉ,Thị Cao,Thị Minh.

33 Ngô Tấn Xuân sinh Tấn Học,Tấn Dương(cả gia đình dời vào Quảng Phú huyện

Tam Kỳ,ngày nay có trên 30 hộ,hơn 100 nhân khẩu).

33 Ngô Tấn Cảnh Bà Nguyễn Thị Lâm sinh Tấn Triều

34 Ngô Tấn Triều Bà Võ Thị Huệ sinh Tấn Đức

35 Ngô Tấn Đức 1706-1774,đỗ Cử nhân khoa 1727,không làm quan triều Chúa

Nguyễn.Bà Phan Thị Tựu con gái Lễ bộ Tả Thị lang Phan Khắc

Thuật(thời Lê Trịnh),cụ về hưu dạy học.Lúc đó Tấn Đức là học

trò,lấy con gái thầy học là một nữ nho sinh.Phả chép Phan Khắc

Thuật đỗ Tiến sỹ,trong Đăng khoa lục không tìm thấy tên,

có thể lúc đi thi mang tên khác.

Sinh Tấn Sở,Tấn Mỹ,Tấn Chai,Thị Di.

36 Ngô Tấn Sở Hai bà Hùynh Thị Tự,Nguyễn Thị Kế,sinh Thạch,Cực,Nho,Lương,

Năng,Trương,Thị Tình.

36 Ngô Tấn Mỹ Bà Phan Thị Chất sinh Vinh,Nghĩa,Hy,Hữu,Thị Dõng,Thị Thôi

37 Ngô Tấn Trương Bà Trần Thị Quy sinh Sửu,Hài,Vinh,Thức,Tri,Thị Tĩnh.

37 Ngô Tấn Vinh Tú tài,bà Trương Thị Lệ sinh Giảng,Vịnh,Thuyết,Thị Ngữ,

Thị Thi,Thị Ngự và ba con trai khác không rõ tên.

38 Ngô Tấn Sửu bà Lương Thị Diều sinh Tấn Dổng

38 Ngô Tấn Hài bà Nguyễn Thị Phổ (nữ nho gia),sinh Chứng,Thí,Bình,Chì

38 Ngô Tấn Vinh bà Nguyễn Thị Bỉnh sinh Trì,Liễn,Hậu ,Ưu

38 Ngô Tấn Thức bà Nguyễn Thị Lắm sinh Thống,Chất

38 Ngô Tấn Tri bà Hùynh Thị Lưu sinh Phi,Sửu

38 Ngô Tấn Giảng bà Nguyễn Thị Đãi sinh Tập,Mẻn,Nhỏ,Tín,Thị Đàm,Thị Mai

38 Ngô Tấn Vịnh bà Trịnh Thị Trí sinh Huấn,Dụ,Thảo,Thí,Thị Vị,Thị Chí,Mén lớn,

Mén nhỏ,Đỉnh,Một

39 Ngô Tấn Dổng bà Hồ Thị Quán sinh Tường,Thị Xử,Thị Thêm

39 Ngô Tấn Chứng bà Trần Thị Chút sinh Cầu,Sanh,Cầm,Thị Liễm,Thị Quyển

39 Ngô Tấn Thí bà Phan Thị Doãn sinh Khả,Thị Cái,Thị Thu

39 Ngô Tấn Bính bà Phan Thị Muối sinh Thảng,Bảng,Đình,Đốm,Thị Đản,Thị Đen

39 Ngô Tấn Trì bà Phan Thị Kon và Trần Thị Danh sinh Phàn ,Diệm,Thị Việm

39 Ngô Tấn Hậu bà Trần Thị Quá sinh Vàng,Mực,Tấn,Nhí,Đốm,Thị Xuân,Thị Đực,

Thị Muôn

39 Ngô Tấn Liễn bà Kiều Thị Chi sinh Diện,Địch,Thi Dư,Tiền,Tài,Liệu,Thị Đối,

Thị Cầm

39 Ngô Tấn Thống bà Nguyễn Thị Phẹt sinh Bồi,Bùi,Tý,Lạc,Lập,Thị Ngận

39 Ngô Tấn Chất bà Trần Thị Xuyến và Trần Thị Dễ sinh:

Tặng,Tăng,Hựu,Trình,Chư,Ký,Khóa,Tùng,Thị Văn,Thị Môn

39 Ngô Tấn Phi bà Nguyễn Thị Sửu sinh Thị Dần,Thị Sùng

39 Ngô Tấn Lập bà Trần Thị Cát sinh Tụng,Huân,Bé,Thị Chí,Thị Cái,Thị Mực,

Thị Muôn

39 Ngô Tấn Mẻn bà Phan Thị Tự sinh Nguyễn,Thị Khanh,Thị Lai,Thị Hạnh,Thị Lại

39 Ngô Tấn Nhỏ bà Trương Thị Nhẫn sinh Lượng,Khương

39 Ngô Tấn Tín bà Lê Thị Sim sinh Tế,Thị Hành

39 Ngô Tấn Huấn bà Phan Thị Di sinh Cáo,Ngạn,Khóa,Thị Quý,Thị Điệp,Thị Cái

39 Ngô Tấn Dụ Tú tài,Giáo sư 1912,có hai bà Võ Thị Điền và Đồng Thị Tài sinh

Ngạc,Huy,Thị Cái

39 Ngô Tấn Thảo bà Lê Thị Hiếu sinh Lý,Hầu,Xuân Lan,Thu Cúc,Lệ Thủy,

Thanh Hương

39 Ngô Tấn Thí bà Nguyễn Thị Vỹ sinh Khải,Hoan,Thành,Liên,Thị Ngộ

Thị Hứa,Thị Tọai

40 Ngô Tấn Tường bà Kiều Thị Mót sinh Đạt,Trí,Thị Đô,Thị Tài,Thị Thành,Thị Lợi,

Thị Hoa,Thị Xuân

Ngô Tấn Cần bà Kiều Thị Lòng sinh Cao,Thị Thỏa,Thị Hơn,Mẫn,Hiệp,Thương,

Bằng,Liên

Ngô Tấn Cầm bà Lê Thị Phương sinh Tư,Tài,Thị Phượng

Ngô Tấn Bản bà Hồ Thị Lai sinh Cù,Cảnh,Thị Tảo,Thị Đón

Ngô Tấn Đình bà Nguyễn Thị Liên sinh Quý,Thị nh,Hoa,Hoanh,Sum,Thị Hồng

Thị Xí

Ngô Tấn Đớm vợ ở Quảng Ngãi

Ngô Tấn Phàn bà Kiều Thị Hương sinh Cơ,T hị Hương,Thị Nhị

Ngô Tấn Diệm bà Nguyễn Thị Khương sinh Tạo,Phiên,Tòan,Thành,Công,

Thị Thiên,Thị Kim

Ngô Tấn Vàng bà Hồ Thị Củng sinh Nhân,Hội,T hị Hảo,Thị Phú,Thị Quới,Thị Đa,

Thị Hội, Ngộ, Tùng

Ngô Tấn Tấn bà Trần Thị Cái sinh Tới,Dung,Dũng,Đông,Thị Cho,Thị Thu

Ngô Tấn Lâm vợ ở Hải Phòng

Ngô Tấn Nhí bà Hồ Thị Sâm sinh Hòang,Hùng,Hà ,Thị Hồng,Thị Mai,Trang,Thủy

Ngô Tấn Địch bà Phạm Thị Sự sinh Tiến ,Tam,Tương,Tứ,Thị Hoa,Thị Tùng,

Thị Thu,Thị Trí,Thị Tâm

Ngô Tấn Tiền bà Nguyễn Thị Sâm sinh Dũng,Tuấn,Hòang

Ngô Tấn Dư vợ ở Tây Nguyên

Ngô Tấn Liệu bà Nguyễn Thị Hoa sinh Quang,Sung,Y,Khoa,Nết,Cá,Duy,

Thị Nga,Thị Kiều,Thị Trâm

Ngô Tấn Bồi bà Phạm Thị Luyến sinh Thiên,Thắng,Thạnh,Nghiêm,Lan,

Thị Vinh,Thị Hoa,Thị Hồng

Ngô Tấn Bùi bà Nguyễn Thị Chưa sinh Cảnh

Ngô Tấn Tý bà Nguyễn Thị Dầm sinh Dũng,Khá,Hối,Thị Mai

Ngô Tấn Lạc bà Hồ Thị Phú và Trịnh Thị Châu sinh Hùng,Hiệp,Thị Quới,

Thị Hạnh,Thị Huệ

Ngô Tấn Lập bà Trần Thị Tâm sinh Công,Hưng,Thị Thành,Thị Hòang,Thị Hường

Ngô Tấn Tặng bà Vương Thị Hiếu và Phạm Thị Thủy sinh Phước,Tuấn,Bá,Nho,

Quang,Thị Thiệu,Thị Loan,Thị Khánh,Thị Lộc,Thị Bê,Thị Diệu,Thị Hòa

Ngô Tấn Tăng bà Nguyễn Thị Beo sinh Thị Bán,Thị Em,Thị Đa

Ngô Tấn Hậu bà Nguyễn Thị Lai sinh Lan

Ngô Tấn Trình bà Hùynh Thị Liên sinh Tiên,Dương,Phú,Sỹ,Thị Nga,Ngọc

Ngô Tấn Tùng bà Trương Thị Thảo sinh Huy,Minh,Thư,Anh Thư,Thiên Thư

Ngô Tấn Sỹ Tụng Cử nhân tóan,bà Trần Thị Hoa và Nguyễn Thị Sinh sinh Tịnh,Hảo

Ngô Tấn Huân bà Võ Thị Liễu sinh Trương,Trung,Khôi,Dũng,Thị Văn,Thị Giáo,

Thị Hiền

Ngô Tấn Gia Nguyên bà Hùynh Thị Thời và Công Thị Gái sinh Hùng,Sơn,Lĩnh,

Thị Hoa,Thị Hồng

Ngô Tấn Lượng bà Trần Thị Mai sinh Thủy

Ngô Tấn Khương bà Hồ Thị Thái sinh Hòang,Long,Ký,Khoa,Thị Nga,Thị Hoa

Thị Huệ,Thị Sửu,Thị Dung

Ngô Tấn Cáo bà Nguyễn Thị Thể sinh Thế,Hội ,Thừng,Công,T hị Nữ,

Thị Phiêu,Thị Phượng

Ngô Tấn Ngạn bà Châu Thị Cưu sinh Bảy,Thị Thanh

Ngô Tấn Khóa bà Hùynh Thị Hồng sinh Hòang,Mộng,Cương,Thị Cự,Thị Khôi,

Thị Liễu

Ngô Tấn Khải bà Nguyễn Thị Lực sinh Thuyên,Hối,Thích,Trân,Tố, Khoa,Thị Hòang,

Thị Thận,Duyên,Tạ,Nhượng,Thùy

Ngô Tấn Hoan bà Võ Thị Hà sinh Tuấn ,Đính,Khiêm,Thị Thuần,Ký,Yến

Ngô Tấn Thành bà Hồ Thị Loan sinh Thị Khuê

Ngô Tấn Cao bà Trần Thị Thông sinh Khuyến.Việt,Thị Nghĩa,Thị Sử

Ngô Tấn Tư bà Phan Thị Hồng sinh Duy,Phước,Thị Hý,Thị Phương

Ngô Tấn Cừ bà Nguyễn Thị Phổ sinh Quốc ,Cường,Thị Ngọc,Thị Nhỏ

Ngô Tấn Cơ bà Dương Thị Nhung sinh Khánh,Kha,Khê,Thị Lan,Thanh

Ngô Tấn Nhàn bà Phan Thị Nga sinh Tuyên,Sơn,An,Thị Hà,Thị Thủy

Ngô Tấn Tới bà Nguyễn Thị Hường sinh Trung,Hiếu,Thị Hòai

Ngô Tấn Dung bà Trần Thị Hà sinh Duy,Thị Duyên,Thị Điểm

Ngô Tấn Dũng bà Nguyễn Thị Xuyến sinh Thị Vân,Thị Dĩnh,Thị Yến

Ngô Tấn Tiến bà Nguyễn Thị Tư sinh Vỹ,Vương,Thị Hà,Thị Vi

Ngô Tấn Tương bà Trần Thị Trầm sinh Anh,Thị Tiết,Thị Nhung

Ngô Tấn Tam có vợ chưa rõ họ tên và con cái

Ngô Tấn Nghiêm bà Hồ Thị Đa sinh Chánh,Trực

Ngô Tấn Lan bà Lê Thị Tố Anh sinh Tân

Ngô Tấn Dũng có vợ

Ngô Tấn Khá bà Đinh Thị Trúc sinh con trai

Ngô Tấn Hồi có vợ

Ngô Tấn Công bà Mai Thị Tiên sinh Minh,Mẫn

Ngô Tấn Hùng bà Lưu Thị Sáu sinh Hà

Ngô Tấn Phước bà Trần Thị Xuân

Ngô Tấn Tuấn bà Nguyễn Thị Thu Hương sinh Vỹ

Ngô Tấn Trung bà Nguyễn Thị Hải sinh Li Xỉu,Thị Khó,Xù,Xì

Ngô Tấn Khôi bà Nguyễn Thị Vân sinh Thị Vũ

Ngô Tấn Hùng bà Trần Thị Bảo sinh Kiệt,Cường,Thị Anh

Ngô Tấn Thủy bà Lê Thị Ngọc sinh Khánh,Ký

Ngô Tấn Thể bà Nguyễn Thị Nữ sinh Cơ,Dũng Anh,Dũng Em,Thị Trang,

Thị Vân

Ngô Tấn Hội bà Hồ Thị Tại sinh Hồng ,Hà,Thị ThủyThị Bê,Thị Út

Ngô Tấn Công bà Vũ Thị Như Yến sinh Hải,Hồ

Ngô Tấn Thuyên bà Nguyễn Thị Tùng sinh Bách,Nghệ,Chư,Quỳnh Giao

Ngô Tấn Hối bà Nguyễn Thị Giang sinh Hòang,Thị Văn

Ngô Tấn Thích bà Lê Thị Thu sinh Minh,Thị Thảo

Ngô Tấn Trân bà Nguyễn Thị Yến sinh Mỹ Linh

Ngô Tấn Tuấn bà Lê Thị Đào sinh Triết,Nhật,Thư

Ngô Tấn Đích bà Lương Thị Ngọc Hương, sinh Phiếu

Ngô Tấn Khiêm bà Hồ Thị Hương sinh Hân

CHI V HỌ NGÔ TRẢO NHA

huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

28 Ngô Phúc Hộ Phượng Quận công,con trai thứ năm Tào Quận công Ngô Phúc Vạn .

1634-1704 Con cháu phân chi đi nhiều địa phương,ở Trảo Nha còn lại phái trưởng

và phái 4.

Ông sinh các con trai:

-Vinh Quận công Ngô Phúc Thụ, phái trưởng;

-Tuấn đức Hầu ở phủ Quảng Trạch huyện Bình Chánh,

nay là huyện Quảng Trạch Quảng Bình, phái 2;

-Vỵ phái Hầu phả cũ ghi chú là ở Lang Điền,

huyện An Sơn,nay là xã Thụy Phương huyện

Chương Mỹ Hà Tây, phái 3;

-Thuyên phái Hầu ở Trảo Nha, phái 4;

-Suyên cung Hầu thất truyền.

PHÁI TRƯỞNG CHI V

29 Ngô Phúc Thụ Vinh Quận công, sinh:

-Nhuệ võ Hầu Ngô Phúc Đẩu ,

-Hạo Quận công (vô tự),Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân ,

sau khi về nghỉ hưu lại được triệu ra khởi phục Cai cơ Đô chỉ

huy sứ Thượng Trụ quốc,tước Hạo Quận công,ban thụy

Dũng Tuệ.Sau khi mất nhân dân địa phương thờ ở đền Linh Nha

trên núi Nghèn.

-Phổ Quận công , truy phong Đại vương,bà họ Dương,người

làng Canh Họach,chị ruột bà Dương Thị Hoan mẹ đẻ Chúa

Trịnh Khải.Ông bị hại trong vụ Bính Tý 1780.

-Cảnh Quận công,(không rõ húy)

30 Ngô Phúc Đẩu 1668-1718,Nhuệ võ Hầu,sinh Ngô Phúc Chánh.

31 Ngô Phúc Chánh Lãng phương Hầu,Quả cảm tướng quân Chánh Vệ úy,bà Mai

Thị Vượng sinh Ngô Phúc Phương,Ngô Phúc Bích.

32 Ngô Phúc Phương Đại tư đồ Hòanh Quận công, Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô

1710-1804 đốc quyền phủ sự,quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội , Mật điện

Nội sát kiêm Phụ dực Nội điện. Húy Túc.

Bà cả Vũ Thị Liên người làng Hạ Hòang huyện Thạch Hà mất

sớm chưa có con ,truy phong Phu nhân,

Bà thứ họ Trương người Gia Lâm đã có con,ra ở chùa sau ngày ông

lấy Phương Huệ Quận chúa.

Bà thứ ba là Phương Huệ Quận chúa, con gái thứ tám Chúa

Trịnh Cương,trở thành Chính thất,sinh năm con trai:

Trưởng -Ngô Phúc Trọng Trọng võ Hầu,

-Ngô Phúc Giám Khóat võ Hầu, nay là phái Yên Viên,

-Ngạn trung Hầu tử trận chưa có con,

-Thuần trung Hầu, bà là con gái Án đô Vương Trịnh

Bồng,tử trận không có con,

-Ngô Phúc Diễn Diễn võ Bá,nay là phái nội thành Hà Nội.

32 Ngô Phúc Bích sinh hai con gái.

30 Phổ Quận công không rõ húy,chỉ có con gái.

30 Cảnh Quận công không rõ húy,sinh -Ngô Cảnh Hòan,Thu lĩnh Hầu

-Ngô Phúc Thiện,Khuông lễ Bá

31 Ngô Cảnh Hòan 1720-1786,Thu lĩnh Hầu,có ba bà.Bà thứ ba là Liệt nữ Phan Thị

Thuấn.

Ông sinh:

Con trai trưởng là Trâm ngọc Hầu Ngô Lượng Lang,

và năm người con trai khác chết trận khi chưa có vợ con.

32 Ngô Lượng Lang Trâm ngọc Hầu,sinh Phúc Chu,Phúc Thùy

33 Ngô Phúc Thùy sinh Phúc Bật

34 Ngô Phúc Bật sinh Phúc….

35 Ngô Phúc… sinh Phúc Cư

36 Ngô Phúc Cư sinh Ngô….,Cống sinh,dạy chữ Hán trường Pháp-Việt

Đồng Xuân,biệt tích

33 Ngô Phúc Chu sinh Ngô Cảnh Trí

34 Ngô Cảnh Trí sinh Ngô Kiên

35 Ngô Kiên phả cũ ghi ở xã Nghĩa Lập,đến nay chưa có liên lạc.

31 Ngô Phúc Thiện Khuông lễ Bá , sinh Bá Thi,Phúc Khiêm

32 Ngô Bá Thi Thủy tổ họ Ngô Mông Lãnh,huyện Quế Sơn Quảng Nam-Đà Nẵng,

hai cha con vào nam,sau người cha trở ra bắc.

32 Ngô Phúc Khiêm sinh Ngô Phúc

33 Ngô Phúc sinh Ngô Hữu Vĩnh (thất truyền).

Tiểu phái 1:

33 Ngô Phúc Trọng Trọng võ Hầu,con trưởng Hòanh Quận công Ngô Phúc Phương,

Bà là con gái Bỉnh trung Công Vũ Tất,

Ở cung Ninh Sơn,

sinh Phúc Bành,Phúc Dương,Phúc Ba,Phúc Lộc.

34 Ngô Phúc Bành về giữ hương hỏa ở Trảo Nha,

sinh Phúc Thân,Phúc Dũng,Phúc Cụ (Hai người sau tồn nghi

lên ở Thổ Hòang).

35 Ngô Phúc Thân sinh Phúc Hoằng,Phúc Tề,Phúc Thể,Ngô Cơ (vô tự)

36 Ngô Phúc Hoằng sinh Phúc Dụ,Phúc Bổn,Ngô Mại

37 Ngô Phúc Dụ sinh Ngô Tụy

38 Ngô Tụy sinh Ngô Bạt

39 Ngô Bạt sinh Ngô Trạc,Ngô Định (đều vô tự).

37 Ngô Phúc Bổn sinh Ngô Tường,Xuân Thụ,Ngô Soa,Ngô Tài(vô tự),Thị Nậy,

Thị Con.

38 Ngô Tường sinh Thị Ả,Thị Em,Thị Lý,Luật Xoan(Ls.),Luật Thứ Pts, (Ls,chỉ có

con gái).

38 Ngô Xuân Thụ Tú tài kép,bà cả họ Trần sinh Thị Xuân Như (Vợ nhà thơ Huy Cận),Xuân

Huy,

bà thứ người Bình Định sinh Xuân Diệu,Xuân Sanh.

39 Ngô Xuân Diệu 1916-1985,Nhà thơ,Đại biểu Quốc hội khóa 1 (1946-1960)

Viện sỹ Thông tấn Viện Hàn lâm CHDCĐức,không có vợ con.

39 Ngô Xuân Sanh Nhà văn,không có vợ con.

39 Ngô Xuân Huy Đh, bà Thị Hòan(Đh) sinh Đức Hải

40 Ngô Đức Hải Đh,sinh Thị Hương,Xuân Hà.

38 Ngô Soa Hàn lâm viện Thị giảng(Tòng Ngũ phẩm),bà Trần Thị Em sinh Định Nhi,

Thị Tịnh Nhi,Lữ Nhi,Thị An Nhi,Xuân Biên,Xuân Thanh,Thị Mai

39 Ngô Lữ Nhi bà Nguyễn Kim Nga sinh Đức Trung,Thị Bích Hồng,Thị Thúy Hạnh

39 Ngô Xuân Thanh sinh một gái

37 Ngô Mại sinh Ngô Điệng,Ngô Chương

38 Ngô Điệng sinh con gái

38 Ngô Chương sinh Đức Bích,Đức Trân (Ls.)

39 Ngô Đức Bích sinh Đức Hành,Thuận,Tịnh,Tiến

40 Ngô Đức Hành sinh Đức Chung.

36 Ngô Phúc Tề sinh Ngô Đàn,Phúc Siêu

37 Ngô Đàn sinh Ngô Ước,Ngô Tác

38 Ngô Ước sinh Trung Tín,Đức Quế

39 Ngô Trung Tín 1915-1982,sinh Trọng Tuyết (Ls.),Trọng Đại,Quý Cảnh

40 Ngô Trọng Đại sinh Đức Trang,Hiếu,Tiến

39 Ngô Đức Quế sinh Đức Kỳ,Bá,Hồng,Tùng

40 Ngô Đức Kỳ sinh Công,Đức ,Phú

40 Ngô Đức Bá sinh Anh,Quang

40 Ngô Đức Hồng sinh Đức Sơn

38 Ngô Tác sinh Đức Tuân,Đức Tộ (vào Đà Lạt,chưa có liên lạc).

37 Ngô Phúc Siêu sinh Ngô Tiềm

38 Ngô Tiềm sinh Đức Hiền

39 Ngô Đức Hiền sinh Hào,Hữu,Hiếu,Giáp.

36 Ngô Phúc Thể sinh Ngô Dạng

37 Ngô Dạng sinh Thị Hảo,Ngô Cự ,Ngô Luyện

38 Ngô Luyện 1918-1988,sinh Trọng Kim,Xuân Đinh

39 Ngô Trọng Kim Bs, sinh Gia Khánh,Thị Ngọc Bảo

39 Ngô Xuân Đinh sinh Xuân Phố,Xuân Long,Thị Oanh

PHÁI VĨNH LƯU

huyện Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh

34 Ngô Phúc Dương sinh Phúc Hà ở Ninh Sơn,đã có con cháu.

34 Ngô Phúc Ba sinh Phúc Tôn ở Ninh Sơn,Văn Sự về Trảo Nha sau đến

Vĩnh Lưu

35 Ngô Văn Sự sinh Ngô Thân, và mấy em trai khác không rõ tên

36 Ngô Thân sinh Ngô Tốt

37 Ngô Tốt sinh Văn Châu,Văn Thấu,Văn Thái

38 Ngô Văn Châu sinh Văn Ngàn,Văn Dậu,Văn Bình

39 Ngô Văn Ngàn sinh Văn Bô

40 Ngô Văn Bô sinh Văn Gia

39 Ngô Văn Dậu sinh Văn Nghệ và sáu con gái

Tiểu phái 2 PHÁI YÊN VIÊN,

Gia Lâm,Hà Nội

33 Ngô Phúc Giám Khóat võ Hầu,con Hòanh Quận công Ngô Phúc Phuơng

Bà họ Đinh,hiệu Từ Cung,sinh:

Ngô Phúc Long (tức Ông Cả Hiệu),Cụ Trung,Cụ Trùm,

Ngô Phúc Tấn (tức Ông Tú Lương),Cụ Tuần ở Vạn Phúc,

Cụ Dơi ở Thanh Trì.

34 Cụ Tuần ở Vạn Phúc sinh Ngô Phước

35 Ngô Phước sinh Ngô Vĩnh (Đốc học),Thị Lộc

34 Ngô Phúc Long Bà họ Nguyễn sinh: Ngô Quán (nhiêu Quán),Ngô Hai (Từ Bếp),

Ngô Đức Dụ (Lang Ba),Ngô Đức Thiện (Khán Tư),

Ngô Phúc Đạt (Năm Đạt).

35 Ngô Quán sinh Ngô Thiện,bà Khán Vịt,bà Hai Canh,bà Ba Bằng

36 Ngô Thiện sinh Văn Dõan

37 Ngô Văn Dõan 1896-1956,bà Đỗ Thị Giám (1893-1983),sinh:

Ngô Văn Vấn,Ngô Văn Du Ls;Ngô Văn Hồng,Văn Hùng,

Thị Danh,Thị Lớn,Thị Tý,Thị Minh,Thị Lan.

38 Ngô Văn Vấn 1915-1991,bà Nguyễn Thị Than sinh Văn Quý,Văn Phú,Quốc

Cường,Quốc Thịnh,Thị Vượng

39 Ngô Văn Quý bà Nguyễn Thị Bốn sinh Đình Quyền,Chí Trung ,Chí Thanh,Thị Vân

39 Ngô Văn Phú bà Hùynh Thị Quyên sinh Quốc Thắng,Quốc Dũng

39 Ngô Quốc Cường bà Lê Thị Thiết sinh Thành Công,Hương Giang,Tú Mây

39 Ngô Quốc Thị nh bà Nguyễn Thị Tọa sinh Xuân Trường,Quốc Thụ,Thành Đô

38 Ngô Văn Hồng sinh Văn Thắng,Văn Mạnh,Thị Liên

38 Ngô Văn Hùng sinh Văn Hòa,Thị Hưng,Thị Viễn

35 Ngô Hai sinh Văn Tuân,Văn Tý,Văn Hòa

36 Ngô Văn Tuân 1888-1967,bà Đinh Thị Tạch sinh Văn Tinh,Văn Dư (Ls.),

Văn Thêm,Thị Lụt,Thị Gái

37 Ngô Văn Tinh bà Khổng Thị Phi sinh Ngọc Tâm,Đại Đồng,Văn Năm

38 Ngô Ngọc Tâm bà Ân Thị Chi sinh Hồng Anh,Ngô Quyền,Quang Lợi,Thu Nga

38 Ngô Đại Đồng sinh Vân Nam,Thị Hương,Thị Hồng

38 Ngô Văn Năm sinh Văn Hòang

39 Ngô Hồng Anh bà Đặng Thị Hòa sinh Quỳnh Hoa.

Biệt phái Ninh Sơn

xã Ninh Hiệp,huyện Chương Mỹ,tỉnh Hà Tây

35 Ngô Đức Dụ tự Lang Ba , bà cả sinh Đức Lộc,Đức Phúc,Thị Ngát

Bà hai sinh Đức Lịch,Thị Núi,Thị Quắt

36 Ngô Đức Lộc bà Đinh Thị Mùi sinh Văn Bình,Văn Đội,Thị Ninh,Thị Thuận

37 Ngô Văn Đội sinh Văn Cương,Văn Kiên,Văn Lập,Thị Dung.

36 Ngô Đức Phúc 1901-1969,bà Nguyễn Thị Đăng sinh Đức Biền,Đức Bính

37 Ngô Đức Biền bà Nguyễn Thị Vịt sinh Đức Trọng,Đức Trực,Thị Hiền,Thị Lan ,Đức Bảy

37 Ngô Đức Bính sinh 1932,bà Mai Thị Kiên sinh Đức Bỉnh,Đức Biền,

Đức Bổn,Đức Liêm,Thị Yên,Thị Liên.

38 Ngô Đức Bỉnh bà Nguyễn Thị Lê sinh Đức Chỉnh,Đức Huấn,Đức Huân

38 Ngô Đức Biền bà Hòang Thị Trống sinh Đức Tiềm,Thị Quyên

38 Ngô Đức Bổn bà Nguyễn Thị Hải sinh Thị Hiến

38 Ngô Đức Liêm bà Nguyễn Thị Thoa sinh Đức Chính.

36 Ngô Đức Lịch 1891-1969,bà Nguyễn Thị Giản sinh Đức Thưởng,Thị Ơn,

Thị Yểng

37 Ngô Đức Thưởng sinh 1925,bà Nguyễn Thị Chính sinh Đức Tuấn,Đức Thanh,

Đức Ngọc,Thị Tuyết,Thị Minh.

38 Ngô Đức Tuấn bà Tống Thị Tuyết sinh Đức Tài,Thị Nhung

38 Ngô Đức Thanh bà Nguyễn Thị Nghị sinh Đức Quế.

35 Ngô Đức Thiện tự Khán Tư , sinh Văn Mạo,Văn Sơn,Văn Chử,Thị Tý,Thị Chúc

36 Ngô Văn Mạo sinh Văn Long,Văn My,Văn Phượng

37 Ngô Văn Long sinh 1944,các con lưu lạc chưa rõ ở đâu

37 Ngô Văn My sinh Văn Năng,Thị Thành,Thị Mỹ

36 Ngô Văn Sơn 1896-1988,bà Trịnh Thị Vải sinh Văn Quy,Văn Phả,Văn Sọan,

Thị Muối,Thị Mắm,Văn Huy,Văn Nguyên.

37 Ngô Văn Quy bà Đinh Thị Nhân sinh Văn Hoan,Văn Hòan,Thị Hinh,Văn Lâm

37 Ngô Văn Sọan bà Lâm Thị Nhân sinh Văn Hải,Văn Sứ,Văn Nam

38 Ngô Văn Hải bà Nguyễn Thị Thu sinh Văn Long.

35 Ngô Phúc Đạt bà Nguyễn Thị Quán sinh Văn An (vào Sài Gòn),Văn Yên,

Ngọc Kiến,Thị Nhâm.

36 Ngô Văn Yên sinh Thị Yến (1925-1974),

36 Ngô Ngọc Kiến 1895-1969,bà Đỗ Thị Dung, sinh Ngô Thị Giáp (1924-1996)

(vợ Nguyễn Đức Tâm UVBCTĐCSVN),Ngọc Đặng

37 Ngô Ngọc Đặng sinh 1925,Ks,bà Phạm Thị Hoa Vinh sinh Văn Dũng,Phú Hà,

Sơn Hùng,Thúy Oanh,Kim Thanh

38 Ngô Văn Dũng Ks,bà Dương Thị Hương sinh Quốc Tuấn

Tiểu phái 3 PHÁI NỘI THÀNH HÀ NỘI

33Ngô Phúc Diễn 1770-1838,Diễn võ Bá,tự Pháp Nghĩa,con trai thứ 5 Hòanh Quận công

Ngô Phúc Phương và bà Trương Thị Từ Thiên (tặng phong Á Quận quân).

Bà Nguyễn Thị Bốn,con gái Đại vương Nguyễn lang Linh Đường,

sinh Ngô Phan,Ngô Đào,Ngô Dương,Ngô Uông(vt),Thị Lê,

Thị Trần,Thị Ngoan.

34 Ngô Đạo 1797…,tự Pháp Quyền,bà cả Nguyễn Thị Thiếu sinh Thị Khê,Thị Lộc,

Thị Tri,Thị Điều,bà thứ sinh Đức Tự,Thị Khuyên,Thị Khánh.

34 Ngô Phái 1801-1865,tự Pháp Bình,hai bà Nguyễn Thị Nhâm và Lê Diệu Ban

sinh Đức Trương,Đức Thân,Thị Thụy,Thị CáT.

35 Ngô Đức Trương 1842-1902,bà Nguyễn Thị Tính sinh Ngô Thịnh,Ngô Trác,Thị Dệ.

36 Ngô Thịnh 1859-1939,bà cả Trần Thị Trinh sinh Ngô Đỉnh,Thị Kiệm,Thị Cần.

Bà thứ Bế Thị Nga sinh Ngô Túc,Văn Bản,Thị Bái,Thị Quý.

37 Ngô Đỉnh 1887-1946,Chi trưởng,bà Đỗ Thị Thuần sinh Đức Thụ,Đức Lập,

Đức Nhạ,Thị Sâm,Thị Du,Thị Mỹ.

37 Ngô Túc 1908-1975,bà cả Phạm Thị Hà có con nuôi là Thị Há,

bà thứ Ninh Thị Chung sinh Quốc Huy,Thị Thanh,Thị Thảo.

37 Ngô Văn Bản bà Phạm Thị Thường sinh Anh Tuấn,Xuân Quảng,Xuân Tiến,

Hòai Diễm,Thị Phương.

38 Ngô Đức Thụ bà Phạm Thị Thật sinh Đức Quý,Đức Hinh,Đức Trọng,Đức Thắng,

Thị Hằng,Thị Trúc,Thị Thái,Thị NguyệT.

38 Ngô Đức Lập bà Nguyễn Thị Quy sinh Thị Thư.

38 Ngô Đức Nhạ bà Nguyễn Thị Ninh sinh Đức Hùng,Đức Hạnh,Đức Dũng,Đức Phú,Đức Cường,Phú Quý,Thị Thanh,Thị Mai,Thị Phương,Thị

Lan.

38 Ngô Xuân Quảng bà Nguyễn Thị Kim Thạch sinh Lan Hương,Xuân Minh.

38 Ngô Xuân Tiến bà Trần Thị Hào sinh Lan Anh,Xuân Thành.

36 Ngô Trác 1866-1898,bà Đinh Thị Vân sinh Ngô Kỳ,Ngô Thọ,Ngô Bùng,

Thị Nhỡ,Thị Huệ,Thị Phương,Thị Rồng.

37 Ngô Kỳ 1886-1954,bà cả Nguyễn Thị Khả sinh Bích San,Bội Giao,

Thị Liên,Thị Hiền.Bà thứ Trần Thị Nhỡ sinh Lâm Đằng,Mộng Lan,Mộng Lê,Mộng Hà,Bích Tùng,Minh Cầu.

37 Ngô Thọ 1898-1930, bà Dương Thị Khang sinh Thị Tính,Minh Tân,

Bỉnh Khôi,Thị Tâm,Thị Liên.

38 Ngô Bích San bà Hòang Thị Tuyết sinh Mạnh Linh,Khắc Tuấn,Mỹ Tuân,Hòa

Thắng,Quang Dũng,Thị Loan,Quỳnh Anh,Mai Anh,Diễm Anh,Tú

Anh(cả chín người con đều có trình độ Đại học hoặc trên đại học).

38 Ngô Bội Giao bà Trần Thị Quỳ sinh Bội Quang,Bội Hòang,Thị Thanh,Thị Hinh,

Thị Hằng.

38 Ngô Minh Cầu bà Lưu Thị Yến sinh Mạnh Bình,Trọng Nghĩa,Hữu Nghi,Hồng

Tường,Thiên Hương.

39 Ngô Mạnh Linh bà Đào Thị Tạng sinh Chí Cường,Hồng Chuyên.

Ngô Khắc Tuấn bà Phạm Thị Ninh sinh Việt Bắc,Việt Hồng.

Ngô Mỹ Tuân bà Đòan Thị Kính sinh Việt Hùng,Bảo Ngọc.

Ngô Hòa Thắng bà Thị Dục sinh Thái Hà,Thái Vũ.

Ngô Quang Dũng bà Lê lan Hương sinh Hương Lan,Đức Anh.

Ngô Bội Quang bà Vũ Thị Láng sinh Thúy Linh,Thúy Ngân.

Ngô Mạnh Bình bà Nguyễn Minh Trì sinh Phước Hạnh,Minh Tuệ.

Ngô Hữu Nghi bà Nguyễn Thị Tuyết Mai sinh Minh Phong.

Ngô Hồng Tường bà Lê Xuân Hoài sinh Minh Tung,Minh Khopa.

40 Ngô Việt Bắc bà Phan Hồng Vân sinh Thị Trâm Anh.

PHÁI 2 CHI V Tuấn đức Hầu,họ Ngô huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

Chưa có thế thứ.

PHÁI 3 CHI V Vỵ phái Hầu, họ Ngô Hương Lang ,xã Thụy Phương, huyện Chương Mỹ,

tỉnh Hà Tây

Chưa có thế thứ

PHÁI 4 CHI V Thuyên phái Hầu (Không rõ tên húy),

họ Ngô Trảo Nha,huyện Thạch Hà,

nay là thôn Nam Sơn,thị trấn Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh

29 Thuyên phái Hầu Con thứ tư Phượng Quận công Ngô Phúc Hộ .

Sinh: -Phái trung Hầu (không rõ tên húy)

-Phan thọ Bá ( không rõ tên húy,phái Hưng Nguyên).

30 Phái trung Hầu sinh:-Nhiệm phái Hầu (không rõ tên húy)

-Diễn phái Bá Ngô Phúc Diễn.

31 Nhiệm phái Hầu sinh Ngô Phúc Huề

32 Ngô Phúc Huề sinh Ngô Phúc Vạng

33 Ngô Phúc Vạng sinh Cố Song

34 Cố Song sinh Ngô Song,Ngô Thuật

35 Ngô Song sinh Ngô Lục,đã có cháu

35 Ngô Thuật sinh Ngô… ,đã có cháu.

31 Ngô Phúc Diễn Diễn phái Bá,sinh Ngô Đức Hồng.

32 Ngô Đức Hồng Cử nhân,Tri huyện Thọ Chân,mất ấn bị cách chức,về nhà dạy học.

Sinh Ngô Đức Bình.

33 Ngô Đức Bình Tên đi thi là Đức Tư,đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Chế khoa Nhã sĩ

1824-1879 niên hiệu Tự Đức năm 1865.Lúc đầu được bổ chức Nội các tu sọan,rồi bổ đi Tri phủ An Nhơn,rồi Tri phủ Điện Bàn(Bình Định),thăng Tế tửu Quốc tử giám,Án sát sứ Quảng Bình.Mất tại nhiệm sở năm 1879.

Có bốn bà ,sinh bảy trai:

Ngô Đức Lân,Ngô Đức Dương,Ngô ĐứcPhương,Ngô Đức Đồng,Ngô Đức Nghị,

Ngô Đức Xuy,Ngô Đức Út,

và bốn con gái: Bà cụ Xuân Viên sinh Nguyễn Hiếu Tích,

Bà cụ Chiểu Đồng Lưu,

Bà Bá Chế ở Kẻ Trù,

Bà Cúc ở Kẻ Trù.

34 Ngô Đức Lân sinh Đức Chánh,Đức Đạt (vô tự),Đức Trung,Đức Hóat,Đức Chín (vô

tự),Đức Túy (vô tự),Thị Viên,Thị Hòanh (ở Hàm Anh).

35 Ngô Đức Chánh bà Nguyễn Thị Hồng người Đồng Lưu ,sinh Thị Hai,Thị Ba,Ngô Đức Mậu .

36 Ngô Đức Mậu 1908-1987,bà Hà Thị Phúc, sinh Ngô Đức Bào,Ngô Đức Trà,Ngô Đức Danh,

Thị Hòang Hà .

Năm 1927 tham gia Tân Việt cách mạng Đảng,từ 1930 là đảng

viên Đảng cộng sản Việt Nam,Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa ,

năm 1945 tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở huyện Can Lộc Hà Tĩnh,

sau hòa bình làm Chủ nhiệm Báo ảnh Vĩệt nam,Phó Tổng thư ký

Hội Nhà báo Việt Nam.

37 Ngô Đức Bào Ts, bà Nguyễn Thị Chuyên (Ks),sinh Bạch Liên,Phương Liên,Đức Anh

37 Ngô Đức Trà PGs,Ts,bà Thái Thị Liên (Ks),sinh Đức Qùy,Đức Tùng,Đức Lâm

37 Ngô Đức Danh Ks,bà Bùi Thị Long sinh Thị Kim Chi,Thị Ngọc Diệp.

35 Ngô Đức Trung sinh Ngô Mai,Ngô Huệ ,Thị Oanh

36 Ngô Mai sinh Ngô Nhuệ (Ks),Đức Khang

36 Ngô Huệ sinh Ngô Nuôi

37 Ngô Nhuệ sinh Đức Hùng,Đức Dũng

35 Ngô Đức Hóat bà Nguyễn Thị Lộc sinh Đức Dung, Đức Ninh, Đức Tuyên,

Thị Nhỏ,Thị Lý,Thị Tẻo

36 Ngô Đức Dung 1912-1990,bà Trần Thị Bốn sinh Đức Nghi,Đức Khoan,

Đức Tập,Đức Hân,Đức Tân,Thị Chút.

37 Ngô Đức Nghi Ls,bà Hồ Thị Xuân sinh Đức Quang

37 Ngô Đức Khoan Ks,mất 1995,bà Lê Thị Dung sinh Đức Trung,Thị Quỳnh

37 Ngô Đức Tập Ks,bà Hà Thị Bích sinh Thị Nga,Đức Anh

36 Ngô Đức Ninh hai bà,sinh Thị Loan,Thị Thanh,Đức Thìn (Ls.),Thị Huyền,Đức Sọan

36 Ngô Đức Tuyên Ks,bà Nguyễn Thị Dương sinh Thị Liên (ks),Đức Việt,Thị Minh,

Đức Hùng,Thị Hoa,Đức Dũng.

34 Ngô Đức Dương Ấm sinh,Hàn lâm viện Cung phụng,

Hai bà,sinh Đức Trường,Thị Hòe, Đức Thành,Thị Cúc.

35 Ngô Đức Trường có tên là Bích,

bà cả ở Trảo Nha sinh Đức Khoa,Đức Đồ,

bà thứ ở Bình Định sinh Thị Báng,Đức Duy,Đức Tòan (cả ba ở Tuy Hòa)

36 Ngô Đức Khoa bà Trần Thị Tiu sinh Đức Hòa, Thị Thuận ,Đức Phong, Thị Cảnh,

Thị Hoa,Thị Huệ

37 Ngô Đức Hòa bà Nguyễn Thị Mai Nhân sinh Thị Dung,Đức Thương

37 Ngô Đức Phong bà Trần Thị Thân sinh Thị Hải,Thị Hòai,Đức Hiền,Đức Hùng,

Đức Huy

36 Ngô Đức Đồ bà Nguyễn Thị Viêm sinh Đức Đạo (Ls.),Thị Đức,Thị Lệ,Thị Nghĩa,

Thị Nhân,Đức Tâm

37 Ngô Đức Tâm bà Nguyễn Thị Phương sinh Thị Linh,Thị Anh,Thị An Na,Thị Ly Sa,

Đức Phúc,và Đức Jens (sinh năm 1985, mẹ người Đức).

36 Ngô Đức Duy ở Phù Hiệp,sinh Đức Du,Ngô Diệu,Đức Luận,Thị Diêu

37 Ngô Đức Du Tú tài,bà Lê Thị Hội sinh Thúy Linh (Bs),Thị Linh Chi,

Thái Hòang,Thái Hòan,Thái Huy

37 Ngô Diệu bà Nguyễn Thị Thanh Mai sinh Anh Quân,Minh Quân

37 Ngô Đức Luận ở Tuy Hòa,sinh Văn Chuyên,Văn Sa

36 Ngô Đức Tòan ở Phù Hiệp sinh Ngô Hòai,Thị Đủ,Ngô Tròn,Thị Ty,Ngô Mừng

37 Ngô Hòai bà Nguyễn Thị Kiêm sinh Thị Hiền,Thị Liên và hai trai.

35 Ngô Đức Thành Thanh tra bưu điện Liên khu IV,

Bà Nguyễn Thị Thúy người Huế,sinh Ngô Thao,Thị Bích Như (Đh.),

Ngô Nam,Ngô Hàng,Ngô Nguyên,Thị Như Ý(Đh)

Bà thứ ở Hội An sinh Đức Chương.

36 Ngô Thao Pts.,bà Lê Như Ánh sinh Ngô Quân Ks,Ngô Thảo

36 Ngô Nam Nhạc sỹ,bà Nguyễn Thị Vinh Ngọc (Nsưt),sinh Đức Đồng,

Thị Thanh Hương

36 Ngô Đức Hàng Ks,bà Đỗ Thị Hạnh sinh Thái Hà,Đức Tùng,Đức Minh

36 Ngô Đức Nguyên Ks,bà Nguyễn Thị Mùi sinh Thị Hòai Giang Ks,Đức Long

36 Ngô Đức Chương Ở Hội An,bà Hòang Thị Tài sinh Thị Mai Kha Ks,Đức Bảo,

Đức Trị,Đức Huy.Hiện nay gia đình ở Sài Gòn.

34 Ngô Đức Phương Ấm sinh,bà Hòang Thị Ba sinh Đức Đông,Thị Tý,Thị Dần,

Ngô Vỹ,Ngô Mão,Ngô Ích

35 Ngô Đức Đông bà Lê Thị Hiên sinh Đức Nhân,Đức Nghĩa,Đức Tín,Đức Thống,

Đức Anh,Đức Trẻ 

36 Ngô Đức Nhân bà Trần Thị Lanh sinh Thị Châu,Thị Tiêu, Thị Ngọ,Thị Tuyên,

Thị Liên,Thị Phong, Đức Anh

36 Ngô Đức Tín bà Trần Thị Xuân sinh Thị Giáo,Thị Dưỡng,Thị Dương,Thị Trung,

Thị Thung, Đức Ngữ

35 Ngô Đức Vỹ Tức Ngô Ban,ở Đà Nẵng,sinh Ngô Thắng,Ngô Thống

34 Ngô Đức Đồng 1869-1941.

Còn gọi là Ông Ấm Huề,Hàn lâm viện Cung phụng (Chánh cửu phẩm),

Học giỏi có tiếng,thi nhiều khoa không đỗ.Mở trường dạy học,

có nhiều học trò đỗ đạt.Năm 1905 tham gia phong trào Đông Du,

cùng Ngô Đức Thiệu,Ngô Đức Kế tạo nguồn tài chính cung ứng cho

xuất dương.Mở chi điếm Triều dương Thương quán ở Nghèn (xã Trảo Nha

huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh).

bà Nguyễn Thị Xuân ,người làng Gia Lạc,

sinh Ngô Đức Dục,Thị Thanh,Thị Vẹt,Thị Nậy (ĐVCS 1930-1931),Thị Sâm,

Ngô Đức Thắng,Thị Ngân.

35 Ngô Đức Dục bà Nguyễn Thị Huyên sinh Đức Mạch, Thị Quế, Đức Lạp,

Thị Đào,Thị Xuân,Thị Thu

36 Ngô Đức Mạch bà Trần Thị Khuyên sinh Đức Đại ,Thị Quý,Đức Thái,Đức Độ,

Đức Lai,Thị Mỹ

37 Ngô Đức Đại Ls ,bà Thị Thủy sinh Đức Thoa,Thị Huệ

38 Ngô Đức Thoa bà Nguyễn Thị Trúc sinh Bảo Cường

37 Ngô Đức Thái bà Phan Phị Hà sinh Thị Anh,Thị Phương

37 Ngô Đức Độ sinh Đức Dũng,Đức Khánh,Thị Ngọc,Thị Yến

37 Ngô Đức Lai sinh Thị Loan,Đức Đạt

36 Ngô Đức Lạp bà Trần Thị Chắt sinh Đức Kỷ,Đức Cương,Đức Thường,Đức Luân,

Thị Lý,Đức Luận,Thị Bảy

37 Ngô Đức Kỷ bà Trần Thị Thu sinh Đức Trình,Đức Công,Thị Minh

37 Ngô Đức Cương bà Nguyễn Thị Thanh sinh Đức Trực,Duc Din

37 Ngô Đức Thường bà Dương Thị Truyền sinh Đức Long,Đức Vương

37 Ngô Đức Luân sinh Thị Hiền,Đức Cáp.

35 Ngô Đức Thắng 1912-1998,Tác giả :Lịch sử họ Ngô Viêt Nam 1994,Họ Ngô Việt Nam,Lược sử-

Sự kiện -Nhân vật-Hệ phả, in năm 2000.

Tháng 8 -1945 được cử làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Can Lộc.

Tham gia Ủy viên Ủy ban Lâm thời huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Được điều vào tham gia Giải phóng quân Trung đoàn Phan Đình Phùng ,tham gia quân đội từ 1946 , 1955-1960 công tác tại Bộ Tổng Tham mưu.

Quyền Cục trưởng Cục quy hoạch Bộ nông trường,nghỉ hưu tháng 9 năm1970 .

Bà Lê Thị Tam (1911-1966),con gái quan Ngự y triều Nguyễn,Hồng Lô tự Thiếu Khanh Lê Hữu Duy,người xã Đồng Bàn huyện Thạch Hà (nay là xã Thạch Liên huyện Thạch Hà Hà Tĩnh) ,

sinh Ngô Thị Liệu,Ngô Đức Bằng, Ngô Song Bổng,Ngô Đức Uy(mất sớm), Ngô Đức Hàm, Ngô Đức Lợi.

36 Ngô Đức Bằng bà Trần Thị Hiền sinh Thị Minh,Đức Hải,Thị Lý,Đức Hóa,

Thị Hà,Thị Hoa,Thị Hồng.

37 Ngô Đức Hải Cử nhân luật,bà Lê Thị Minh Thủy sinh Minh Tuấn.

37 Ngô Đức Hóa bà Trần Thị Phượng,sinh Thục Mây,Việt Anh

36 Ngô Song Bổng 1936-1992,Ks,bà Đỗ Phương Hòa Ks,sinh Song Hà, Thị Phương Hiền Ds.,

Đức Tòan.

37 Ngô Song Hà Đh.,bà Nguyễn Thị Hằng sinh Đức Tùng.

36 Ngô Đức Hàm bà Tạ Minh Việt sinh Thị Hoa, Đức Hùng, Đức Dũng,Vịệt Hưng.

37 Ngô Đức Hùng bà Thị Hoa,sinh Thị Anh,Đức Minh

37 Ngô Đức Dũng bà Việt Trinh,sinh hai gái,Duc Long

37 Ngô Việt Hưng bà Thị Dung,sinh Thị Ánh Ngọc,Sơn Tùng

36 Ngô Đức Lợi Cử nhân luật,bà Nguyễn Thị Chiến Ks, sinh Nguyễn Duy ,

Cảnh Hòan ,gia đình định cư ở CHLB Đức.

37 Ngô Nguyễn Duy (Cử nhân),bà Nguyễn Thị Quyên Trang (Cử nhân),sinh Duy An Julian.

37.Ngô Cảnh Hoàn,bà Phùng Thị Thanh Tú( KTS),sinh Minh Tuấn Toni, Bảo Vy Emily

34 Ngô Đức Nghị ở Cẩm Xuyên,sinh Thị Phượng,Đức Tiểu

34 Ngô Xuy Ấm sinh,sinh Ngô Phiệt,Ngô Ngãi (vt),Thị Ba,Thị Bốn, Ngô Vấn

35 Ngô Phiệt sinh Ngô Thiều

36 Ngô Thiều sinh Thị Hiên,Thị Châu,Đức Thắng

35 Ngô Vấn sinh Ngô Mận (Ls.),Ngô Đẩu,Ngô Hồng,Thị Tư,Thị Hài

34 Ngô Đức Út Viên tử,sinh Ngô Duyệt,Ngô Lan,Thị Mực

35 Ngô Duyệt sinh Đức Lợi

36 Ngô Đức Lợi Đh.,bà Nguyễn Thị Mậu,sinh hai gái,Đức Hùng

35 Ngô Lan sinh Ngô Hạ,Thị Ngọ,Đức Vỹ đều đã có con,cháu.

Tiểu phái 2 Phái 4 Chi V Phái Hưng Nguyên,Nghệ An

30 Phàn thọ Bá con Thuyên phái Hầu,sinh Ngô Phúc Tú

31Ngô Phúc Tú sinh Ngô Phúc Thiên ở Trảo Nha,

Ngô Phúc…ở Quảng Bình,

Ngô Phúc Tuy, thiên cư ở Đông thôn xã Hưng Yên huyện

Hưng Nguyên Nghệ An.

32Ngô Phúc Tuy bà Nguyễn Thị Nhị sinh Phúc Thành

33Ngô Phúc Thành bà Nguyễn Thị Giáo sịnh Phúc Thư,Thị Hựu

34Ngô Phúc Thư bà Nguyễn Thị Triện sinh Thị Thậm,Thị Thiệm,Phúc Sâm,

Thị Tiệm,Đức Thắng,Thị Tuấn

35Ngô Phúc Sâm bà Phạm Thị Tiếng sinh Đức Thăng,Thị Thưởng,Thị Thường,

Đức Cu Cương,Thị Tiu,Thị Tích,Đức Thuận,Đức Hòa

36 Ngô Đức Thăng Đề lại,bà cả Nguyễn Thị Tòan sinh Đức Thặng,

bà thứ Lê Thị Liên sinh Đức Đăng,bà ba Nguyễn Thị Môn sinh

Thị Tâm,Đức Việt

37 Ngô Đức Thặng bà Nguyễn Thị Bốn sinh Đức Chắt (Ls.),Thị Lam,Thị Tư,

Thị Tuất,Thị Mợi,Đức Phương,Đức Đông,Đức Minh,Đức Linh,

Thị Lý,Đức Thuyết

38 Ngô Đức Phương bà Nguyễn Thị Mão sinh Đức Anh,Đức Tuấn,Thị Hiền

38 Ngô Đức Đông bà Đinh Thị Minh sinh Đức Nga,Thị Lan,Thị Thanh,Thị Xuân

37 Ngô Đức Đăng bà Nguyễn Thị Tư sinh Thị Thu Vân,Thị Hoa,đức Phú,Đức Thiên

37 Ngô Đức Việt bà Nguyễn Thị Đào sinh Đức Hồng,Đức Linh,Đức Lan,Đức Hà,

Thị Huệ

36 Ngô Đức Thuận bà Nguyễn Thị Lắng sinh Đức Cảnh

37 Ngô Đức Cảnh bà Nguyễn Thị Hương sinh Đức Dương,Thị Liệu ,Đức Tùng,Thị Cúc

38 Ngô Đức Dương sinh Đức Nhật

35 Ngô Đức Thắng bà Nguyễn Thị Thiều sinh Thị Phóng,Đức Khóang

36 Ngô Đức Khóang bà Trần Thị Đạm sinh Đức Tuân,Đức Nhuận,Thị Quế,Thị Nhung,

Đức Tóan,Đức Lương

37Ngô Đức Tuân bà Hòang Thị Chích sinh Đức Phương (Ls.),Thị Loan,Đức Hoằng,

Thị Cường

38 Ngô Đức Hoằng bà Đinh Thị Bình sinh Đức Lan,Đức Ngọc,Đức An,Đức Hồ

37 Ngô Đức Nhuận bà Nguyễn Thị Hoe sinh Đức Khánh,Đức Hùng,Thị Thịnh,Thị Vượng

Đức Xuân,Đức Quang,Đức Trung

38 Ngô Đức Khánh bà Nguyễn Thị Hội sinh Đức Nguyên,Thị Liên,Đức Bích

38 Ngô Đức Hùng bà Nguyễn Thị Thi sinh Thị Huệ,Đức Thương,Đức Trinh

38 Ngô Đức Xuân bà Lê Thị Lan sinh Ngô Đức

38 Ngô Đức Quang bà Nguyễn Thị Hòa sinh Thị Phương

37 Ngô Đức Tóan bà Nguyễn Thị Cháu sinh Thị Chắt,Đức Châu,Thị Thúy,Thị Thảo,

Đức Thái

38 Ngô Đức Châu bà Nguyễn Thị Hoa sinh Đức Long,Thị Hồng

37 Ngô Đức Lương Gia đình ở Vinh,bà Chu Thị Lang sinh Thị Nga,Đức Sài,

bà Trần Thị Ký sinh Thị Thúy,Đức Chung.

(Con tiep)

Đăng bởi: nghienson | Tháng Mười 19, 2014

MOT VAI HINH ANH VE HO NGO VIET NAM

 

 

TuongPhungHung

Tuong Phung Hung-tai den tho Ngo Quyen-Duong Lam Ha Noi

Tượng_Ngô_Quyền

Tuong Ngo Quyen tai Den tho  Ngo Quyen ,Duong Lam ,Ha Noi

57113293.jpg ly thuong kiet

Tuong Ly Thuong Kiet tai Bao tang Quan Doi

 

1024px-DenNgoQuyen

Den tho Ngo Quyen-Duong Lam-Ha Noi

60754502

Lang Ngo Quyen-Duong Lam-Ha Noi

NoiThatDenNgoQuyen

Noi that den tho Ngo Qiuyen-Duong Lam Ha Noi

hoi thao ve ngo quyen 001

Hoi Thao Khoa hoc nhan 1050 nam ngay gio Ngo Vuong

hop mat ho ngo  1983

Hop mat ho Ngo-Ha noi-1986

mo to ho ngo thang binh quang nam 001

Ngo To Mo-Ke Xuyen-Binh Trung-Thang Binh-Quang Nam

bia ngo canh hoan-phan thi thuan 001

Bia Ngo Canh Hoan-Phan Thi Thuan,Thi tran Nghen,huyen Can loc.tinh Ha Tinh

IMG_8004

Du an trung tu Lang va Den tho Ngo Quyen,Duong Lam,Ha Noi

 

Đăng bởi: nghienson | Tháng Mười Một 29, 2013

LỊCH SỬ HỌ NGÔ VIỆT NAM DIỄN CA

Lịch Sử Họ Ngô Việt Nam Diễn Ca

NGÔ ĐỨC THẮNG

ngo duc thang 1 001

(1912-1998)

Phái IV Chi V Họ Trảo Nha Thạch Hà Hà Tĩnh 

Cây có cội, nước có nguồn

Đời đời ghi nhớ công ơn sinh thành,

Quốc gia dân tộc gia đình

Đó là tâm huyết bẩm sinh con người.

Nước có sử truyền muôn đời

Chép việc sau trước các thời thịnh suy,

Nhà thời phải có phả ghi

Hình thành phát triển phân chi họ hàng.

Chim tìm tổ,người tìm tông

Nôm na ghi chép mấy dòng gần xa

Ngô tộc Gia phả Diễn ca

Đọc lên dễ nhớ,nhớ ra dễ tìm.

Cây một cội nẩy muôn mầm

Công đức tiên tổ thấm nhuần mà nên

Tổ xưa gieo đức gieo nhân

Tu nhân tích đức thịnh trường dài lâu.

Sông sâu thì nước mới sâu

Nước lên thuyền mới thuận chiều cùng lên.

Nước ta khởi tự Hồng Bàng

Vua Hùng dựng nước, An Dương dành quyền.

Nguyên xưa giải đất Văn Lang

Mười lăm tộc Việt địa bàn sống chung,

Công ơn trải các Vua Hùng

Ngàn năm vật lộn mở mang cõi bờ.

Đất nước vào tay Triệu Đà

Nhà Triệu đầu Hán đổi là Giao Châu,

Trưng Vương phất ngọn cờ đào

Giành quyền tự chủ được hầu ba năm,

Đông Hán Mã Viện tái xâm

Dựng cột đồng trụ diệt mầm tự do,

Thuộc Hán rồi đến thuộc Ngô

Tuỳ,Đường, Ngũ Đại bản đồ xoá tên,

Ngàn năm nô lệ Bắc phương

Ngàn năm tủi nhục đau thương giống nòi.

Thừa cơ phương Bắc rối bời

Nhà Đường suy yếu Khúc Thừa dấy lên,

Họ Khúc bại ,đến họ Dương,

Họ Ngô dành lại non sông nước nhà.

Kể từ những thuở xưa xa

Nước ta không chữ chỉ qua khẩu truyền.

Thời Hán, Sỹ Nhiếp, Nhâm Diên

Chữ Hán du nhập loan truyền lớp trên.

Bước đầu sử phả thành văn

Họ Ngô sớm học chép dần phả thư

Trải bao thế hệ thịnh suy

Tam sao thất bổn lẽ thì đương nhiên.

Đầu Hậu Lê có Ngô Lan

Sưu tầm hệ trưởng hết phần Lê sơ.

Thần phả, Bi kí,đền chùa

Biết thêm dòng thứ Lý, Lê đến Trần.

Mấy trăm năm Lê trung hưng

Nhiều nhà khảo cứu sưu tầm nối theo,

Bách Tính Trần Thực họ Ngô

Rồi Phan Hữu Lập Vũ Thư Thái Bình,

Hoan Châu có Ngô Phúc Lâm

Mỗi người ghi chép bổ sung họ mình.

Triều Nguyễn có Ngô Thế Vinh

Bỏ công sưu tầm nhuận sắc bổ sung.

Kể trên là phả liền dòng

Nói chung mỗi họ đều cùng chép sao

Tiếc rằng mất trước thiếu sau

Khó việc chắp nối khớp vào tổng biên.

Phả xưa ghi chép phân minh

Châu Ái phát tích các dòng họ Ngô,

Ngô Nhật Đại quán Ái Châu

Thế kỷ thứ 8 Giao Châu thuộc Đường.

Triệu tổ họ Ngô tôn xưng

Tương truyền quê cũ vốn vùng Châu Hoan,

Cùng quê giúp Mai Thúc Loan

Khởi nghĩa thất thế lánh miền Ái Châu,

Nông gia khuya sớm cần cù

Khuyên bảo con cháu “quốc thù chớ quên”.

Con trai Nhật Dụ trưởng thành

Theo đòi nho học nổi danh đương thời,

Phong tư tài mạo hơn người

Phủ liêu Liêu tá được vời làm quan.

Hào trưởng Đình Thực nối dòng

Đình Mân dời ở Châu Phong xứ Đoài

Làm Châu mục, có duyên may

Gặp bà Phùng Thị huý thời Tịnh Phong

Dòng dõi Bố cái Đại vương

Đường Lâm quê quán vốn dòng danh gia.

Anh hùng cái thế sinh ra

Tam tinh hậu bối,oa oa chào đời,

Lớn lên tướng mạo khác người

Mắt sáng tựa chớp,tiếng thời sấm vang,

Đường đường dáng cọp hiên ngang

Có thầy tiên đoán thành Vương sau này,

Bằng vào dị tướng của người

Tên “Quyền” được chọn từ ngày sơ sinh.

Em là Ngô Tịnh, thất truyền

Kỳ Hoa Trấn thủ sinh con năm người.

Ngô Quyền độ tuổi hai mươi

Tuân lời di huấn vội rời Đường Lâm,

Vào Châu Ái theo Dương Công

Xin làm nha tướng võ văn luyện rèn.

Thấy người tài đức vẹn toàn

Nhận làm nghĩa tử,giao quyền quản quân

Như Ngọc con gái Dương Công

Thành vợ thành chồng,dũng tướng ngày mai.

Kiếu Công Tiễn phản hại thầy

Đầu độc Diên Nghệ lên thay nắm quyền

Địa vị bất chính khó yên

Chạy theo Nam Hán khuất thân quy hàng.

Ý đồ họ Khúc, họ Dương

Bao năm mưu tính phút thành hư không,

Nguy cơ quốc phá gia vong

Ngô Quyền quyết chí hưng binh tảo trừ.

Vì đại nghĩa dương cao cờ

Nhân dân tướng sỹ nhất tề ứng theo

Đoàn quân”vấn tội” luyện mau

Công Tiễn khiếp sợ vội cầu viện binh.

Trừ Công Tiễn,phục Bạch Đằng

Quyết tâm chiến lược đập tan trận đầu,

Thời cơ tái chiếm Giao Châu

Lưu Cung vua Hán cầm đầu viện binh

Thuỷ quân Hoằng Tháo tiên phong

Qua cửa Nam Triệu vào sông Bạch Đằng

Khép chặt lưới phục sẵn giăng

Hùng khí cứu nước chín tầng bốc cao,

Trận bày theo ngọn thuỷ triều

Chiến thuyền chìm đắm nửa chiều giặc tan,

Tiên phong Hoằng Tháo chết chìm

Lưu Cung mất vía,khóc tìm đường lui.

Uy danh vang dội trong ngoài

Nơi nơi quy phục một thời hanh thông,

Chẳng theo họ Khúc, họ Dương

Tự xưng vương hiệu một phương trị vì,

Đặt quan chế,định triều nghi

Dựng nền độc lập đô kỳ Cổ Loa.

Sáu năm tại vị về già

Ngàn năm sử mới nước nhà sang thiên.

Con trưởng Xương Ngập kế quyền

Tam Kha phụ chính nhân dành ngôi vua

Xương Ngập thất thế lỡ cơ

Chạy về Nam Sách nương nhờ Phạm Công.

Càn, Nam Hưng tuổi còn non,

Tam Kha cho phép mẹ con ở ngoài.

Xương Văn độ tuổi lên mười

Nuôi trong cung cấm mong nguôi hận thù.

Nào ngờ tuổi nhỏ chí to

Năm năm khôn lớn mưu đồ phục hưng,

Phế Bình vương Trương Dương công

Đón anh Xương Ngập về cùng xưng Vương.

Qua ngôi bất chính họ Dương

Tướng lĩnh không phục xưng hùng khắp nơi.

Cậy tài thao lược hơn người

Xương Văn chinh thảo hết đoài sang đông,

Ba năm Xương Ngập từ trần

Xương Văn một mình Nam Hán cầu phong

Chức Tiết Độ sứ lại ban

Xương Văn bất bình chấm dứt bang giao,

Mười năm máu nhuộm chiến bào,

Một mũi tên độc bị mưu Thái Bình.

Xương Ngập bà Phạm Uy Duyên

Sinh con Xương Xý, Sứ quân Bình Kiều

Xương Tỷ đạo hiệu Chân Lưu

Phật đà Cát Lợi Ái Châu tu hành.

Khai quốc thọ giáo Văn Phong

Tiên Hoàng trọng dụng đứng hàng Quốc sư

Tôn phong Khuông Việt Thái sư

Giúp Đinh rồi lại giúp Lê Đại Hành,

Đạo cao đức trọng văn tinh

Ngoại giao tiếp sứ Tống đình vang danh,

Về già dựng chùa Vệ Linh

Dòng thiền Quan Bích đứng hàng thứ tư.

Xương Văn bà Dương Văn Nga

Sinh Ngô Nhật Khánh cũng là Sứ quân.

Lý Ngọc Dư sinh Nhật Chung

Nhật Minh là cháu ở vùng Sơn Tây,

Đổ Động đất huyện Thanh Oai

Là đại điền chủ,đầu thời Tiền Lê

Khởi nghĩa khôi phục nhà Ngô

Lê Hoàn đàn áp cơ đồ tan hoang

Con cháu ly tán tha phương

Phả ký gián đoạn thất truyền đến nay.

Đinh Vạn Thắng Vương lên ngôi

Dương Văn Nga chuyển sang tay Tiên Hoàng

Làm Hoàng hậu, một trong năm

Đinh Liễn rể thảo, Phất Kim dâu hiền.

Đỗ Thích đầu độc vua Đinh

Văn Nga nhiếp chính,tư tình Phó Vương

Đương triều Thập đạo Tướng quân

Long cổn khoác áo Lê Hoàn,nhường ngôi.

Văn Nga phận đẹp duyên may

Lại làm Hoàng hậu vua Lê Đại Hành,

Họ Dương phúc lộc trời dành

Liền ba triều đại ba lần Mẫu nghi.

Nhà Ngô tiền, hậu không dài

Đặt nền xây móng muôn đời tự do,

Dư uy hùng khí có thừa

Triều Đinh,Lê,Lý còn nhờ Ngô Vương.

Ngô Xương Xý sinh hai con

Bình Kiều tan nát an toàn được đâu,

Xương Sắc lưu lạc thượng du

Hai con khôn lớn giúp vua Đại Hành.

Tử Canh đi sứ Chiêm Chành,

Tử Án xẻ núi đào kênh mở đường

Biệt hiệu là “Thuỷ thạch tiên”

Khơi kênh Son,Sắt,mở đường Đèo Ngang

Hoa Lư nối đến đất Chiêm

Hai đường thuỷ bộ tiến quân Đồ Bàn.

Sang triều Lý, Mục châu Hoan

Tử Uy,Tử Vĩnh nồi dòng Đấu Lăng,

Ngày càng sa sút bần hàn

Cuối Trần lưu lạc về miền Đồng Phang

Chùa Thiên Phúc của làng Thung

Ngô Rô cùng cực độ thân coi chùa.

Ngô An Ngữ tuổi còn thơ

Hoan Châu ẩn náu qua thời Đinh, Lê.

Công Uẩn nhà Lý làm vua

Sùng ban Lang tướng theo về Thăng Long

Bà họ Hàn ở Khán Sơn

Sinh con Ngô Tuấn,Ngô Chương hai người

Thông minh vốn sẵn tính trời

Chuyên cần đèn sách, trau dồi võ công

Trứng rồng lại nở ra rồng

Non sông chung đúc anh hùng cứu dân.

Minh quân lương tể tao phùng

Nhật Tôn, Ngô Tuấn vua minh tôi hiền

Anh hùng ca viết một thiên

Bình Chiêm ngự Tống thái bình ấm no.

Ban cho lấy họ nhà vua

Thái tử Nghĩa đệ đứng đầu trăm quan,

Anh Lý Thường Kiệt đổi tên

Em Lý Thường Hiến nổi lên chữ Thường,

Nam chinh tiến thảo Đồ Bàn

Bắt vua Chế Củ cắt nhường ba châu

Đất nam mở rộng bước đầu

Di dân lập ấp đến cầu Hiền Lương

Bố Chính,Địa Ly,Ma Linh

Trở thành phên dậu nam biên nước nhà.

Nhà Tống phát động can qua

Mưu đồ xoá bỏ bản đồ Việt Nam

Ung Châu lương thảo sẵn sàng

Khâm ,Liêm hai cảng thuỷ quân chỉnh tề.

Chủ động đánh trước phòng ngừa

Tiến quân bất ngờ đánh úp Khâm ,Liêm

Tập kích hai cảng thắng nhanh

Hướng tây gấp đường tiến đánh Ung Châu.

Ung Châu thành cao hào sâu

Tô Giám cố thủ sai cầu viện binh

Hơn tháng công hãm thành Ung

Tô Giám kiệt sức thế cùng tự thiêu

Ra lệnh phá thành Ung Châu

Kho tàng lương thực quân nhu tan tành

Toàn thắng chủ động lui binh

Tiến không ai cản, rút càng ung dung.

Phục thù quân Tống tất sang

Luỹ dài vững đắp bờ nam sông Cầu

Thuỷ quân một cánh Lục Đầu

Một cánh mai phục trước sau Vân Đồn.

Đại quân Tống chia ba đường

Vườn không nhà trống,tiến tràn vào sâu

Thuỷ quân bị đánh vổ đầu

Chiến thuyền quay mũi buông neo đợi chờ

Dòng sông tiếp đến chông chà

Không thuyền đành phải trên bờ dừng quân

Nóng lòng tiến gấp Thăng Long

Cầu phao bè nứa vượt sông ba lần.

Quyết vì Tổ quốc quyết sinh

Quách Quỳ ,Triệu Tiết phải đành bó tay,

Đạo quân ba chục vạn người

Bờ bắc bị chặn kéo dài tháng hơn,

Tuyến tiếp tế bị đánh luôn

Trong quân lương thực thuốc men cạn dần,

Đêm đêm địch vận mấy vần

Lời ca huyền ảo tai quân vọng vào,

Khí thế quân Tống sụp theo

Thời cơ đã đến bước vào phản công.

Thủy quân giả đánh trại Đông

Bộ binh Như Nguyệt chính dinh đột vào,

Đại dinh Triệu Tiết bất ngờ

Mất nửa quân số chạy theo Quách Quỳ

Ta tuy tổn thất nặng nề

Nhưng đòn quyết định thắng, thua rõ ràng

Trại Tống dịch bệnh hoành hành

Thiếu ăn, thiếu thuốc muôn phần khó khăn.

Quách Quỳ tiến thoái lưỡng nan

Ta dùng Biện sỹ gợi đường lui mau

Sắp chết đuối, vớ được sào

Quân Tống thoát chết, chen nhau chạy dài.

Dạy Vương An Thạch một bài

“Non sông nước Việt của người nước Nam”

Kẻ nào ôm mộng xâm lăng

Chờ mà chuốc lấy bại vong về mình

Đập tan ảo mộng bá quyền

Ngàn năm nhớ mãi lời nguyền dân gian:

“Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan!

Thập nhân khứ, Nhất nhân hoàn ” ,Hỡi ôi!

Nước ta thực lắm hùng tài

Hưng Đạo, Lê Lợi, sau này Quang Trung.

Anh hùng đánh đuổi ngoại xâm

Nào ai đã dám đánh sang đất người

Đường đường chính chính dương oai

Vài tháng đánh chiếm liền tay ba thành.

Tiến như lốc, rút quân nhanh

Chủ động hoàn thành “tiên phát chế nhân”.

Hơn tám mươi còn ra quân

Bóng cờ thấp thoáng, địch liền rút lui

Anh hùng dân tộc thiên tài

An dân giữ nước chói ngời sử xanh.

Dòng dõi nối đến cuối Trần

Ngô Bệ Yên Phụ hai lần sa cơ

Thua làm giặc, được làm vua

Cháu con tan tác sinh ra thất truyền.

Đỗ Động có Ngô Giám Công

Lạc Nghiệp Bà Nồm ẩn náu nuôi con.

Gio Linh Nhĩ Thượng một dòng

Ngọc Hà, Vân Động, dời dần Đông Cao

Bắc Biên đất tổ từ đầu

Sơn Dương,Đồng Hỷ về sau mấy nghành

Hạ Đoạn đất cũ Chí Linh

Mộ phần tiên tổ vẫn còn nơi đây,

Phả xưa né tránh không ghi

Lâu năm thất lạc, tồn nghi mấy dòng.

Ngô Rô ở đất Đồng Phang

Coi chùa Thiên Phúc làng Thung độ ngày

Bà Trần Thị sinh Ngô Tây

Tích đức nhiều đời, đất phúc trời cho

“Ông Bờ Đó ,Bà Xó Chùa”

Đất “Kỵ long cách” phúc thừa dài lâu

Núi Quy, núi Phượng chầu vào

Mã, Lương, Chuỳ thuỷ trước sau minh đường

Lại thêm ba ụ thần đồng

Tiền án cung, nỏ, kiêm toàn võ, văn

Lẫy nỏ đặt Điện Phúc Quang

Thừa Hoa, Thuần Mẫu cùng chung một nền

Đời Ngô Tây vẫn bần hàn

Lấy bà họ Nguyễn sinh con Ngô Quỳnh

Cảnh nghèo lưu lạc tha phương

Vĩnh Lộc,Thạch Thành, Minh Lãng, Vũ Thư

Ly tổ vào độ tuổi thơ

Nhiều đời phiêu bạt sinh ra thất truyền,

Gần đây dòng họ Thái Bình

Vũ Thư, Minh Lãng về tìm mới hay.

Hai mươi đời đến ngày nay,

Hàng ngàn con cháu, trong, ngoài giàu sang.

Ngô Tây trong cảnh bần hàn

Coi chùa Thiên Phúc nhang đèn độ thân

Nhà họ Trịnh mộng “Cốc thần”

Giáng sinh trời dành, làm rạng họ Ngô.

Ngô Tây vẫn dựa cửa chùa

Thêm bà họ Trịnh huý là Thị Kim

Thị Kim sinh hạ Ngô Kinh,

Mẹ cha chết sớm, một mình bơ vơ

Cơm ngày bữa đói bữa no

Có người hàng xóm chỉ cho con đường

Tìm nhà Tù trưởng Lam Sơn

Gia nô giúp việc, Lê Công tin dùng

Lấy bà Lê Thị Quỳnh Hoàn

Thụ thai ứng mộng Rồng vàng giáng sinh

Sinh “Từ” dị tướng kỳ hình

Cao bảy thước rưỡi, thân hình nở nang

Mày thanh, mắt sáng, mũi rồng

Tay dài quá gối, tướng trông phi phàm

Thông minh chăm học chăm làm

Chăm sóc hầu hạ Lê công tận tình,

Lấy bà Ngọc Kế họ Đinh

Đêm trăng gặp được dị nhân dạy lời

Truyền cho tám chữ cơ giời

“Hưng quốc Nhữ phụ, thành thời Nhữ tôn”.

Bà thứ Đinh Thị Ngọc Son

Trai tài mười một, gái ngoan tám nàng

Gái đều nguyệt thẹn hoa nhường

Công dung ngôn hạnh đoan trang hơn người,

Ngọc Dao tài sắc tuyệt vời

Sinh ra Thánh Chúa, thay trời trị dân.

Trai đều bái tướng đăng đàn

Tên lưu gác khói,Đài loan tương truyền

Bốn trai Khế, Nạp, Nhạn, Lan

Thanh, Huệ, Từ, Hán bốn hàm Quốc Công

Quận Công ,Hầu tước bảy ông

Trung quân ái quốc, vì dân hết mình.

Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn

Trao căn cứ địa Ngô Kinh ,Ngô Từ,

Tuyển quân sản xuất tăng gia

Quân số lương thực cấp ra chiến trường

Giữ vững căn cứ Lam Sơn

Tổ chức chống địch an toàn mười năm.

Đến ngày đại định luận công

Hậu cần công nhất không nhường cho ai

Tiêu Hà nhà Hán ví tài

Bình Ngô Khai quốc, phong hai công đầu

Hưng quốc Kinh,Chương khánh Từ

Phúc quang dựng điện phụng thờ Ngô Kinh.

Cháu con trung dũng quên mình

Bình Chiêm phế bạo,vua minh tôn phò

Thuần Mẫu đường,điện Thừa Hoa

Trước sau ba điện đất là Kỵ long.

Biến thiên,lăng điện tan hoang

Khiến người quá khách chạnh lòng nước non.

Gian nan cộng khổ đồng cam

Nằm gai nếm mật chung phần buồn vui

Đại định rồi có thứ ngôi

Đố kỵ xu nịnh đồng thời phát sinh

Trong cung huynh đệ tương tàn

Ngoài triều các vị đại thần ganh nhau

Đại thần Khai quốc công cao

Lần lượt sa vào “chim hết bẻ cung”

Nguyên Hãn,Phạm Xảo,Lê Ngân,

Lê Sát ,Nguyễn Trãi lần lần chết oan.

Một trong năm vợ Thái Tôn

Ngọc Dao dễ được an toàn tấm thân?

Bà sủng phi Nguyễn Thị Anh

Gian ngoan xúc xiểm Thái Tôn làm càn

Biếm truất thái tử Nghi Dân

Đưa con trai mình lên ghế Đông Cung

Huệ Phi giáng xuống Tư dung

Sợ “Mộng Kim Đồng”, hãm hại Ngọc Dao,

Bịa chuyện hãm hại Bang Cơ

Thái Tôn khép tội Ngọc Dao voi dày

Được Nguyễn Thị Lộ giãi bày

“Chớ phạm thất đức vì lời dèm pha”

Thái Tôn chợt tỉnh cơn mơ

Ngọc Dao được phép ra chùa Huy Văn.

Huy Văn cửa Phật phước lành

Vườn chùa gốc chuối Thánh Quân chào đời.

Thị Anh, mọi chuyện thấu tai

Huy Văn đâu phải là nơi an toàn

Trượng nghĩa Nguyễn Trãi cưu mang

Mẹ con ra nẻo An Bang ẩn mình.

Thị Anh biết rõ sự tình

Nguyễn Trãi ,Thị Lộ kết nên thâm thù.

Gặp kỳ ngự giá tuần du

Chí Linh duyệt võ, ghé vào Côn Sơn

Thị Lộ tuỳ giá hồi loan

Hành cung dừng Lệ Chi Viên Gia Bình

Nửa đêm Ngọc thể khiếm an

Bệnh chuyển trầm trọng, giờ dần Vua băng

Trong ngoài kín mít như bưng

Bang Cơ tức vị, Thị Anh chuyên quyền

Thái hậu nhiếp chính lộng hành

Dàn dựng vụ Lệ Chi Viên báo thù

Vu cho Thị Lộ giết vua

Chủ mưu Nguyễn Trãi, khảo tra cực hình

Thị Lộ sức yếu chịu đòn

Đành nhận mọi tội hình quan đặt bày.

Nguyễn Trãi phải tội “Chu di”

Ba đời con cháu bắt về tống giam

Gái sung nô lệ nhà quan

Trai thời đưa đến pháp trường khai đao.

Một mũi tên hai mục tiêu

Thị Anh được thể quyền cao lộng hành

An Bang cảm thấy chưa an

Ngọc Dao lần nữa ẩn thân cửa chùa.

Nạn nước dẫn đến nạn nhà,

Sáu con Ngô Khế “Biệt cư” lánh mình.

Con gái biệt quán Chi Lan

Được Nguyễn Thị Lộ nhận làm con nuôi

Tưởng rằng tạm lánh nhất thời

Nào ngờ Thuỷ tổ mỗi người một phương.

Còn người còn nước còn non,

Còn trời, còn phúc, còn phần hiển vinh.

Mười bảy năm rối triều đình,

Thái hậu cầm quyền, trăm họ lầm than,

Vô đạo mất hết lòng dân,

Thời cơ thuận lợi Nghi Dân đoạt quyền.

Tay chân là Tuấn, Ban ,Đồn,

Đang đêm leo thành vào thẳng cấm cung

Giết Thái hậu, giết Nhân Tôn

Đóng chặt cửa thành, tuyên cáo lên ngôi,

Trả thù báo oán tơi bời

Hoang dâm, tàn bạo, trời, người không dung!

Bảy tháng niên hiệu Thiên Hưng

Oan khí bừng bừng, nộ khí xung thiên.

Anh em Ngô Khế kết liên

Đinh Liệt, Nguyễn Xý lo đường cứu dân

Trừ bạo chúa, lập minh quân

Tư Thành được rước về cung trị vì.

Ngọc Dao quen nếp trai chay

Chùa Huy Văn lại đêm ngày kệ kinh

Lòng con nặng mối ân tình

Nỗi oan Thị Lộ chưa minh rõ ràng.

Một chiều đưa tiễn Thánh Tôn

Có bà quỳ cửa đưa đơn khiếu nài

“Nhà tôi oan ức tày trời,

Phi bà Thái hậu ai người giải oan!”

Nhà vua xem xét lá đơn,

Uẩn khúc nào biết, ẩn tình nào hay

Ngọc Dao rằng: “Có ngày nay

Ba chìm bảy nổi đắng cay đã từng

Đành rằng hồng phúc Hoàng Tông

Cũng là Chuỳ thuỷ âm công góp vào”.

Tình đầu kể lại tiêu hao

Xác nhận sự thật mọi điều trong đơn

Nhân phiên nghị hội quần thần

Nhà vua sai đọc lá đơn cùng bàn

Triều đình đề nghị minh oan

Vua rằng ,việc phải rõ ràng phân minh

Tiền triều luận tội phản thần

Chứng cớ pháp lý rành rành còn đây

Nay bằng muốn xoá án này

Phải đủ bằng chứng sáng soi oan tình.

Nhà vua xuống chiếu loan truyền

Uẩn khúc vụ Lệ Chi Viên, ai tường

Dâng sớ tâu về triều đình

Quan thăng hai cấp, dân thường thưởng to

Tội tù án nhẹ được tha

Nặng thì giảm án, tử tù giảm sai.

Không lâu có sớ trình bày

Của quan Ngự sử dưới thời Nhân Tôn

Bị tội đồ ở Lạng Sơn

Cháu Nguyễn Thái Hâụ, am thông ngọn ngành.

Rằng bà phi Nguyễn Thị Anh

Bày mưu đặt kế, gian thần ra tay

Giết chồng đổ tội cho người

Sớm dành ngôi báu vào tay con mình.

Nhà vua xuống chiếu minh oan

Truy phong chức tước, cháu con sai tìm

Anh Vũ khi mới sơ sinh

Cải làm họ Phạm trốn sang đất Lào

Đặc ân cho chức Huyện Thừa

Gọi chứt biệt đãi đền bù nỗi oan.

Ngô Kinh sinh hạ năm con

Trưởng là Diên ý Dụ Vương Ngô Từ,

Thứ Ngô Đức dòng biệt cư

Tồn nghi dòng dõi nay là Phú Lâm,

Thứ ba Đại phu Ngô Khiêm

Dòng dõi kế truyền là họ Quảng Thi,

Ngô Đam là con thứ tư

Sinh ra Ngô Xuyến, cháu là Ngô Chung

Ngô Chung tước hầu Đông Dương

Thuỷ Tổ Ngọc Giả ở vùng Nam Ninh.

Con gái Ngô Thị Ngọc San

Lấy chồng Nguyễn Tín ở vùng Thanh Oai.

Ngô Từ mười chín gái trai

Tám bà con gái lấy người cao sang.

Con Trưởng Ngô Việt Nghĩa vương

Hai,Ngô Lộc Mỹ Quận công thất truyền,

Ba Điện bàn Hầu Ngô Hồng

Thuỷ tổ hai dòng Ngô Doãn ,Ngô Gia,

Huyện Đông Sơn thêm một chi

Phả ký gián đoạn thiếu đi mấy dòng,

Ngô Lương Hổ vệ Tướng quân

Con theo quê mẹ hai dòng hai nơi,

Một dòng Nông Cống ,Nghĩa Trai

Một dòng Chương Đức đến nay thất truyền.

Năm,Ngô Khế mười một con

Sáu “cư biệt quán”,năm còn Đồng Phang

Biệt quán Bách Tính ,Nam Chân,

Biệt quán trấn Nghệ tận vùng Trảo Nha,

Biệt quán Đông Ngạn coi chùa,

Biệt quán Vọng Nguyệt nương nhờ họ Chu,

Biệt quán làng Tó, Thanh Oai

Biệt quán Địch Lễ tìm nơi lánh mình.

Khắc Cung, Văn Bính, Thế Bang

Hữu Phái ,Ngọc Phác năm dòng Đồng Phang.

Sau Ngô Khế đến Ngô Lan

Quốc công Đại tướng hai lần bình Chiêm

Cháu trai ba vị tước Vương

Cháu gái Dục Thánh đứng hàng Thái phi.

Dòng Ngô Lan nay ở đâu

Phả cũ ghi lại “đi theo tự điền”

Nay xem ở tỉnh Ninh Bình

Yên Nhân ,Phạm Xá ,Ý Yên một dòng

Thuỷ tổ là Vinh Quốc công

Họ Ngô huý Chính ,đúng dòng Ngô Lan.

Bảy Ngô Nạp Diễn Yên Quỳnh

Hai mươi chi phái đa đinh phú cường

Cư trú hầu khắp Nghệ An

Một chi dời ở Thái Bình cải Phan.

Tám Ngô Hộ Đức Quốc công

Sinh con Ngô Hoán ,Thanh Lâm quê bà

Tao đàn ,Bảng nhãn, Thượng thư

Mạc tiếm, tử tiết ,không thờ hai vua.

Chín Ngô Nhạn bậc tài hoa

Chinh nam Đại tướng vào ra nhiều lần

Tước phong là Hoà Quốc công

Phả cũ bỏ lững nối dòng không ai.

Thiếu uý Ngô Kỷ thứ mười,

Mười một Ngô Hữu sinh trai Ngô Trầm

Ngô Trầm Hoàng giáp Tao đàn

Tức Ngô văn Cảnh ,Việt Yên Sen Hồ.

Ngô Khế quan trải bốn triều,

Hai lần phế lập đứng đầu trăm quan.

Sinh con mười một là nam

Phát triển trăm dòng khắp Bắc Trung Nam.

Người về Vọng Nguyệt,Sử Toàn

Ngô Nguyên tên đổi đến miền biệt cư

Lánh nạn nương nhờ họ Chu

Sau làm quan nhỏ trong triều vua Lê,

Lấy bà Thị Bột họ Chu

Sinh con Ngọc,Định,sớm mồ côi cha.

Bà Chu phúc hậu nếp nhà

Gặp năm đói kém dốc bồ cứu dân

Chuyện Bà Thí thóc truyền lan

Ngàn năm bia miệng âm vang vẫn còn.

Bà Chu cũng sớm từ trần

Con lớn Ngô Ngọc chuyên cần bút nghiên,

Đêm ngày đèn sách luyện rèn

Tiến sĩ đinh vị mở màn khoa danh.

Ba con Tùng,Hải,Lãn Nhân

Mậu Thìn,Nhân Hải trúng liền đại khoa

Con Nhân Trừng nối nghiệp nhà

Đệ nhị,Hoàng giáp đỗ khoa Canh Thìn

Phò Mạc làm chức Thị Lang

Thời Mạc Diên Thành, Thái uý Quốc công

Kiêm thập tam Đạo Đốc đồng

Đề lĩnh Tứ thành, phòng thủ Đông Đô

Quân Trịnh đánh vỡ Đại La,

Mậu Hợp xuất ngoại trao cho giữ thành

Thất thủ chạy đến Lâm Tiên

Sa tay quân Trịnh,Tùng khuyên về hàng,

Ra chi lơ láo hàng thần

Thuốc độc tử tiết vẹn toàn chữ trung.

Con trai Nhân Triệt nối dòng

Tiến sĩ đinh vị Thị Lang Lê đình.

Cháu Nhân Tuấn khoa Canh Thìn

Tiến sĩ cuối cùng dòng họ Yên Phong

“Ngũ Đại liên trúng” một dòng,

Xưa nay chưa thấy có trong văn đàn.

Hậu Lê sức thịnh suy nhanh

Vua Uy Mục Đế hôn quân bạo tàn

Ngoại thích lũng đoạn lộng hành

Lại thêm hạn hán mùa màng thất thu.

Đông Triều ,Đông Ngạn ,Tiên Du

Gia Lâm, Yên Phú đến đầu Vũ Ninh

Thây người chết đói đầy đường

Triều đình thối nát,dân thường lầm than

Thương dân khốn khó cơ hàn

Tiến sĩ Duy Nhạc cáo quan về làng

Liên kết với Ngô Nhân Tùng

Trung tâm Yên phú tập trung dân nghèo

Nổi lên chống lại quan triều

Trừ tham diệt ác hướng vào cứu dân

Đoan Khánh,Hông Thuận vài năm

Lực lượng phát triển tiếng tăm vang truyền

Yên phú có người nho sinh

Vào triều mật báo tình hình nghĩa quân

Vừa lúc lưu thủ Đông Kinh

Họ Ngô ,Văn Bính dẫn quân tiểu trừ

Nhân Tùng,Duy Nhạc sa cơ

Anh em thân thuộc nhiều nhà vạ vương.

Ngô Định con thứ Ngô Nguyên

Gặp cơn hoạn nạn vào miền Lý Trai

Ba con đã thiệt mất hai

Bốn cháu còn lại một người Quang Tâm.

Phả xưa có lẽ ghi nhầm

Có Ngô Quang Tổ ở vùng Hùng Nguyên

Quang Tổ Tiến sĩ Mậu Thìn

Phú Long, Hưng Cái sinh thêm ba dòng

Một dòng trở lại Yên Thành

Một dòng chợ Trúc, Hương Đồng Trúc Lâm

Cháu Ngô Định, Ngô Quang Tân

Lý Trai Đông Thành cần mẫn làm ăn

Trí Trạch, Tiên Gián hai con

Gián sinh Mậu Cử, Minh Linh Huyện thừa.

Trí Trạch sinh Ngô Trí Tri

Năm mươi sáu tuổi Nhâm Thìn gặp khoa

Cùng con trai Ngô Trí Hoà

Nạp quyển ứng thí, con, cha nhập trường,

Hồng Lô treo bảng xướng danh

Nhị giáp Hoàng giáp xuất thân Trí Hoà

Trí Tri Tiến sĩ, trong ba

Đồng khoa phụ tử, một nhà chiếm hai.

Nham cảo Mộ tổ có ghi

Thần đồng ba ụ, hai thì bố con,

Ấy là trùng hợp ngẫu nhiên

Hay là kiểu đất lưu truyền khoa danh?

Một dòng họ phát văn chương

Giám sinh, tứ trường hàng chục, hàng trăm

Riêng Đông Thành ,Tiến sĩ năm

Công Trạc, Hùng Giáo với cùng Sỹ Vinh

Truyền thống dòng giõi Ngô Nguyên

Yên Phong liên trúng, Đông Thành đồng khoa

Tiến sĩ Nhị giáp có ba,

Tam giáp có chín các khoa Lê triều,

Xem ra có lạ một điều

Khoa bảng chững lại từ Triều Gia Long

Trí Tri chức Tả Thị lang

Trí Hoà Ngự sử được phong tước Hầu.

Xuân Quận công, gia phong sau

Truy phong “Dự quốc Đồng hưu ” Công thần

Giúp dân đắp đập Cầu Bùng

Dân nhớ công đức khói hương phụng thờ.

Vào năm Phúc Thái thứ tư

Minh suy, Trịnh Tráng mưu đồ Quảng Đông,

Trịnh Lãm cùng Ngô Sĩ Vinh

Ba trăm chiến thuyền thẳng tiến Khâm Châu,

Vua Thanh thọ địch lưỡng đầu

Quân ta đến cứu, thúc vào giải vây

Vua Thanh Thành Tổ lên ngôi

Sai Sứ Hứa Khải sắc bài tạ ân

Phong làm Lưỡng quốc Công thần

Họ Ngô từ đó có thêm “Sắc Tàu”.

Họ Ngô Trí nối về sau

Phát triển chi phái khắp hầu Nghệ An,

Ông Học, con thứ Sỹ Vinh

Quê mẹ Thịnh Liệt một cành nở thêm.

Xã Bách Tính huyện Tây Chân

Nam Chân, Nam Trực nay thành Nam Ninh,

Ngô Công Tín Tây Quận công

Con trai Ngô Khế một dòng biệt cư,

Lập nghiệp chờ đợi thời cơ

Trở về đoàn tụ phụng thờ thần hôn

Con Viết Lễ, Thượng Tướng quân

Cháu Ngô Viết Ngạn sinh con bốn người,

Viết Bảo đi đâu chẳng hay

Viết Lượng Đô đốc thiên dời Bái Dương

Viết Dũng ở lại Nam Hồng

Sinh nhiều con cháu nay thành bốn chi:

Công Vạn thuỷ tổ Quỷ Đê

Con thứ Công Tín dời đi Thái Bình,

Sinh con trai huý Như Đăng

Cải sang họ Phạm về làng Quỷ Đê,

Quỷ Đê trước quán sau quê

Sinh con Hữu Số cháu thì Thế Trưng

Thế Trưng Thái bảo Quận công

Công cao giữ nước sắc phong đền thờ,

Ba con phân thành ba chi

Trưởng ở Nhật Mỹ,thứ thì Nhật Tân

Chi ba ở xóm Quỳnh Thương

Đa số theo giáo,bên lương một phần,

Ngô Viết Hùng gốc Nam Hồng

Xuân Dương lập ấp ly tông mười đời,

Cứ theo mộc chủ tìm tòi

Xếp được thế thứ bốn đời đầu tiên

Viết Hùng,Viết Hổ,Viết Quân

Viết Đoan sinh được sáu con sáu dòng.

Trung thôn Thạch Thành đại vương

Huý Ngô Quang Lộc tướng thần triều Lê

Danh hiệu “thành đá” Vua phê,

Thưởng công trấn dẹp vổ về tây biên,

Trần Thực Tiến sĩ Canh Thìn,

“Nhị khổng tước, ngũ thái long” tương truyền

Viết gia phả họ Nam Hồng

Hai trăm năm lẻ nay còn nguyên đây.

Cư biệt quán Ngô Bá Di

Con trai Ngô Khế, cải thì Hải Sơn

Lần về Đông Ngạn ẩn thân

Chùa Cảm Ứng xã Tam Sơn dấu mình.

Trai chay cầu mộng Sơn thần

Lưỡng ban phúc địa thần dành phúc nhân

Dòng Mâu Trụ chuyển sang văn

Đại khoa mở màn Tiến sĩ Ngô Luân

Ngô Thầm Bảng nhãn Tao đàn

Sinh con Miễn Thiệu Trạng nguyên Mậu Thìn,

Gặp khi nhà Mạc dành quyền

Lui về dạy học quê mình Tam Sơn

Vào năm Gia Tĩnh triều Minh

Sứ Minh thách thức, triều đình khoanh tay,

Vua Mạc sai sứ triệu vời

An nguy xã tắc, vội rời tiến kinh,

Vào triều đối đáp sứ Minh

“Lập thi thoái lộ” tiếng vang trong ngoài,

Vua Mạc đang thiếu nhân tài

Thượng thư trao chức, nối đời vinh quang.

Hai con Tam giáp xuất thân

Con nuôi Hoàng giáp làm quan Mạc triều,

Cháu con vài đời nối sau

Khuông phò nhà Mạc tận giờ suy vong

Đô cấp sự, Tả Thị lang

Ngô Vỵ, Ngô Củng ,Đông Sơn mấy người

Thăng Long thất thủ chạy dài

Đều bị Trịnh bắt, không ai quy hàng

Chúa Trịnh đối xử khoan hồng

Người về quê cũ, hoặc vùng Đông Anh.

Dòng trưởng Ngô Diễn thất truyền

Dòng thứ Ngô Dịch chia thành ba chi

Thôn Đoài, Sa Mạc,Đông Đồ

Tam Sơn trưởng tộc chăm lo từ đường

Ngày nay giữ việc khói hương

Chỉ còn một hộ biết lên bốn đời

Xã Tam Sơn, mấy họ Ngô

Quên gốc mất phả, không hề biết nhau

Ngô Phúc, Ngô Đức, có nhiều

Ngô Văn không phả, làm sao tìm tòi.

Sử Hậu về Tả Thanh Oai

Phúc Cơ tên đổi, bề ngoài “Tượng nhân”

Con Ngô Khế ,Thanh Quốc công

Thiên cư biệt quán thành dòng nho gia.

Ngô Gia Văn phái một nhà

Hai mươi tác giả văn thơ lưu truyền,

Hai chi Dáp Ất sơ phân

Chi Dáp thanh bần, chi Ất đa đinh,

Họ Dưỡng Phú thuộc Hưng Yên

Con trai Thì Ức phân thêm một nghành,

Họ Thị Cấm, họ Đông Quan

Trung Tự,Đồng Bạn, làng Vương, Tây hồ

Thuộc dòng chi Ất thiên cư

Tỉnh Thừa Thiên Huế một chi Ngô Thời,

Ngô Thì vào đó mười đời

Huyện là Hương Thuỷ, xã thời Thuỷ Xuân.

Họ Ngô Thì nổi thơ văn

Bên dòng sông Nhuệ quanh thành Thăng Long

Dòng nhân kiệt gặp địa linh

Văn chương nức tiếng, tính tình thanh cao

Khoa danh Tuấn Dị mở đầu

Mậu Dần Tiến sĩ, phong Hầu Sơn Nam,

Đình Thạc Tiến sĩ Canh Thìn

Tử trận Đoàn thành khi trấn Lạng Sơn.

Tiến sĩ Đình Chất là em

Lê Trịnh đại thần đều tước Quận công.

Thời Sỹ ,Nhị giáp xuất thân

Thời Nhiệm, Tam giáp cha con đồng triều.

Triều Nguyễn học giỏi có nhiều

Về đường khoa bảng mãi sau phục hồi

Đình Điền thi đình thứ hai

Tân Sửu Hoàng giáp, thiên dời Quảng Ninh,

Phải chăng mặc cảm triều đình

Hay là long vận, đất lành tạm ngưng.

Khuông phò chúa đến Trịnh Sâm

Hoạn lộ Thời Sỹ thăng trầm mấy phen

Nhà nghèo, phú “Trách quỷ bần”

Có tài nên được đặc ân Tiến triều

Đại khoa Hoàng giáp đỗ sau

Thăng quan tiến chức thuận chiều bước lên

Làm quan Tham chính Nghệ An,

Cách chức về làng kiện cáo mà nên

Lại ra viết sử cầm quân

Lạng Sơn đốc trấn dẹp yên Hoàng Đồng,

Sửa sang lại động Nhị Thanh

Viết sử lên án ,lưu truyền về sau

Công lao cống hiến khá nhiều

Canh tý nuốt hận ngậm sầu vì ai?

Sinh con ba gái, năm trai

Trưởng Ngô Thì Nhiệm anh tài nổi danh,

Sinh ra bẩm tính thông minh

Vừa hai mươi tuổi Á nguyên tứ trường

Ất Mão Tam giáp xuất thân

Giữ chức Đốc đồng Kinh Bắc, Thái Nguyên

Canh Tý sau vụ Trịnh Tông

Quan thăng ba cấp vào hàng phủ liêu.

Bà cả con gái họ Ngô

Thứ Hoàng Thị Yến vốn hầu trong cung

Hai bà sinh được sáu con

Diễn,Nghi,Quán,Hiệu,Huệ ,Nhiên, hai nàng.

Kiêu binh phế Cán lập Tông

Dính vụ Canh Tý ,Nam Chân lánh mình,

Quê bà Bách Tính, Nam Chân

Năm năm ẩn tránh chờ tuần thái lai.

Sau ngày Chiêu Thống lên ngôi

Trịnh Tông thảm bại mới quay trở về,

Chiêu Thống trao chức Hiệu thư

Chiêu Thống bỏ chạy, lại về Kim Quan,

Cuối năm ra hàng Tây Sơn

Nguyễn Huệ trọng dụng được phong tước Hầu,

Quân Thanh ào ạt tràn vào

Rút lui Tam Điệp mưu cao trình bày

Lui về Tam Điệp đợi thời

Giữ vững chổ hiểm chờ coi tình hình

Sai người cấp báo Phú Xuân

Theo dõi hư thực tình hình quân Thanh,

Chờ Nguyễn Huệ cử đại binh

Tiến ra sẽ đánh cũng không muộn mà!

Mưu cao Thì Nhiệm đưa ra

Hoàn toàn nhất trí trong ba khối đầu

Ba người một ý như nhau

Văn Sở, Nguyễn Huệ cũng đều quyết tâm,

Phản công đại phá quân Thanh

Chiến lược Tam Điệp lưu danh muôn đời.

Gia Long chiến thắng lên ngôi

Có ý lưu dụng nhân tài Tây Sơn

Không may gặp bạn Trần Thường

Công hầu khanh tướng ai nhường cho ai,

Nợ đời kẻ trả người vay

Thất thời, thất thế, thế thời thế thôi.

Họ Ngô Thì có ba người

Anh, em, chú cháu làm tôi cùng triều,

Thời Nhiệm đổi hướng xoay chiều

Em là Thời Chí giữ điều tận trung

Làm quan hầu cận trong cung

Chiêu Thống xuất thành, theo sát nhà vua

Trung hưng sách, hiến mưu mô

Lưu vong, hộ giá đến giờ mệnh chung.

Chú là Tưởng Đạo Giải nguyên

Làm quan từng trải ngoài biên trong triều.

Tri huyện từ chức nghỉ hưu

Kinh Bắc Hiến sát không lâu bỏ về,

Tây Sơn kêu gọi không ra

Trần Kỷ nài ép làm thơ trần tình.

Cháu, mưu Tam Điệp lui quân

Chú, vội dâng sớ truy binh kịp thời

“Sét đánh không kịp che tai,

Binh pháp đã dạy chớ hoài bỏ qua”,

Chiêu Thống tuyên triệu không ra

Tây Sơn laị gọi, bỏ qua không màng,

Gia Long nhắc đến xem thường

Dạy học chịu cảnh thanh bần lão nho.

Anh em, chú cháu một nhà

Thời cuộc chung một, mà ba nẻo đường.

Làng Địch Lễ xã Nam Vân

Ngô Ngữ đang độ thiếu niên dời về,

Lâu đời còn có biết chi

Không phả, gián đoạn, mất ba, bốn đời

Ngô Lâm có ba con trai

Vào đời thứ mười hình thành ba chi

Chi Dáp, Ngô Bộ kế thừa

Chi Ất Ngô Độ, Bính là Ngô Lương.

Ngô Lương tước Lễ Quận công

Giáo đầu thao trường huấn luyện cấm binh,

Gặp người lang bạt họ Phan

Nhận làm nghĩa tử hết lòng dạy nuôi,

Phan Công Đích đổi họ Ngô

Sinh con đẻ cháu mấy đời cải Phan,

Ngô Phan hai họ cùng làng

Những khi tắt lửa tối đèn có nhau

Đã mười bảy đời trước sau

Không hề biết được nơi đâu cội nguồn.

Người về biệt quán Châu Hoan

Lênh đênh bao quản bụi trần gió sương

Bước dần cuối đất Nghệ an

Quê người đất khách, an toàn là đâu?

Lần mò đến đất Chỉ Châu

Sống dồn cát trắng, bể dâu chạnh lòng.

Ngô Nước, Ngô Lợi đổi tên

Dừng chân tìm chốn an thân đợi thời

Năm trăm năm, mười tám đời

Cháu con nào biết xa khơi cội nguồn,

Chim tìm tổ, người tìm tông

Mười năm có lẻ đi tìm khắp nơi,

Vừa may Đông Ngạn có người

Phát hiện Ngô Khế sáu trai lánh mình.

Tìm đến Bách Tính ,Nam Chân,

Tìm ra Vọng Nguyệt,Đông Thành, Thanh Oai,

Hồng phúc tiên tổ cao dày

Chứng cho con cháu nối cây phả đồ,

Cứ trong phả cũ còn lưu

Thuỷ Tổ Ngô Nước cháu nhà Dụ Vương

Con Ngô Khế, Thanh Quốc công

Nạn nhà nạn nước đến vùng Chỉ Châu,

Chỉ Châu lần lữa mấy thu

Lần qua Trung Thuỷ tìm vào Thổ Sơn.

Chim khôn tìm đậu đất lành

Đồi Nghèn thanh tú, sông Nghèn trong veo

Sông dài uốn khúc quanh queo

Tuần trăng tròn khuyết, nước triều xuống lên.

Sinh con Phúc Hải Tổng binh

Cháu chắt lưu truyền” Xã tắc Trảo nha”,

Thạch Hà tướng phiệt truyền gia

Quận công mười tám,đại khoa ba người

Hầu Bá trọng trấn khắp nơi

Ngô gia Danh tướng, mấy người nổi danh

Dòng giõi đông đảo trăm ngàn

Phân cư trong nước khắp miền Bắc Nam,

Nhân vật lịch sử thành danh

“Nam diện trường thành”trọng trấn Nghệ An

Vĩnh lộc Hầu Ngô Phúc Thanh

Sinh Ngô Cảnh Hựu ,nguyên công Lê triều

Công thần “Dữ quốc đồng hưu”

Quân doanh Bật nghĩa ,thưởng nhiều chiến công

Bắc diệt Mạc, bắt Kính Cung

Nam chống quân Nguyễn biên cương vững vàng.

Ngô Phúc Vạn, Tào Quận công

Ba con tước Quận đồng phong một ngày

Quân doanh Trung nhuệ được khai

Hoạt phật Thái Bảo đương thời tôn xưng.

Quê hương lăng mộ từ đường

Di tích xếp hạng ghi công lâu dài,

Phúc Vạn sinh mười con trai

Mười lăm con gái có hai cung tần.

Mười trai bái tướng đăng đàn

Thành mười chi họ Bắc Nam một nhà.

Phúc Thiêm danh tướng Ngô gia

Mới mười ba tuổi tước đà Quận công

Có tài nhưng lại ngang tàng

Một năm ba họ ,Quận công hai lần

Lâm trận biến hoa như thần

Bách chiên bách thắng chưa lần nào thua

Uy danh vang dội gần xa

Mới nghe tên hiệu địch đà tháo lui

Hiếu sát, khiếm đức tiếc thay

Mệnh yểu chết sớm nhiều tài ít công,

Xưa ngày bị biếm hàm oan

Đã có bà thiếp sinh con đầu lòng

Đưa con về đất Hải Dương

Nay thành dòng họ Chi Lăng Bắc này.

Cuối đời ,bà thiếp họ Mai

Sinh thêm một người thành họ Hàm Anh.

Hàn Quận công Ngô Phúc Đang

Thổ Sơn hương khói thay làm trưởng chi.

Châu Đốc, họ Châu Thới nhì

Đằng quận Phúc Hạp một chi hình thành.

Đáng Quận công Ngô Phúc Tân

Cầm quân đánh Nguyễn đất Chàm sa cơ

Phát triển nay thành hai chi

Phù Mỹ Bình Định,phân chia Thăng Bình.

Phượng Quận công từ một ngành

Chia thành bốn nhánh Bắc Trung mấy miền.

Chi sáu là Ngô Phúc Điền,

Phúc Liêu chi bảy hai miền Bắc nam,

Hà Nội chi bảy Thổ Quan

Quảng Nam chi bảy Thăng Bình, Kế Xuyên.

Thứ tám Phúc Phổ thất truyền

Tồn nghi dòng dõi vào lần đàng trong

Ngô Mãnh có thể là con

Huyền tôn Văn Sở ,Tây Sơn danh thần,

Một dòng ở huyện Hương Sơn

Một phái Chợ Rạng nối dòng ngày nay.

Chi chín Phúc Trị Trảo Nha

Đại Lộc,Tiến Lộc chia ra mấy ngành.

Chi mười ở tỉnh Quảng Bình

Phúc Triều con út tước Khanh tương Hầu

Đồn quân Bến Trọng tuyến đầu

Bà thứ ở lại về sau hai dòng

Một dòng Công giáo Đại Phong,

Một dòng Phổ Trạch đều cùng Lệ Ninh.

Ngô Phúc Thụ Vinh Quận công

Con trưởng Quận Phượng sinh con bốn người

Một Vương, hai Quận, một Hầu

Tằng tôn có Đại tư đồ Phúc Phương

Phúc Phương ở Cung Ninh Sơn

Cháu con đông đúc phân dòng ba chi.

Vào thơi họ Trịnh vừa suy

Trịnh Tông bị phế, mưu mô dành quyền

Âm mưu chưa kịp tiến hành

Trịnh Tông vào ngục, đại thần chết oan

Ông chú Quận Phổ bị can

Phúc Phương hai cấp xuống hàng quản quân

Kiêu binh phế Cán lập Tông,

Phúc Phương đắc thế được thăng Tư Đồ.

Kiêu binh náo loạn Kinh đô

Khuyên chúa kiềm chế, hiềm thù phát sinh

Hai lần chạm trán kiêu binh

Dinh thự gạch ngói một viên không lành.

Tây Sơn làm chủ Kinh thành

Theo chúa Trịnh Khải đến miền Quốc Oai

Trịnh Khải chết, tìm người thay

Trịnh Bồng liền mời tôn Án Đô Vương,

Mưu đồ khôi phục Thăng Long

Vừa may tháng tám Tây Sơn rút vào,

Lập chúa mới công càng cao

Bốn con cùng lúc cầm đầu Cấm quân.

Nguyễn Hữu Chỉnh đến Thăng Long

Hai con tử trận,Ninh Sơn quay về.

Vỵ phái Hầu phái thứ nhì

Giữ Trường Dục bị bao vây hai đầu,

Nguyễn Lữ sông Gianh đánh vào

Văn Nhậm Ái Tử trước sau nghẽn đường

Cùng Ninh Tốn chức Đốc đồng

Ngã cờ im trống âm thầm rút quân.

Vũ Văn Nhậm đến Thăng Long

Lang Điền về ở cải thành Lê Ngô.

Biển vàng “Trung liệt nhất gia”

Bà Phan Thị Thuấn vợ Ngô Cảnh Hoàn.

Cảnh Hoàn con Cảnh Quận công

Chiến tuyến thủy trận sông Hồng dàn quân

Chiến thuyền Nguyễn Huệ tiến công

Cha con vỡ trận một đường quyết sinh,

Tin về ai nấy đều kinh

Vợ ba Phan Thị một mình cười vui

Xuân xanh đang độ hai mươi

Phấn son trang điểm ,gấm the áo quần

Kẻ chê người trách mấy lần

Vẫn không ân hận thanh minh điều gì,

Thất tuần vừa đã đến kỳ

Đến chùa Kinh Bắc trai nghi sẵn sàng

Rước thầy siêu độ cho chàng

Báo cho bầu bạn họ hàng biết tin

Tin rằng bà sẽ quyên sinh

Theo chồng tử tiết vẹn tình lửa hương

Họ hàng bầu bạn chưa tin

Đến ngày Bách Nhật lên đàn dâng hương

Nguyền cùng trời đất tổ tiên

Long vương Hà bá Quỷ thần chứng minh

“Chàng chết trung, thiếp chết trinh

Nguyện thân thiếp được ở bên thân chàng”

Ai mà tìm vớt thây nàng

Thì thân người ấy cùng dòng trôi theo.

Vĩnh biệt chú bác bạn bầu

Thúy Ái ba đào thuyền nhẹ lướt ra

Mịt mờ mây nước xa xa

Nàng gieo mình xuống Hồng Hà thắm thêm.

Trâm ngọc Hầu vớt xác lên

Nấm mồ liệt nữ đắp bên ven bờ

Làng Thuý Ái lập đền thờ

Bảng vàng bốn chữ”Một nhà liệt trung”.

Trâm ngọc Hầu đưa vợ con

Sơn Tây sơ tán, mưu toan phục thù

Sơn Nam Hạ,cùng bạn bè

Tập hợp lực lượng trả thù Tây Sơn.

Sau rồi tử trận trên sông

Đồn rằng ứng nghiệm lời nguyền bà Phan.

Ngô Phúc Thiện em Cảnh Hoàn

Cùng Ngô Phúc Duyện dưới quyền Tá Giao

Nghệ An phục kích đón đầu

Chờ Tây Sơn rút, đánh vào trung quân

Lực lượng mỏng bị diệt nhanh

Cha con Phúc Thiện trở thành tù binh,

Dạt vào Mông Lãnh Quế Sơn

Cha về con ở dựng thành một chi.

Chi sáu Xuân Lộc đến nay

Chi bảy Thăng Bình với lại Thổ Quan.

Chi tám Phúc Phổ thất truyền,

Chi chín Phúc Trị nghiệp văn chuyển mình.

Môn sinh Nguyễn Nghiễm Tiên Điền

Khoa bảng mở màn từ Ngô Phúc Lâm

Tam giáp Tiến sĩ xuất thân

Con cháu thi đỗ cử nhân ba người,

Ngô Đức Kế cháu năm đời

Tam giáp Tiến sĩ tuổi đời hai ba

Nặng lòng hai chữ” nước nhà”,

Duy tân vận động Đông du phong trào

Vận động Trung kỳ xin sưu

Thực dân Pháp bắt,Nam triều xử phân

” Giảo giam hậu” xuống” chung thân”

“Chống hai chính phủ tiềm thông nước ngoài”

Đày Côn Đảo tù khổ sai

Tha,về viết báo,suốt đời đấu tranh

Góp phần vận động thanh niên

Đấu tranh cách mạng dành quyến tự do

Mười ba năm trong lao tù

Thiên ma bách chiết dễ chi sờn lòng

Chính luận trên báo Hữu thanh

Giác quần thư xã tạo nhanh nhân tài,

Một đời vì nước vì nòi

Việt nam Chí sỹ đương thời tôn xưng.

Ngô Phúc Triều Hầu Khanh tương

Trấn thủ Bến Trọng ở luôn không về

Đại Phong ,Phổ Trạch phân chia

Nửa trên Công giáo,còn thì bên lương

Công giáo là phái Ngô Đình

Học hành đỗ đạt nên danh một nhà,

Ngô Đình Khả chức Thượng thư

Trong triều dám chống án từ Thực dân

“Đày vua không Khả “một vần,

Kể ra có tấm trung can không vừa

Sinh con Khôi,Thục,Diệm,Nhu

Đình Luyện,Đình Cẩn,dâu là Lệ Xuân.

Trảo Nha phả ký lần xem

Truyền thống trong họ có thêm đặc thù,

Thế phiệt ,phò mã,cung phi

Họ Ngô họ Trịnh nối đời kết thân

Chúa Trịnh bại,môt lòng trung

Đến bước đường cùng vẫn chống Tây Sơn,

Phải chăng ân sủng báo đền

Hay vì huyết thống hai bên sinh thành

Hay do mù quáng mà nên

Hay do tiết tháo giữ tròn thuỷ chung

Vào thời Nho giáo thịnh hưng

Trung hiếu tiết nghĩa phân minh rõ ràng

Trung thần bất sự nhị quân

“Vận khứ ẩm hận” há rằng” Ngu trung”

Quy hàng thì được vinh quang

Xu thời nào đáng tấm gương soi mình

Lam Giang Hồng Lĩnh chung anh

Địa linh nhân kiệt hợp thành sinh ra

“Cổ hào kiệt địa Trảo Nha”

“Thạch Hà tướng phiệt thực là giai nhân”,

Có câu thơ cổ từ Trung Quốc vịnh :

(Nam phương đa giai nhân )

(Trảo Nha cổ hào kiệt địa )

Họ Ngô Mông Lãnh Quế Sơn

Có người cầu thực làm ăn xa nhà

Ngụ cư đất xã Cẩm Sa

Chồng cuốc mướn, vợ bán đa lần hồi

Hai con lớn làm tôi đòi

Ngô Chuân mới đưọc tới lui thầy đồ

Xay bột bắt ốc mò cua

Mới tuổi mười bốn văn thơ hào hùng

Thần đồng nổi tiếng trong vùng

Hai mươi sáu tuổi bảng vàng ghi tên

Mậu Tuất Phó bảng đề danh

Cùng đứng trong hàng “Ngũ phượng tề phi”.

Ngô Văn Sở gốc Trảo Nha

Tây Sơn danh tướng sử ghi chép nhiều

Thân thế còn chỗ mơ hồ

Dòng dõi nối tiếp bây giờ còn không?

Ngậm hồn dưới nước sông Hương

Bảo vệ sinh tồn, con cháu tản cư

Có dòng cải Nguyễn từ Ngô

Ở thôn Đa Sỹ thuộc về Hà Đông

Thuỷ Tổ chỉ có phu nhân

Từ con đến cháu đều dòng họ Ngô

Cuối thời Tây Sơn ẩn cư

Gia Long tức vị vừa đời thứ ba

Sợ tàn sát, bỏ họ Ngô

Đổi sang họ Nguyễn, bảy đời đến nay

Biến thiên lịch sử mà suy

Phải chăng Tông Trấn đương thời Thăng Long

Vợ con thê thiếp sống chung

Gặp nạn vợ phải bồng con lánh mình

Vì là Đại tướng Tây Sơn

Gia Long tức vị, cháy thành vạ lây

Phòng xa, họ Nguyễn vội thay

Hộ Ngô dấu mặt ai hay ẩn tình.

Ngô Khế có mười một con

Sáu cư biệt quán kể trên đã tường

Nam Quận công Ngô Khắc Cung

Là con thứ bảy, vốn dòng Đồng Phang,

Tám Văn Bính, chín Thế Bang,

Mười Ngô Hữu Phái Nguyễn Hoàng đi theo.

Mười một Ngọc Phác cải Hoa

La Phù cư trú nay là Từ Liêm

Vừa khi họ Mạc tiếm quyền

Chiêu Tông xuất ngoại ly cung chạy dài

Đăng Dung truy đuổi đến nơi

Cướp vua về Bắc, sai người thí xong

Khắc Cung, Văn Bính ,Thế Bang

Chiêu quân cứ hiểm Đồng Phang quê nhà.

Lê Ý khởi ở Quan Gia

Hiệp cùng Lê Ý dựng cờ phù Lê

Đăng Dung tiến đánh Quan Gia

Đại bại rút về, tiếp đến Đăng Doanh

Thuỷ quân tướng Mạc Quốc Trinh

Hai trăm chiến thuyền Yên Định đổ quân

Bắt được Lê Thị Ngọc Dung

Em gái Lê Ý ở vùng Đồng Phang,

Người hiếu sắc gặp mỹ nhân

Bắt ép làm vợ, trong quân giữ nàng

Ngọc Dung lập kế giúp anh

Đặt ra điều kiện tạo thành thời cơ

Nàng rằng phương diện quốc gia

Ba quân ngưỡng mộ, người ta trông vào

Hạnh phúc chồng vợ dài lâu

Ngày lành tháng tốt phải cho đàng hoàng

Sắc không sóng gió đắm thuyền

Đúng giờ lễ cưới phục binh ập vào

Đang tiệc rượu bị bất ngờ

Hàng ngũ rối loạn, quân thua thuyền chìm

Quốc Trinh thu thập tàn quân

Ngọc Dung từ trần trong đám loạn binh

Sắc phong Biến quốc Phu nhân

Luỹ Đại công thần, Dữ quốc đồng hưu.

Vào khoảng hai mươi năm sau

Nguyễn Hoàng Ái Tử vừa vào ba năm

Tướng nhà Mạc Lập Quận Công

Sáu mươi chiến thuyền Hồ Xá đổ quân

Bắt được Ngô Thị Ngọc Lâm

Thiên hương quốc sắc vốn dòng An Mô.

Cũng phường hiếu sắc dâm ô

Ép buộc làm vợ không cho trở về

Ngọc Lâm suy tính mọi bề

Trung trinh hai chữ sao cho vẹn tròn

Tỷ tê với Lập Quận Công

Rằng gái lấy chồng có ý mẹ cha

Mẹ cha tuổi tác đã già

Tòng phu xuất giá, ai mà thần hôn

Lại trong khu vực Nguyễn Hoàng

Tính mạng cha mẹ an toàn được chăng

Xin đón cha mẹ về cùng

Chọn ngày lễ cưới đàng hoàng mới hay!

Mê sắc đẹp thiếu nghĩ suy

Đón cha mẹ đến chủ trì hôn nhân

Tổ chức lễ cưới ngoài dinh

Đơn đao phó hội đinh ninh an toàn.

Cảm tử độn thổ giữa tràng

Đúng giờ giao bái vùng lên diệt thù

Thiếu cảnh giác Mạc thua to

Dong buồm ngược gió cuốn cờ mà dông

Ngọc Lâm tháo cũi sổ lồng

Sau về lấy chồng họ Vũ, Kỳ Hoa.

Gia Long chiến thắng làm vua

Mộ dời Hương Thuỷ họ Ngô phụng thờ

Con dâu, con gái họ Ngô

Hiếu trung,mưu lược lại vừa tiết trinh.

Mạc Quốc Trinh lui Hà Trung

Bộ binh trên đường vừa tới Đồng Phang

Đăng Doanh trúng kế trá hàng

Đại quân tan tành phải rút tàn binh

Lê Ý chiếm được Tây Kinh

Thắng kiêu khinh địch sớm tan cơ đồ.

Anh em tướng lĩnh họ Ngô

Kéo quân sang Lào phù trợ Nguyễn Kim.

Đô tướng ấn kiếm được phong

Cùng với Trịnh Kiểm chiếm vùng Lôi Dương

Anh em nối tiếp từ trần

Con cháu nối truyền diệt Mạc phù Lê,

Dòng dõi phân làm nhiều chi

Nguyệt Viên làng Nhì với lại Cự Thôn

Trực Ninh ,Hưng Để,Đô Quan

An Nông Nam Trực ,Thái Bình Tống Văn.

Đời hai sáu Ngô Tiến Vinh

Con Ngô Đình Quyền ra ở Tống Văn,

Tống Văn, Minh Giám hai ngành

Hiềm nghi ngoại thích lánh mình cải Phan .

Mẹ Tiến Vinh con Nguyễn Công,

Vợ lại là cháu có tên Ngọc Trì

Nguyễn Uông bị Kiểm giết đi

Trai trốn Giao Thuỷ,gái nhờ họ Ngô

Chiến tranh Trịnh Nguyễn nổ ra

Cháu ngoại họ Nguyễn nên cơ hội này,

Mấy ai thấu hiểu cơ giời

Mấy ai lường được là người phụ ta

Mấy đời lửa đạn xông pha

Khuông phò chúa Trịnh,khuông phò vua Lê,

Chỉ vì có mẹ Ngọc Trì

Cha Ngô mẹ Nguyễn con thì họ Phan,

Cha ông vì chúa quên mình

Chúa mưu ngôi chúa,ai oan mặc lòng.

Ngô Văn Bính Thuỵ Quận công

Một dòng vẫn ở Đồng Phang làng Nhì,

Cũng vì ngoại thích hiềm nghi

Phải đi lánh nạn tìm về Bái Dương,

Tiến sĩ Nhị giáp hội nguyên

Là Ngô Bật Lạng làm quan Mạc đình

Thị lang phó sư đi Minh

Nhiễm bệnh thất lộc đương trên đường về

Áo quan đồng chuyển về quê

Xét công gia tặng Thượng thư tước Hầu.

Ngô Phúc Khánh vào Yên Mô

Bồ Châu rồi lại Đáp Cầu thiên cư

Dựng nên dòng họ mạnh giàu

Con đường thực nghiệp sớm theo kịp người

Họ Bái Dương lắm văn tài

Cử nhân Tiến sĩ nối đời khoa danh

Đinh Sửu Tiến sĩ Thế Vinh

Liếc trộm mặt rồng may được dung tha.

Làm quan giám khảo trường thi

Vì vớt nhân tài mất chức Lang trung

Trở về dạy học Bái Dương

Môn sinh thành đạt tiếng vang tới triều,

Trọng tài Tự Đức triệu vào

Ra bài thi lại,định trao chức quyền

Chối từ lấy cớ cao niên

Tiến sĩ được phục khoa danh trở về,

Một người hai bận “Hội thi”

Hai lần Tiến sĩ vinh quy về làng.

Dực Quận công Ngô Thế Bang

Ngày nay nguyên quán Đồng Phang một dòng

Mấy dòng cư ngụ Bắc Giang

Việt Yên ,Đào Ngạn, Mỹ Điền nhiều nơi.

Bốn dòng còn đang tồn nghi

Ngô Đức,Ngô Thế,Ngô Đình,Ngô Văn.

Ngô Văn Ninh Động ,Ninh Sơn

Phả ký ghi chép được trên mười đời

Có họ có phả lâu đời

Mối xông phần nửa hết tài nhận ra.

Việt Yên có Ngô Đình Nga

Tướng Mạc Mậu Hợp chạy qua Trịnh Tùng

Giúp Trịnh đã nhiều chiến công

Bùi Khuê, Phan Ngạn lại cùng nổi lên

Kéo quân đánh chiếm Kinh thành

Cao Bằng đón Mạc Kính Cung trở về

Quân Trịnh phản công kịp thì

Đình Nga bị giết ,Cung lui Cao Bằng

Di tích lăng tẩm Mỹ Điền

Xem ra được biết là dòng họ quan.

Ngô Lan tước Hán Quốc công

Con trai thứ sáu Dụ vương Ngô Từ

Về già Tri điện Thừa Hoa

Biên soạn thế phả Ngô gia một dòng

Con Ngô Chính,Hùng Quận công

Xưa nay các phả ghi chung thất truyền.

Ngô Lê Chính,Vinh Quốc công

Thuỷ tổ Phạm Xá phải chăng là người?

Họ Phạm Xá mười sáu đời

Dốc lòng tìm gốc đến nay chưa tường.

Em Ngô Tông, Diễn nghĩa Vương

Sinh con Ngô Tín cùng hàng vương gia

Ngọc Trăm, Dục Thánh Thái phi

Con gái Ngô Tín sinh ra Đoan Từ.

Đoan Từ Thái hậu nhà Lê

Là mẹ Hoàng đế Duy Kỳ Thần Tông

Thần Tông niên hiệu Đức Long

Dựng Diên An điện ngoại tông phụng thờ.

Ngô Nạp con thứ Ngô Từ

Cả dòng dời ở Đông Câu ,Vạn Phần

Được cấp ba trăm mẫu điền

Mười tám mẫu thổ bình Chiêm công đầu,

Đời bốn đổi họ Phúc Đào

Lấy Phan, họ mẹ vì theo tự thừa.

Phan Đào sinh con Phan Mưu

Mưu sinh Chính Niệm thiên cư Thái Bình,

Họ Phan có Phan Bá Vành

Sau phân thêm ngành Trà Lũ, tỉnh Nam

Bá Vành mưu việc cứu dân

Nổi dậy chống lại triều đình vua quan

Bảy năm chiến đấu gian nan

Quân triều áp đảo thế cùng phải thua

“Trên trời có ông sao Tua

Ở làng Minh Giám có Vua Bá Vành”.

Kể trên tư liệu lưu truyền

Các dòng thế thứ nối liền trước sau,

Ngoài ra nhiều dòng khác nhau

Phả ký tuy có trước sau không đầu,

Nói rằng từ Nghệ trở vào

Ninh Bình ra Bắc đâu đâu cũng là

Đều từ một gốc mà ra

Đều là dòng dõi con nhà Đồng Phang,

Chỉ tương đối với thời gian

Ai cấm họ khác cải sang họ mình

Họ Ngô đổi được ra Trần

Họ Lê cũng đổi để thành họ Ngô,

Nhiều họ Ngô gốc Trung Hoa

Rải rác ở Bắc,nhiều là miền Nam,

Tương truyền giả giả chân chân

Đã là nghiên cứu phải nên tận tường,

Đủ tư liệu mới chứng minh

Chưa đủ tư liệu thời đành tồn nghi,

Dần dà khi gặp duyên may

Cố công tìm kiếm có ngày rõ thêm.

Sau đây nhiều họ mọi miền,

Chưa rõ thuỷ tổ nối lên mấy đời

Địa danh huý tự lệch sai

Ví từ Mộc chủ Thần bài chép ra,

Nhưng nào đâu dám bỏ qua

Trung thực ghi lại,dần dà bổ sung.

Tả Thanh Oai Bồ Đốc công

Thuỷ tổ họ lớn ở làng Tô thôn

Tương truyền gặp loạn Quảng công(?)

Trung Quốc lưu lạc,lớn khôn trở về.

Thanh Oai chiếm cứ một khu

Trước thôn Yên Xá,sau về Tô thôn

Mấy chi có phả chép nhầm

Thanh quốc,Minh quốc tới vùng Thanh Oai

Đến nay hai mươi lăm đời

Cháu con đông đúc chia mười một chi.

Cùng làng với họ Ngô Thì

Xưa nay hai họ không hề biết nhau.

Quan văn quan võ Hậu Lê

Đại khoa hai người Vi Thực, Vi Nho,

Ngô Vi Quý Thanh phong Hầu

Làm quan ba triều Lê,Nguyễn,Tây Sơn,

Nhà Lê Nội hàn cận thần

Tây Sơn trong đoàn đi sứ sang Thanh,

Tây Sơn bại theo Gia Long

Phò Nguyễn đến cùng, cuộc sống vô tư.

Họ Ngô Vi ít thiên cư

Gia Miêu là một,hai thì Lý Nhân.

Thời quân Trịnh hạ Thăng Long

Có hai binh sỹ về làng La Khê,

Người anh sinh sống ở đây

Là Ngô Phúc Nghiễm xưng người Ái Châu,

Bốn đời nối tiếp nhà nghèo

Găp người thiện chí giúp theo học hành.

Duy Viên sẵn khiếu thông minh

Chuyên cần đèn sách khoa danh thành tài,

Đời Cảnh Hưng năm ba mươi

Hai sáu tuổi đời Tiến sĩ Hội nguyên,

Ra làm Đô cấp sự trung

Quan lộ thăng dần Bồi tụng Thiêm đô.

Nguyễn Quang Trung lên làm vua

Cha con mặc cảm không ra đầu hàng

Mấỵ năm trốn tránh Hương Sơn

Gặp bước đường cùng ,Ngô Duệ ra thay.

Sinh hạ mười ba con trai

Con cháu sau này có mười một chi,

Duy Trưng anh cả Hội thi

Ất Mùi Tiến sĩ tuổi đời ba nhăm

Làm quan Ngự sử Sơn Nam,

Tây Sơn ra Bắc bỏ quan về nhà

Ba La nổi tiếng văn hoa

Phụ đăng khoa tử đăng khoa tiếp liền

Giám sinh ,cử, tú nối chân

Ba anh em ruột Cử nhân cùng ngày,

Ngày nay tân học kém ai

Giáo sư, Tiến sĩ trong ngoài khá đông.

Xem ra chí hướng không đồng

Cha anh chống đối Tây Sơn đến cùng,

Con em phò tá Tây Sơn

Sinh chuyện bất bình nội bộ cha con.

Huyện Quốc Oai, làng Ngọc Than

Họ Đỗ về ở thời gian cuối Trần,

Họ Ngô, Đỗ Động chạy sang

Sau vụ Ngô Bệ mưu toan không thành,

Họ Xuân Bảng huyện Mê Linh

Tổ Ngô Miễn, Thái học sinh cuối Trần,

Đưa người khai khẩn Sơn Nam

Bãi biển Giao Thuỷ trở nên ruộng đồng,

Người Xuân Mai,người Mê Linh

Nay thành mười họ phồn vinh một vùng,

Nhớ công đức dựng Từ đường

Xuân thu hương khói họ Hoàng trông coi,

Địa danh Xuân Bảng quê người

Đặt cho xã mới nhớ đời không quên.

Nhà Hồ chống trả quân Minh

Ngô Miễn chiến đấu hy sinh Thần Phù

Tin về ai nấy buồn rầu

Riêng bà Nguyễn Thị chẳng sầu chẳng than,

Rằng “Nhờ ơn nước lộc dân

Vì dân vì nước thân mình sá chi

Vận nước gặp lúc suy vi

Hy sinh đúng chổ còn gì khóc than!”

Chỉnh tề lễ vật đèn nhang

Gieo mình xuống nước theo chồng quyên sinh.

Một nhà vẹn cả trung trinh

Tấm gương tiết nghĩa lưu danh muôn đời.

Chi Nê Chương Mỹ Hà Tây

Một họ cư trú từ thời Lê sơ

Thuỷ tổ Trung uý Ngô Bì

Đến nay con cháu gần hai mươi đời,

Sinh Cung,Sâm,Tiến ba người

Ngô Cung Nhị giáp Quý Mùi xuất thân.

Huyện thừa Kim Bảng Ngô Sâm

Sinh đồ Ngô Tiến cũng dòng thi thư,

“Chó Làng Nứa sủa ra từ”

Đối “Gà Đồng Trữ gáy thành lời ca”.

Vốn dòng võ tướng trước kia

Gặp đất văn học nẩy ra văn tài.

Con trai Huyện thừa Tứ Kỳ

Sinh hai cháu nội Ngô Khuê, Ngô Cầu

Ngô Khuê Nhị giáp đỗ đầu ,

Nhập thi Bồi tụng Lê triều Thị lang,

Ngô Cầu Tam giáp xuất thân,

Tham chính Thanh Hoá sinh con hai người.

Cháu con tiếp nối nhiều đời

Có hai mươi mốt người rạng rỡ thanh danh.

Dòng dõi Ngô Tuấn, Ngô Chương

Gia Lâm Ngọc Thuỵ khói hương phụng thờ,

Con cháu một phái di cư

Thượng Thanh cùng huyện xóm là Thanh Am,

Trở về đất cũ Loa Thành

Có họ Ngô lớn đã lên nhiều đời

Gần đây mới gặp tìm coi

Phả ký không rõ chẳng hay dòng nào,

Làng Đình Bảng hai họ Ngô

Ngô Tảo đến trước,một thời đến sau.

Ứng Hoà xã Tảo Dương Văn

Thuỷ tổ Ngô Xuyến ở làng Tảo Khê

Tương truyền đến từ Thanh Hoa

Giáo sư, tTến sỹ một nhà nổi danh.

Bao Hàm Thái Thụy Thái Bình

Thuỷ tổ Ngô Tiệp tướng thần Lê sơ,

Hưng Công Bình Lục Nam Hà

Thuỷ tổ Ngô Quản vốn là Đồng Phang,

Họ Ngô Huy huyện Mỹ Văn

Thuỷ Tổ Ngô Hiển nghi dòng Bái Dương,

Xuân Lũng Phong Châu làng Dòng

Tên cũ đất ấy là vùng Lâm Thao

Thuỷ tổ Tiến Đức họ Ngô

Ba con cải Nguyễn nghiệp nho theo đòi,

Hồng Thuận Giáp Tuất đua tài

Nhị giáp,Hoàng giáp là người thứ ba,

Chánh Xuân,quan đến Thượng thư

Giữ chức Đoán sứ tước là Quận công

Gặp khi họ Mạc tiếm quyền

Bỏ quan về làng”bất sự nhị quân”.

Đến ngay nhà Lê trung hưng

Sắc phong ” Tiết nghĩa” nêu danh trung thần.

`

Xã Tô Hiệu thôn An Duyên

Hà Tây Thường Tín thất truyền từ lâu,

Thuỷ tổ là Ngô Phúc Châu

Tử trận mất tích biết đâu cội nguồn,

Mẹ con về độ An Duyên

Con Ngô Tri Trí, đã trên mười đời.

Ngô Phủ Lý từ Lê Khoai

Văn Bối quê mới,vốn người Thanh Hoa

Kim Bảng Nhật Tựu Nam Hà

Con cháu nối dõi đã qua mươi đời.

Đàng ngoài miền ngược miền xuôi

Còn nhiều cư trú các nơi chưa tường.

Lần vào giải đất đàng trong

Dưới thời nhà Lý được nhường ba châu

Thời Trần Ô,Lý thêm vào

Nhà Hồ từng đánh qua đèo Hải Vân,

Lê Sơ mở đạo Quảng Nam

Sang thời chúa Nguyễn lấn dần vào sâu

Mỗi di cư có họ Ngô

Hoặc là trấn giữ hoặc là sa cơ

Hoặc là trong đám tội đồ

Hoăc theo từng đợt di cư dần dần

Theo từng cảnh ngộ kể trên

Ai mà ghi chép trong cơn vội vàng

Về già dặn lại cháu con

Nhớ chăng mang máng quê hương đàng ngoài

Vậy nên phả ký nhiều nơi

Ghi chép lưu lại có đuôi thiếu đầu.

Qua lần khảo cứu đi sâu,

Tuy phát hiện nhiều, chưa xác minh ra

Trần, Hồ, mới thấy vài nhà

Lê sơ đã thấy năm ba tướng thần

Lê trung hưng được tăng nhanh

Đa phần theo chúa Nguyễn Hoàng vào nam,

Một phần theo việc chiến chinh

Chiêu dân lập ấp ở luôn không về

Cuộc sống phóng khoáng nhiều nghề

Người thưa đất rộng dễ bề sinh nhai

Đinh, tài phát triển thảnh thơi

Đất càng mở rộng lần dời vào Nam,

Từ Quảng Trị đến Thừa Thiên

Họ Ngô góp sức dựng nên xóm làng

Năm trăm năm mấy chặng đường

Phân chi chia nhánh đàng trong đàng ngoài,

Hàng trăm chi họ khắp nơi

Nay ta mới gặp được ngoài năm mươi.

Họ Nhĩ Thượng hai mươi đời

Từ bờ sông Nhị vào đây cuối Trần

Từ ngày công chúa Huyền Trân

Gả chồng được đất di dân dời vào.

Lần xem phả cũ chép sao

Thuỷ tổ dòng họ dời vào Gio Linh

Vào thời loạn lạc cuối Trần

Ngô Bệ thất bại, họ hàng trốn đi

Sáu trăm năm trở lại đây

Trai gái xum vầy có sáu ngàn hơn,

Ba Hà ,ba Nhị đặt tên

Khắc vào tâm khảm cố hương Nhị Hà.

An Mô Thạch Hãn một nhà

Là Ngô Hữu Phái gốc từ Đồng Phang

Con Ngô Khế Thanh Quốc công

Theo giúp Nguyễn Hoàng Ái Tử trú quân.

Đến Ái Tử được ba năm

Ngọc Lâm là cháu kể trên rõ ràng.

Quảng Trị có họ Thuận Nhơn

Dòng Ngô Văn Sở Gia Long tướng thần

Văn Sở vốn tướng Tây Sơn

Về hàng Nguyễn Ánh, hậu quân dưới cờ,

Làm trấn thủ ngoại Thanh Hoa

Tước Sở Ngọc Hầu quê cũ Đăng Xương.

Vài đời về ở Thuận Nhơn

Ngành cả Văn Thắng quê hương quay về

Quê hương gốc cũ trước kia

Thuộc phủ Gia Định nay là Tiền Giang

Thôn Cao, Trung Hải, Gio Linh

Mười tám thế hệ đông trên năm ngàn,

Ba ngàn con cháu vào Nam

Thuỷ tỏ Bá Triết rõ ràng là tên.

Cứ vào gia phả Đồng Phang

Có Ngô Đình Triết thuộc dòng Khắc Cung,

Ngô Đình Tú Ninh Quận công

Sinh Ngô Đình Triết thuộc hàng thứ hai

Cùng tên cùng họ cùng thời

Như “hợp phù tiết” trong ngoài khớp nhau.

Thừa Thiên Huế có Ngô Thù

Thượng tướng Lê Trịnh vào theo Nguyễn Hoàng

Tương truyền gốc cũ Đường Lâm

Qua Bột Hải quận vào lần đàng trong

Sinh ba Tiền hiền khai canh

Phú Bài, Lang Xá, Thuỷ Thanh ba làng,

Ngô Thù cầm đầu khai hoang

Cùng với Lê Trãi ,Nguyễn, Đường ba ông

Vỡ hoang vạn mẫu ruộng đồng

Khai mỏ, thuần tượng nạp dâng triều đình

Vốn là Đạo sỹ, nhà thiền

Chúa Nguyễn phong tặng sắc thần “Uy linh”.

Trung hưng Dực bảo Tôn thần

Khai canh Tiền hiền lại có Ngô Tôi.

Họ Phú Bài chia ba chi

Bá tử nhiều người, dòng dõi phồn xương.

Họ Thượng Giáp xã Thuỷ Hương

Thuỷ tổ Ngô Lực khai canh Tiền hiền

Vốn là tướng của Nguyễn Hoàng

Chưởng cơ Dinh chánh, tước phong Tài hầu

Là con thứ của Ngô Thù

Dân lập đền thờ Dực bảo Trung hưng

Bản thổ Tiền hiền khai canh

Viết Diêu, Lang Xá đã trên mười đời,

Cha con Thành Hoàng bốn nơi

Dòng dõi con cháu đến nay bốn ngàn.

Lê Xá Đông, họ Ngô Văn

Phú Bài phân dòng hơn vạn cháu con,

Ngô Văn Nguyệt sinh một dòng

Khai canh Dực bảo Trung hưng chi thần.

Thành Huế, Phú Cát Hữu Phường

Thuỷ tổ Ngô Hựu, Gia Long cận thần

Theo Chúa Phú Quốc Côn Lôn

Thổ Châu ,Vọng Các cầu tìm viện binh

Về nước trông coi việc hình

Xét án không đúng, mất quan một thời,

Lập công đái tội đền bồi

Đánh dẹp trong ngoài có đại chiến công,

Gia thăng Binh bộ Thị lang

Tam đẳng “Vọng Các Công thần” gia phong.

Họ Ngô Văn, làng Vạn Dương

Phường Xuân Phú Huế, ba ngàn cháu con,

Ngô Văn Xa, tổ khai canh

Vào theo chúa Nguyễn ở làng Võ Phan

Đời thứ sáu có ông Vàng

Huý Ngô Văn Tuế, chức ngang Tể thần,

Con gái có Ngô Thị Sum

Nạn đói năm Thìn, dốc thóc cứu dân,

Xuân Đài,Đồng Tháp,Vân Dương

Cứu bao nhân mạng qua cơn hiểm nghèo,

Hàm Nghi gặp bước cheo neo

Vàng mười cân giúp phong trào Cần vương,

Ngày nay đông đảo cháu con

Gồm có tám phái nằm trong hai nghành.

Làng Phổ Trạch xã Phong Bình

Họ Ngô thuỷ tổ tương truyền người Thanh

Ngô Ông Thông vốn Ngô Văn

Hai chi, bảy phái, bốn làng ở riêng,

Mỗi làng lót chữ tên làng

Ngô Phú, Ngô Quý, Ngô Thanh, Ngô Kỳ.

Chi thứ tám đã thiên cư

Về đất Quảng Lợi, Phong Lai, Phong Điền

Làng Phó Trạch có Thành hoàng

“Xử sỹ oanh liệt Tôn thần” họ Ngô

Thiếu tên huý, khó nhận ra

Phải chăng cư sỹ này là Thế Lân?

Bao La thuộc huyện Quảng Điền

Thuỷ tổ tương truyền xứ Bắc thiên cư

Ngô Văn Ngọ vào ở đây

Thế hệ mười bốn đến nay nối dòng

Lang Xá có Ngô Tá Trưng

Trấn đồn Quảng Trị, Anh Tông sai vào

Khai hoang đồng ruộng phì nhiêu

“Bột Hải khai khẩn”, đến sau phong thần

Lại phong Dực bảo Trung hưng

Tá Đàm, Tá Trạch, Tá Ưng, ba người

Đến nay vừa hai mốt đời

Bốn trăm năm lẻ đầu người bốn trăm.

Huyện Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam

Ngô Công Diêu vốn gốc làng Phú Hưng,

Thiên cư đến phường Trường An

Thuộc thành phố Huế đã trên mười đời,

Trong họ gần đây nhiều người

Nào là liệt sỹ,tù đày thực dân.

Ngô Lễ họ Bác Vọng Đông

Gốc từ Thanh Hoá cháu con ngàn người

Bột Hải quận Ngô Đại lang

Thuỷ tổ Ngô Tráng Trung hưng chi thần,

Làng Thủ Lệ huyện Quảng Điền

Cũng từ Thanh Hoá vào dần Phú Xuân,

Ngô Viết Thụ gốc Hạc Linh

Người huyện Đông Thành thuộc trấn Nghệ An

Gần hai mươi đời nối truyền

Phú Gia ,Lộc Tiến, Thừa Thiên đến giờ.

Ngô Thiên Triệu huyện Hương Trà

Minh Hương ,Hương Vĩnh Thanh Hoa lạc vào,

Chín đời xây dựng cơ đồ

Hai trăm con cháu phân ra ba ngành,

Ngành trưởng nay ở Phan Rang

Còn hai ngành thứ ở làng Minh Hưong.

Họ Ngô Phước thôn Vĩnh An

Gốc xã Vĩnh Cố Kỳ Anh thiên dời

Ngô Văn Diệp hai mốt đời

Nhân số chỉ bảy chục người mà thôi.

Phúc Tiến, Phúc Lộc hai chi,

Kỳ Anh quê cũ có khi ghi nhầm.

Lại xem trong tỉnh Thừa Thiên

Làng Hương Xá, xã Hương Văn Hương Trà

Một làng có hai họ Ngô

Chữ lót hai họ đều là chữ Văn,

Một Ngô Văn Côi Đại lang

Sinh Văn Uông với Văn Sanh hai người,

Nối dõi đã mười bảy đời

Ba trăm con cháu chưa hay gốc nguồn,

Họ thứ hai Ngô Tôn Công

Mười bốn đời sống ở làng Hương Văn,

Đời thứ tư chia hai ngành

Ngô Văn, Ngô Hữu cùng làng ở chung

Cội nguồn vẫn còn mông lung,

Biết là từ Ái,từ Hoan di vào.

Phụ An thuỷ tổ Văn Ngao

Con một vị nào thuộc huyện Tân An,

Tân An thuộc huyên Hoà Vang

Phụ An, Phúc Lộc, Vĩnh Hiền ngày nay

Phụ An cư trú mười đời

Bao năm tìm tòi biết gốc Tân An.

Đi vào qua đèo Hải Vân

Xưa là đât phủ Điện Bàn Quảng Nam,

Kế Xuyên tổ Ngô Văn Cang

Mông Lãnh Ngô Thiện đều dòng Trảo Nha,

Duy Xuyên Điện Bàn có ba

Anh em một nhà thuỷ tổ ba nơi

Điện Bàn một ,Duy Xuyên hai

Vừa là thuỷ tổ vừa thay Thành hoàng.

Duy Xuyên thêm họ Ngô Đình

Thanh Châu nghi vấn thuộc dòng Ngô Lan.

Quảng Ngãi có Ngô Khắc Tuân

Phổ Cường Đức Phổ đã trên mười đời

Bình Định Phù Mỹ một chi

Ngô Hân thuỷ tổ phân chi Thăng Bình,

Trường An Bình Tú Ngô Khương

Tồn nghi dòng dõi cội nguồn Trảo Nha.

Vào đến Phú Yên Tuy Hòa

Vĩnh Phúc rồi lại Vĩnh Ba hai dòng

Khánh Hòa, Phan Thiết, Phan Rang

Gia Định lục tỉnh trăm dòng họ Ngô,

Tuỳ theo tập quán mỗi nơi

Phả ít ghi chép nên nay khó lần

Lại thêm điều kiện giao thông

Xa xôi cách trở khó tìm đến nơi

Từ nay thuận lợi nhiều rồi

Nhiều người góp sức sẽ bồi bổ thêm.

Giở trang Phả ký trước đèn

Ái Châu phát tích thời Đường đến nay,

Tính đời trên dưới bốn mươi

Thế kỷ mà tính mười hai có thừa,

Ban đầu gốc chỉ một nhà

Ngày nay con cháu toả ra khắp miền

Vài trăm chi họ nối dòng

Hàng triệu nhân khẩu cũng trong họ này.

Trải qua bao cuộc đổi thay

Hiển vinh cũng lắm đắng cay cũng nhiều

Tuỳ thời tuỳ thế xoay chiều

Thời nào cũng nổi,thế nào cũng thông

Dầu cho thế sự thăng trầm

Trầm thì xoay chuyển,thăng đồng vùng lên

Thời nào cũng được nổi danh

Ở đâu cũng đáng đàn anh của người,

Đời nào cũng lắm anh tài

Ở đâu cũng đượcngười người kính thương.

Dân tộc năm vị Anh hùng

Họ Ngô hai vị vào hàng đầu tiên,

Triều Hậu Lê ba trăm năm

Trong trăm Công thần Dữ quốc đồng hưu

Họ Ngô tám,Ngô Từ đầu

Có một là nữ thuộc vào họ Ngô,

Nhị thập Bát tú triều Lê

Họ Ngô năm vị thật bề quang vinh,

Đại khoa các triều trên trăm

Công hầu bá tử có thêm bốn lần,

Dựng nước đánh Tống, đuổi Minh

Diệt Thanh đuổi Pháp nổi danh bao người,

Triều Nguyễn thi chọn nhân tài

Trên năm ngàn người thi trúng cử nhân

Họ Ngô có hơn một trăm

Thi Đình thi Hội ghi tên chín người.

Ngày nay cũng lắm nhân tài

Giáo sư, Tiến sĩ trong ngoài thành danh.

Đơn giản hai tiếng trời sinh

Xưa bảo”thiên tích thông minh ” ấy mà

Chữ “Thành”nguồn gốc sâu xa,

“Công dụng” đâu phải là do “Thánh phù”,

Phải chăng đất phúc trời cho

Phải chăng thời thế tạo ra anh tài?

Đất phúc là ý cảm hoài,

Tạo phần tin tưởng cho người hậu sinh

Thời thế có tính thời gian

Thời cơ dụng võ thúc mình vươn lên

Tự bên trong cái của mình

Là dòng huyết thống thường tình là Gen

Có huyết thống phải có tâm

Tâm thành bản lĩnh luyện rèn mới nên.

Họ Ngô đột khởi Ngô Vương

Thời Lý trỗi mạnh rạng danh muôn đời,

Trần ,Hồ lặng tiếng im hơi

Chống Minh vùng đậy nhiều người nổi danh,

Nhà Mạc tiếm vị dành quyền

Nam bắc hai miền chiến sự nổ ra

Anh tài nở rộ như hoa

Hoặc là bên Mạc, hoặc là bên Lê,

Trịnh, Nguyễn tranh chấp quyền uy

Trong ngoài hai phía trợ phù cả hai,

Tây Sơn nổi dậy một thời

Thì lại có người phò tá Tây Sơn,

Nhà Nguyễn thống nhất giang sơn

Đa phần lặng lẽ điền viên quy về

Dưới triều Nguyễn ít quan to

Thực dân xâm lược, nảy ra anh hào.

Xem ra thời loạn vươn cao

Thời bình xẹp xuống lẽ nào chẳng hay,

Phải chăng tiết tháo cao dày

Cứu dân cứu nước ra tay quên mình,

Thời bình địa vị, lợi danh

Xiểm nịnh, xu phụ tranh dành dưới trên,

Cương trực, thẳng thắn thiệt thân

Phong cách không hợp nên đành im hơi.

Đức hiền tại Mẫu nhớ lời

Họ Phùng, họ Lý cùng thời họ Dương.

Đi sâu phả hệ mới tường

Góp phần huyết thống thịnh vong mỗi đời,

Cha sinh, mẹ dưỡng ,công thầy

Anh tài nào phải là trời ban cho.

Đường đời còn lắm quanh co

Tu tâm dưỡng tính phải lo luyện rèn,

Rằng nhờ công đức tổ tiên

Mở đầu là” Đức lưu quang” đó mà,

Dòng dài lắng đọng phù sa

Giữa có tiếp “Đức” mới ra chữ “Thành”.

Uống nước xin hãy nhớ nguồn

Tu nhân tích đức báo đền ơn sâu.

Hà Nội 1998

Older Posts »

Chuyên mục

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu